Glass còn không biết gọi nó là gì: sở cảnh sát, đồn công an hay trạm công an khu vực? Nơi này giống hệt người ta mô tả trên phim. Ông được dẫn qua căn phòng rộng có trần thấp tè và ồn ào không thể tả. Chỗ này là bàn giấy kê thành nhiều dãy, chỗ kia được chia thành nhiều ngăn riêng nhỏ bừa bộn giấy tờ. Trong phòng có rất nhiều người mặc áo sơmi dài tay, vài người mặc sắc phục, vài người mặc thường phục, một tay cầm giấy tờ tay kia là ly giấy đựng đồ uống. Kẻ hối hả, cắm đầu đi vội vã, người đỏ mặt la lối om sòm. Giá được thấy căn phòng này từ trên cao, Glass sẽ tha hồ ngắm người ta đi lại như con thoi hệt như hoạt cảnh trong một phim âm nhạc lừng danh của Busby Berkeley. Ở đây, hễ người nào không mệt mỏi thì y rằng đang nổi nóng. Riêng cánh phụ nữ hầu như đều tẩy tóc thành bạch kim, mắt lờ đờ, di chuyển chậm chạp như thể đêm phải thức trắng. Mà có thể đúng thế thật vì mọi phụ nữ New York có việc làm mà Glass từng biết đều phải nuôi con một mình vì hoặc đã ly hôn, hoặc bị bỏ rơi. Không hiểu sao căn phòng rộng mênh mông này có nét rất giống nhiều cảnh trong các phim hình sự. Phải một đến hai phút sau, Glass mới vỡ lẽ: nó giống hệt một tòa soạn báo.
Khuôn mặt đại úy Ambrose có nhiều nét giống kẻ tử vì đạo trong tranh của đại danh họa El Greco. Cặp mắt nâu u uẩn của ông ấy rất sâu, sống mũi giống lưỡi rìu vừa được mài sắc. Ông cao và hốc hác, có làn da bánh mật nhẵn nhụi hầu như không có lông. Glass đoán ông gốc da đỏ, có thể thuộc bộ tộc Navajo hoặc Hopi. Tuy nhiên, ông nói giọng New York đặc sệt - giọng mũi và kéo dài nguyên âm. Hôm nay, ông ấy mặc bộ vest màu nâu sậm giống màu mắt của mình, áo sơmi trắng, đeo cà vạt trắng và đi giày đen có đường viền xung quanh. Ông dẫn Glass đến bên bàn làm việc cựa kỳ ngăn nắp, gọn gàng. Ông phân chia giấy tờ thành nhiều chương mục, sau đó xếp thành chồng vuông vức. Còn nữa, bút mực xếp theo kích cỡ và màu sắc, bút chì đều chuốt cẩn thận. Trên tường có hai tấm hình lồng khung cẩn thận: một hình tổng thống Mỹ, hình kia là Giáo hoàng John Paul II.
Viên cảnh sát mào đầu:
- Ông Glass, mời ông ngồi. Cảm ơn ông đã đến.
Một phụ nữ vóc người đậm đà, chân tóc đen lộ ra dưới mái tóc nhuộm vàng như rơm khô không buồn gõ cửa tự động bước vào, đặt một thếp giấy lên bàn:
- Chị Rhoda này, cho hai gã đàn ông đang khát khô cổ một ly cà phê, được không?
Chị ta liếc xéo Ambrose:
- Máy pha cà phê hỏng. Walensky lại giận quá mất khôn, đấm bể nó giống lần trước nữa rồi.
Rhoda quảy quả đi ra. Tấm kính cửa rung bần bật phía sau chị.
- Sao anh biết số điện thoại của tôi?
Ambrose với lấy mấy tờ giấy Rhoda vừa mang vào, gõ gõ lên thành bàn:
- Chúng tôi có rà soát danh sách các cuộc gọi của Riley. Lần cuối ông nói chuyện với hắn là khi nào?
