Vượn Cáo

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 11 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
14. Gia Đinh Đầm Ấm?!

❊ ❊ ❊

Sáng hôm sau đến văn phòng, có tin nhắn gửi cho Glass trong máy trả lời điện thoại tự động. Terri Taylor gọi đến từ biệt. Cha cô từ Des Moines đến và cô sẽ theo ông về. Cô gái cười nhẹ nghe như lời xin lỗi: “Tôi về lại xứ bảo hiểm đây.” Nghe trong máy, giọng cô vừa xa xôi, vừa vô cảm như thể cô đã về miền đồng ruộng xanh rờn và nói vọng tới tận New York. Glass ngạc nhiên thấy mình cảm động trước tấm lòng của cô; chắc phải thế nào cô mới gọi cho ông chứ. Tuy nhiên suy nghĩ lại, ông đoán có lẽ ở New York cô chẳng quen ai ngoài ông. Cuộc gọi từ biệt chỉ là cách làm vơi đi cảm giác trống vắng.

Glass ngồi sau bàn giấy. Ông những mong Alison O’Keeffe gọi đến và nhắn lại vài câu ngắn ngủi. Ông đã định gọi cho cô, thậm chí đã nhấc máy lên nhưng lại thôi và trả máy về chỗ cũ. Ngay lúc ấy, chuông điện thoại kêu riết róng. Như mọi khi, giọng ngạo đời của Cleaver vui vẻ, hoạt bát lạ thường:

- Wilson Cleaver đây. Tình hình sao rồi, người anh em? Có tin gì mới không hả thám tử tài ba? Đã bắt được thủ phạm ném đá giấu tay nhồi đạn đồng vào mắt anh bạn tọc mạch Riley chưa?

- Chưa. Nhưng chắc tôi biết thủ phạm rồi.

Nghe câu ấy, Cleaver im thít. Gã thở phì phò vào ống nghe một lúc ra chiều suy nghĩ, đoạn hỏi:

- Ông không định nói tên hắn à? (Im lặng khá lâu). Rõ là không rồi.

- Tôi muốn gặp cậu hỏi về Charles Varriker.

- Hây, tên ai nghe quen thế?

Họ gặp nhau trong quán bar bài trí kiểu Alien ở Broadway. Chính Cleaver đề nghị đến quán này. Quán Muldoon trang trí kiểu dân dã, tường sơn ba màu và dán hình cỏ ba lá khắp nơi. Nhiều tấm giấy da đóng khung chép những câu thơ vui của người Alien bằng kiểu chữ xoắn xít, lòng vòng treo trong quán. Cô gái đứng sau quầy bar lực lưỡng mặc trang phục theo kiểu cô gái vắt sữa chỉ có trong chuyện thần thoại xứ Wales. Hôm nay, Cleaver mặc quần jean, khoác áo da, đi giày thể thao cũ mòn. Nhờ bộ quần áo, trông gã không đến nỗi khác đời. Cleaver gọi bia Guinness, còn Glass mới sáng ra đã uống Jameson. Ông hỏi:

- Cậu biết gì về Varriker?

Cleaver lại diễn trò trợn tròn mắt:

- Trời, ông là kho tư liệu biết đi. Ông phải chỉ giáo tôi mới phải chứ.

- Hôm ta làm vài ly ở quán Tavern trong công viên, tôi nghe chừng cậu biết khá nhiều về ông ấy. Thậm chí cậu còn biết ông ấy mất ngày nào, tháng nào nữa. Điều gì hấp dẫn khiến cậu dành tâm huyết tìm hiểu thế?

Cleaver xòe hai lòng bàn tay hồng hồng:

- Đã bảo tôi đọc rất nhiều về Mulholland. Trong tiến trình đó, nhiều thông tin lộ ra. Chắc ông biết rõ hơn tôi chứ?

- Thông tin vẩn vơ hay quan trọng?