- Sáng nay. Lúc mười giờ bốn bảy.
Ambrose nhướng mày vẻ ngạc nhiên. Glass giải thích ngay:
- Lúc ấy, tôi tình cờ nhìn đồng hồ.
- Ra vậy. Nếu mọi nhân chứng đều nhớ chính xác được như thế thì tốt quá.
Nghe từ “nhân chứng”, Glass thấy như có luồng điện chạy dọc sống lưng mình. Ông cảm tưởng sáu tháng đau đầu liên miên, xây xẩm mặt mày sống giữa một New York ồn ào đinh tai nhức óc đã dẫn ông đến kết cục này đây. Ông chịu đựng tất cả chỉ để hôm nay ngồi trong đồn cảnh sát, miệng đắng nghét, bụng buồn nôn, sống lưng lạnh buốt và máu đang dần đông lại trong huyết quản. Chuyện xảy đến vừa bình thường lại vừa quái dị, vừa không thể tránh khỏi lại vừa gợi cảm giác bấp bênh, mờ hồ hệt như trong một giấc mơ vậy. Glass lắp bắp:
- Đầu đuôi chuyện thế nào? Sao anh lại...
Hay bàn tay đan vào nhau đặt trên bàn, Ambrose hơi nhoài người tới trước. Trông ông ấy càng giống hình trong tranh thánh:
- Người yêu của nạn nhân gọi cho chúng tôi. Vừa đi xa về, cô ta phát hiện thi thể Riley còn ấm và gọi đến đây.
Glass không tưởng tượng nổi Dylan Riley có người yêu. Loại người nào yêu nổi hắn chứ? Ambrose nói tiếp:
- Thường thì vào thời điểm đó, chúng tôi biết được rất nhiều điều qua nhân chứng. Cô ta không phải hung thủ. Chúng tôi đã kiểm tra: lúc xảy ra án mạng, cô ta đang ở Pennsylvania. Cô còn nói hung thủ có trộm đồ. Hình như hắn mang đi ba chiếc máy tính.
- Nếu vậy một người không làm nổi.
- Sao ông nghĩ thế?
- Mang xách nhiều thế cần hai người trở lên.
Viên cảnh sát nhìn ông thương hại:
- Máy tính thời nay nhẹ lắm thưa ông. Vì thế người ta “xách tay” được.
Ambrose chụm tay trên bàn, đẩy ghế có bánh xe ra sau và đứng đậy. Phải nói trên đời ít người cao bằng ông:
- Ông Glass này, chắc tôi phải có chút cà phê vào người mới xong. Ông có muốn uống gì không? Chỉ cần sang quán bên kia đường thôi, tiện lắm.
Hai người họ đi trong không gian tràn ngập nắng nhưng lạnh buốt, len qua đám đông của giờ cao điểm lúc cuối chiều. Viên đại úy lưng hơi gù, dáng đi nhún nhảy, hai cánh tay khuynh khuỳnh và đầu hơi nghiêng sang một bên, có lẽ giống tổ tiên người da đỏ xưa nhớn nhác nghe tiếng vó ngựa da trắng tiến đến gần. Trót vào sâu trong quán, Glass mới nhớ cơn thèm thuốc. Lúc này muốn ông bình tĩnh chỉ có khói thuốc, tuy nhiên tác dụng không được là bao.
Quán đông nghịt. Trong lúc chờ bàn trống, Ambrose vừa xóc mấy đồng xu trong túi quần vừa từ tốn thuật lại hoàn cảnh lúc Riley bị giết. Mấy khách hàng cũng đợi bàn đứng gần nghe thấy hết nhưng chẳng ai chú ý. Rõ ràng, khu dân cư quanh đồn cảnh sát không coi án mạng là chuyện lạ. Ambrose kể:
- Tên sát nhân có vẻ khá thành thạo. Một viên đạn cỡ nhỏ xuyên qua mắt trái. Theo phỏng đoán của chúng tôi, hình như hắn dùng súng ngắn hiệu Beretta. Sau đó, hắn xóa dấu vết, lôi nạn nhân lên giường chuẩn bị sẵn sàng để nhân viên nhà xác tiện xử lý. Tuy nhiên, Riley bị bắn gục bên bàn làm việc.
- Sao anh biết?
Một lần nữa, viên đại úy lại nhìn ông thương hại:
- Có vết máu trên ghế. Đúng theo sách sinh học phổ thông: “Tử thần luôn để lại dấu vết”.
Cô hầu bàn mặc tạp dề bằng vải bông kẻ, nhai kẹo cao su trèo trẹo đưa họ đến một bàn trong góc phòng. Nếu lỡ chạm tay vào, họ sẽ thấy mặt bàn dinh dính. Cơn thèm thuốc của Glass dâng cao.
- Ông Glass người Alien phải không ạ? Ông đến New York bao lâu rồi?
- Từ tháng mười một năm ngoái.
Cô phục bàn khi nãy mang cà phê đến.
- Ông có muốn định cư lâu dài không?
- Chắc phải vậy thôi. Vợ tôi người Mỹ mà.
Viên đại úy gật gù. Glass hiểu Ambrose không chỉ biết mỗi chuyện vợ ông là người Mỹ.
- Bố vợ tôi ủy thác cho tôi viết tiểu sử của ông cụ. (Nghe chẳng ấn tượng gì cả). Ông ấy là William Mulholland.
Ambrose lại gật đầu, chăm chú nhìn xuống bàn tay đang bỏ đường vào tách cà phê. Glass trầm ngâm cố tìm cách thanh minh việc mình không làm với một người thẩm vấn đã thông tỏ mọi việc nhưng vẫn đăm chiêu và không hề biểu lộ cảm xúc nào.
Viên cảnh sát bất ngờ bộc bạch:
- Hồi trước, tôi ước thành thầy tu dòng Tên và đã đi tu.
Glass sững người. Ông tuyệt vọng như con cá vàng trong bát nước đục ngầu. Ambrose định dùng tuyệt chiêu thẩm vấn gì đây?
- Tôi ở nhà thờ Thánh Peter ở New Jersey. Ông biết New Jersey chứ? Chắc không đâu. Hồi nhỏ ông có học trường dòng không?
- Ở Alien, tôi học đại học trong giáo khu. Tình cờ chỗ tôi cũng mang tên Thánh Peter. Tuy nhiên sau đó người ta không tín nhiệm trường nữa.
- Vì giáo sĩ đồng tính lạm dụng tình dục trẻ em chứ gì? Tôi biết. Chỗ tôi cũng vậy. Nhưng hồi ấy chẳng ai quan tâm cả. Bọn trẻ, tức là tụi tôi hồi đó, không dám nói. Vả lại có nói cũng chẳng ai nghe. (Ambrose buồn bã lắc đầu). Nghĩ mà sợ.
- Thực ra ngày ấy chưa thể gọi là xa.
- Đúng vậy.
Ambrose chậm chạp khuấy tách cà phê. Trông ông ấy giống hệt một nhân vật trong chuyện Alice in Wonderland (Alice ở xứ sở thần tiên), tuy nhiên Glass không nhớ nhân vật nào? Con lười chăng? Hay con sâu bướm? Thế rồi cuối cùng, thắc mắc chính cũng được đem ra bàn:
- Ông Glass, xin ông cho biết mối quan hệ của ông với Dylan Riley.
Glass hồi hộp:
- Quan hệ gì cơ?
- Thì ông là thế nào với hắn, hắn là thế nào với ông. (Ambrose cau mày nhìn tách cà phê, như thể câu trả lời sắp từ dưới lớp bọt trồi lên). Hắn gọi điện cho ông làm gì thế?
- Tôi đã nói rồi. Tôi đang viết tiểu sử ông Mulholland.
- À, viết tiểu sử, phải rồi.