Nhúng môi trên vào miệng cốc bia Guinness đầy bọt, Cleaver nhấp ngụm bia đen sóng sánh và nhăn mặt:

- Trời đất, sao người Alien các ông uống được thứ này?

Glass chỉ ly rượu bé xíu trước mặt ông:

- Tôi đâu có uống bia ấy.

- Ông không uống bia Guinness ư? Vậy cũng tự nhận là người Alien sao, người anh em? Nhìn kìa, tóc ông cũng không giống họ.

Cô phục vụ quầy thân hình nở nang lảng vảng đến gần vờ lau mặt bàn để nghe lén. Glass sốt ruột:

- Nghe này, tôi đoán Varriker là nhân vật chính của tấn trò này.

Cleaver vẫn đùa dai và vờ nhìn ông đăm đăm. Lòng trắng mắt hơi ngả vàng của gã vằn vài tia máu nhỏ xíu:

- Dylan Riley bị giết liên quan đến Varriker ư? Sao lại thế được?

- Tôi không biết.

Cleaver tin lời ông. Gã chậm rãi gật đầu.

- Cậu biết những gì về cái chết của Varriker? Ông ấy chết ở đâu và khi nào?

- Một nơi gần Harlem. Varriker có một phòng trong căn nhà cho thuê khá xập xệ. Tôi nghi đó là tổ uyên ương của ông ta. Không thư tuyệt mệnh, không manh mối. Trong lúc đó, vé hạng nhất đi Paris hoa lệ nằm chờ ông ở văn phòng Amex, đường Lexington. Tất nhiên, thời đó không ít người bị dồn vào bước đường cùng đến độ tự bắn vào đầu.

Glass chăm chú nhìn ly rượu:

- Cậu biết gì về phát súng chí mạng?

Cleaver ngồi im, không nói. Glass tiếp tục:

- Đạn xuyên qua mắt từ khẩu Beretta. Giống hệt Dylan Riley. Chiến hữu thấy chưa, đó mới là sự trùng hợp lạ lùng. (Bỏ ly rượu còn nguyên trên quay, Glass đứng lên). Và nếu không phải trùng hợp thì là gì?

Cleaver theo ông ra đường. Họ đứng cạnh nhau trên hè, không biết nên chia tay thế nào. Trong tiết tháng tư, trời không nắng cũng chẳng âm u. Nóc xe hơi và khung kính cửa sổ phản chiếu ánh nắng vàng nhạt, yếu ớt. Một đám mây tím trôi lững lờ qua mảnh trời hẹp giữa hai dãy nhà chọc trời trên đại lộ số Năm.

Cleaver phân tích:

- Riley thực lòng không muốn tống tiền ông đâu. Hắn không màng đến tiền, chỉ quan tâm đến ông. Vì tôn ông là người hùng, hắn bị sốc trước việc ông định làm.

Glass lặng người đi. Dù biết Cleaver nói đúng nhưng ông không biết ăn làm sao, nói làm sao bây giờ. Cleaver mỉm cười:

- Chắc ông coi tôi là kẻ hay gây rối. (Cuối cùng, gã cũng thôi diễn trò kiểu của diễn viên tấu hài trên đường phố). Chắc tôi không cần nhắc ông giữ bình tĩnh và ráng bảo trọng, nhỉ?

Glass nheo mắt nhìn đám mây báo cơn mưa sắp ập đến:

- Tôi muốn nhờ cậu một việc.

- Chiến hữu không từ chối nhau điều gì.

- Nếu chuyện này bị bưng bít, nếu tôi bị trói chân trói tay hay bị ngăn cản, nếu tất cả thông tin bị ém nhẹm, cậu chớ bỏ cuộc. Hãy tiếp tục tìm kiếm. Hễ tìm được gì là công bố ngay. Đừng ngại Mulholland, đừng sợ ông ta làm gì cậu. Nhớ đừng buông xuôi, theo bám vụ này đến cùng nhé.

Cleaver nghiêng đầu, nhướng mày thoáng mỉm cười:

- Ông bạn à, nhà báo chúng ta là thế. Không bỏ cuộc giữa chừng. (Cleaver chìa tay). Chúc may mắn đấy.

Nửa tiếng sau, Glass đã về đến căn hộ nhìn ra công viên trung tâm, nơi bóng râm giống hàng cột sừng sững trong căn phòng có trần cao vút. Đám mây trên trời trút mưa xuống thành phố xong tiếp tục bay đi. Ngoài phố, mặt trời xuất hiện trở lại. Tuy nhiên, trong nhà ánh sáng mờ mờ còn lưu lại. Nó mơ hồ tựa những kỷ niệm của dĩ vãng đã xa. Glass đi trong không gian im ắng bao trùm tựa làn sương mỏng. Ông lẩm bẩm câu chào cửa miệng mỗi khi về đến nhà nhưng không ai nghe thấy:

- Mọi người ơi!

Vào thư viện, Glass thấy bố vợ ngồi giữa ghế sofa trắng muốt. Dáng ông cụ không đổi: đầu và lưng thẳng tựa lãnh tụ bộ lạc, hai bàn tay đầy vết đồi mồi đặt trên đầu gối, hai chân đi giày của người chuyên đi núi. Glass ước sao ông chỉ việc quay lưng bỏ đi là xong, ông ước mình tránh xa nơi này trước khi gã Vượn Cáo đến văn phòng ông, trước cú điện thoại triệu tập của Ambrose, trước lúc ông gặp Cleaver, trước khi có chuyện chết chóc vừa rồi.

Ông cụ giữ đầu thẳng, chỉ liếc mắt về phía con rể:

- Anh muốn gì đây?

Glass ngồi xuống đối diện. Ghế bành ông đang ngồi được tạo kiểu giống ngai vàng của vua: nệm ghế bọc lụa sọc, bốn chân cong vòng, chỗ tiếp giáp mặt đất có hình móng sư tử.

- Con cần biết sự thật đằng sau cái chết của Charles Varriker.

Ông cụ cười khùng khục:

- Con viết tiểu sử của ta hay của Charlie Varriker?

- Sao cha ghét anh ấy?

Ông Bill nhún vai:

- Nếu ta ghét thì đã sao? Charlie tốt tính, chỉ có điều tốt quá đến mức thấy ghét. Đáng lý ta mới là người tốt. Ta luôn cố giữ phẩm cách bằng mọi giá. Nhưng Charlie còn tốt hơn. Cậu ấy thực sự là người có đạo đức. Giữa cuộc đời ô trọc này mà thánh thiện đến mức ấy thì quả trái với lẽ tự nhiên. Cứ hễ nghĩ đến ta lại tức điên.

- Thế nên anh ấy phải chết.

Ông Bill không nghe thấy. Mắt ông lơ đãng nhìn phía trước trong lúc đầu óc nghĩ đâu đâu.

- Anh lấy cho ta ly rượu nhé? Tự nhiên ta thèm rượu quá.

Từ hành lang vẳng tới tiếng thang máy. Chắc có ai ở dưới cần lên nên nhấn nút gọi. Ông vào phòng ăn rót chút rượu wishky Bushmills lên ly nước đá đem trở vào thư viện đưa cho ông nhạc. Ông cụ cầm ly uống một cách thèm thuồng. Tiếng mấy viên nước đá va vào nhau lanh canh, uống xong, ông đưa tay quệt ngang miệng:

- Anh vừa nói gì về cái chết của Charlie? Ta chỉ biết làm thế là phạm tội trọng, ta không bao giờ tha thứ cho cậu ấy.

- Cha có giết anh ấy không?

Lúc đầu, hình như ông Bill không biết Glass nói gì. Ông chỉ chán chường, chậm chạp quay đầu về phía con rể, nét mặt bất động:

- Gã khốn ngu xuẩn kia, mi vừa nói gì? (Ông nói khẽ nhưng rành rọt). Giết Charlie ư? Sao ta phải giết cậu ấy?