- Dylan Riley có thể được coi là... Nhà nghiên cứu. Tôi thuê anh ta, hay nói đúng hơn là định thuê anh ta làm cho tôi, giúp tôi trong việc viết sách này.
Viên cảnh sát lặp lại:
- Phải, tôi cũng nghĩ thế.
Sau đó là quãng im lặng dài.
John Glass nhiều lần khiếp sợ. Có lần trên máy bay hướng tới Lebanon, ông lơ lửng giữa trời, ngay phía dưới tên lửa của Israel. Ông tưởng thân xác mình sắp tan thành triệu mảnh. Lúc ấy, nỗi sợ khiến ông hèn kém đi, đến độ ông không bao giờ quên và tự tha thứ cho mình. Nói đúng ra, ngay lúc này ông không thấy sợ. Tuy miệng cũng khô đắng, nhưng trong sâu thẳm tâm hồn ông là nỗi phấn kích, không phải lo lắng. Thật lạ là ông đang hồi hộp và thích thú vì được trà trộn vào số nghi can của một vụ giết người, vì được ngồi đây nghe viên cảnh sát đặc biệt này đặt câu hỏi với mình, và vì sau bao tháng dài ông có thể nói rằng đã chính thức đến với New York, một thành phố náo động, đầy bạo lực và án mạng. Ông nhớ lại câu đại thi hào Emerson từng nói về cái chết và suy nghĩ của con người về nó: “Ít nhất đó cũng là một hiện thực không lẩn tránh chúng ta”.
Glass nhấp ngụm cà phê đắng nghét:
- Cái tên Dylan Riley này, hắn sống ở đâu thế?
- Ở gần sông SoHo. Hắn có kho chứa hàng ở Vandam tích trữ đủ loại thiết bị theo dõi. Ông còn nhớ nhân vật Gene Hackman trong phim The Conversation (Cuộc Đàm Thoại) không? Tôi ngờ rằng tay này nghiện phim loại ấy.
- Nghe nói hắn rất giỏi nghề.
- Thật ư? Ông nghe ai nói?
Lập tức Glass co lại, như sờ phải con ốc sên:
- Vài người. Toàn nhà báo cả. Nhờ thế tôi mới biết tên hắn.
Viên đại úy rút chiếc bật lửa làm bằng hợp kim mân mê trong tay. A, tay này cũng nghiện thuốc. Thốt nhiên, ông nhận thấy tâm hồn ấm áp tình bằng hữu dành cho anh chàng ốm o, người cao lòng khòng và nét mặt trông giống một vị thánh đang ngồi trước mặt. Thấy Glass dán mắt vào chiếc bật lửa, Ambrose cười:
- Tôi bỏ thuốc sáu tháng rồi. Cũng bằng thời gian ông đến với thành phố kỳ diệu này.
Ông ấy nhích người, ngồi nghiêng sang một bên cho cặp chân được thoải mái hơn một chút. Máy pha cà phê bằng hơi sau quay bar kêu phì phì như nồi hơi trong nhà máy khiến ông phải cao giọng cho Glass nghe thấy:
- Phải có lý do cụ thể, hung thủ mới giết Dylan Riley. Khổ nỗi tôi không biết lý do ấy là gì. Ông bảo nạn nhân là nhà nghiên cứu nhưng những gì chúng tôi tìm thấy trong kho nhà hắn cho thấy việc của hắn không phải chỉ là nghiên cứu đơn thuần, hoặc có thể hắn đang khao khát vượt qua khuôn khổ của nghề “nghiên cứu”. (Ambrose cầm tách cà phê cạn tới đáy tiếc nuối ngắm nghía như thể từ nay ông ta không bao giờ được uống cà phê nữa). Hắn biết rất nhiều bí mật, toàn thứ vì chúng hắn có thể mất mạng bất cứ lúc nào.
Lại im lặng thật lâu. Viên đại úy nhìn xuống, trông như thể đang ngẫm nghĩ về những tai ương loài người đang phải đối mặt.