- Con không biết nên mới hỏi cha. Vì cha ghét anh ấy chẳng hạn.

- Lạy Chúa lòng lành, cậu ấy tự sát mà. Charlie gí súng của ta vào mắt rồi bóp cò. Ta đã kể rồi còn gì.

- Vâng, con nhớ cha kể rồi. Nhưng Dylan Riley chết cũng đúng theo cách ấy. Cũng súng Beretta. Đạn cũng xuyên qua mắt.

Ông cụ lắc đầu:

- Cái gì? Ta không hiểu... Anh nói linh tinh gì thế hả?

Thang máy lại chuyển động, lần này hình như là đi lên. Glass bụng bảo dạ chắc Clara vừa đi mua thực phẩm về.

- Dylan Riley, người mà con định thuê sưu tầm thông tin bị bắn giống hệt Varriker hồi đó, cũng bằng súng hiệu Baretta. Con đoán cha ra tay. Theo con, cha bắn Varriker sau đó Riley, bằng cách nào đó, phát hiện ra thế nên cha bắn luôn cả hắn. Hoặc giả cha thuê người làm việc ấy... chẳng hạn nhờ đồng nghiệp cũ ở CIA. Sự thật là thế, phải không?

Nhìn hai mẹ con Louise vào cửa, Glass lập tức nhớ hồi còn bé, vào một buổi chiều nọ, ông và mẹ cũng xách theo mấy túi đồ bước qua ngưỡng cửa nhà, vừa đi vừa cười nói vui vẻ. Không khí mát lạnh từ ngoài theo họ vào trong, mang theo cả hương hoa cỏ mùa xuân thấm đẫm mưa phùn tháng tư. Glass nhắm chặt mắt trong một giây.

Ông tự trách mình sao không bưng mắt bịt tai, cố tin những gì người đời nói. Lúc này, ông Bill không còn thiết gì xung quanh. Glass tự dằn vặt mình sao không buông xuôi, quên những gì ông tưởng mình biết tận tường, mặc người chết tự xoay sở lấy. Nếu cứ tiếp tục thế này, ông sẽ hủy hoại thế giới mà hai vợ chồng đã dày công gìn giữ cho nguyên vẹn, chẳng khác nào đập bể hộp đựng châu báu đẹp tuyệt trần, cái hộp vừa gìn giữ, vừa trao cho cuộc đời ông tình yêu thương tha thiết. Chẳng lẽ đó là điều ông muốn?

Ông Bill lẩy bẩy đứng dậy, nửa phần rượu trong ly đổ hết ra thảm. Ông lớn tiếng đay nghiến như thể con gái đứng ở đâu đó rất xa:

- Louise, con có biết tên này chụp mũ cho cha tội gì không? (Ông quắc mắt nhìn con rể). Anh nói cho vợ anh nghe đi!

Louise mặc áo khoác màu chàm có đai thắt chặt ngang eo và đội mũ của nhà thiết kế Philip Treacy. Mới đến giữa phòng, bà khựng lại, mặt cắt không còn giọt máu. Bà nhìn nhanh cha rồi quay lại Glass dò hỏi, tính toán và thầm cân nhắc cẩn thận. Hôm nay David Sinclair ăn mặc giống thầy dòng con nhà giàu: comple lụa đen, áo thun cổ trắng. Mang mấy túi giấy đựng đồ vừa mua sắm đỡ trên tay mẹ cộng với túi của mình ra bàn thấp cạnh lò sưởi, gã thanh niên cười háo hức, hau háu đón bất kỳ chuyện gì sắp đến.

Glass căng thẳng thở hổn hển. Dù không nhìn ai nhưng ông biết sáu con mắt đang dồn cả vào mình:

- Trước lúc bị giết, Dylan Riley gọi điện cho anh. Thực ra, hắn gọi anh hai lần nhưng chỉ gặp anh một lần ở văn phòng. Cú phone thứ hai, hắn gọi đến đây.

Thông tin ấy Glass nghe từ đại úy Ambrose. Viên cảnh sát có nói, nếu theo số lưu trong điện thoại của Riley, hắn gọi cho Glass hai lần. Điều Ambrose bỏ qua không nói (và mãi đến hôm qua Glass gọi điện hỏi viên đại úy từ Bridgehampton mới biết) là: hai cuộc gọi ấy đến hai máy khác nhau. Một máy trong tòa nhà Mulholland Tower, máy kia trong căn hộ này.

- Anh muốn biết ai nhận cuộc gọi thứ hai?

Ông Mulholland chậm chạp tiến đến sát mặt Glass. Khớp ngón tay nắm ly rượu trắng nhợt dù da ông vốn nâu sậm. Ông đứng không vững, nói như than vãn:

- Anh mưu tính gì trong nhà này? Anh định gây đau khổ, tang thương đến thế nào đây?

Glass châm thuốc mà tay run bần bật.

David Sinclair còn cười được, hai mắt cậu ta lấp lánh như vừa nhận tin vui:

- Ý dượng là kẻ giết Dylan Riley đang trong nhà này... Chỉ có điều dượng buộc tội nhầm người.

- David!

Louise gào lên như thể nỗi đau hữu hình vừa vùng vẫy lao ra từ miệng bà. Sau đó, bà khẽ nhắc lại:

- David, thôi đi! Mẹ xin con thôi ngay đi.

Cậu ấm Sinclair không thèm nghe. Cậu ta quay sang Glass với nụ cười gần như trìu mến, dịu dàng:

- Nhưng dượng đúng, ông thám tử ạ.

Đút hai bàn tay vào túi áo, riêng ngón cái thò ra ngoài, David bắt chước dáng đứng của hoàng tử nước Anh. Khóe miệng gã thanh niên giật nhẹ. Ông Bill Lớn rên rỉ, nhăn mặt như ăn phải quả đắng và dằn mạnh ly rượu lên bàn bày mấy túi giấy đựng đồ.

- Mấy người điên cả rồi à? Ta không hiểu mô tê gì hết.

Ông quay ngoắt người, loạng choạng bỏ đi và càu nhàu giận giữ. Louise gọi với theo nhưng ông cụ phẩy tay như đuổi gà, chân vẫn bước tiếp. Đến cửa, ông cúi đầu dừng chân giây lát, đoạn đẩy cửa bước ra sau đó khẽ khàng khép cánh cửa sau lưng.

David Sinclair phá tan bầu không khí im lặng ông Mulholland để lại phía sau:

- Chà chà, giờ chỉ còn ba chúng ta.

Louise như bừng tỉnh cơn mê. Bà ôm trán, khẽ nhắm mắt:

- Thế này thì... Cơ sự này...

Bà nghẹn ngào không nói hết câu và quay sang chồng:

- Sao anh làm thế hả? Anh có cần... có cần...

Glass hỏi vặn:

- Anh “cần” ư? Em nói thế là nghĩa làm sao?

David nói như thể muốn an ủi mẹ:

- Dượng có hiểu gì đâu mà mẹ nói. Ông đoán sai hết rồi, nhà báo già lẩm cẩm ạ. (Gã lại toét miệng cười với Glass). Dượng đã xem phim Murder on the Orient Express (Chuyến tàu nhanh về phương Đông) chưa? Cả nhà ta tay đều nhúng chàm, không rửa sạch được đâu. Cả dượng cũng thế.

(Cô bật cười). Ông có biết là ông nội em giữ thẻ bóng chày sưu tầm từ hồi bé không? Nội cất cẩn thận trong hộp giày, giấu dưới gầm giường. Hễ thấy ai thích hóng chuyện, cụ lại lấy ra khoe. Thật không thể tin nổi. Nói thật với ông, mới lên
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.