Glass cân nhắc từng từ:
- Đại úy này, chắc tôi không giúp anh được đâu. Dù xét theo khía cạnh hoặc tầm mức nào, tôi đều không quen biết Dylan Riley.
Hai mí mắt màu ô liu lật lên. Cặp mắt nâu sáng và ươn ướt chiếu thẳng vào Glass:
- Nhưng ông có gặp hắn.
Đó không phải câu hỏi.
- Đúng rồi. Tôi... à, hắn có đến văn phòng tôi cùng bàn xem liệu hắn có cùng tôi viết sách được không. Chúng tôi chưa thỏa thuận gì hết.
Viên đại úy vẫn nhìn ông chằm chằm:
- Giả sử có “thỏa thuận”, ông muốn hắn tìm thông tin loại nào?
Mọi đầu dây thần kinh của Glass kêu gào đòi thuốc lá:
- Chỉ... thông tin chung chung, chẳng hạn thời gian, địa điểm và những người từng gặp gỡ Mulholland. Đại khái thế.
Viên đại úy mở nắp bật lửa nhưng lửa không cháy. Ngửi mùi gas thoát ra từ lỗ nhỏ như đầu kim khiến cơn thèm thuốc của Glass lên đến cực điểm. Viên đại úy thong thả nói:
- Ngài Mulholland là nhân vật xuất chúng, vì thế cuộc đời ông ấy hứa hẹn nhiều điểm hấp dẫn. Biết đâu quá khứ của ông ấy có nhiều thứ không thể phô bày trên giấy trắng mực đen.
- Nhân vô thập toàn mà. Cuộc đời ai chẳng có vài góc tối!
Viên đại úy bật cười phản đối:
- Ý tôi không phải như vậy. Tôi chỉ định nói rằng ngài Mulholland nắm giữ nhiều bí mật không ai được phép phô bày! Tôi đang nhắc tới thời gian trước khi tập đoàn viễn thông Mulholland Cable ra đời.
- Vậy tôi nhiều chuyện, làm mất thời gian của ông rồi.
Có vẻ câu nói ấy không cần bình luận thêm. Một lần nữa, sự im lặng khó chịu, bức bối lại bao trùm cả hai. Glass thầm đếm xem tính đến giờ, ông đã nói dối Ambrose bao nhiêu lần. Có lẽ không nên gọi đó là dối trá theo nghĩa bất di bất dịch, đúng như tu sĩ dòng Tên của nhà thờ thánh Peter tại thành phố New Jersey bắt các nam sinh phải tuân thủ. Chẳng qua chỉ là vài lần nhấn mạnh tới những từ không đúng hoặc lẩn tránh nói sự thật. Người ta gọi đó là gì nhỉ? Lỗi bỏ sót thông tin, thế thôi. Nhưng sao tự nhiên ông đi luận tội chính mình thế? Đen đây, ông phải nghĩ lại. Ông có tội gì chứ? Ông không bắn chết Riley. Ông chỉ muốn giấu khả năng rất có thể không bao giờ có, rằng gã Vượn Cáo đánh hơi thấy mối quan hệ ngoài hôn nhân giữa ông và Alison O’Keeffe, sau đó tống tiền ông bằng cách dọa sẽ mách chuyện ấy với vợ và bố vợ ông. Bất kỳ đức ông chồng nào, dù bị vợ ghẻ lạnh đến mấy, đều muốn che đậy chuyện ngoại tình, cố bảo toàn tình trạng “ông ăn chả, bà ăn nem” từ lâu đẹp lòng cả hai bên. Đó là chưa kể một triệu đôla tiền thù lao...
- Tôi từng đọc bài ông viết về anh em nhà Menendez.
Glass sững sờ nhìn Ambrose so đôi vai xương xẩu vờ ngượng ngùng:
- Mọi chi tiết đều được phơi bày ra ánh sáng. Tôi nín thở đọc từ đầu đến cuối. Bài hay thật. Anh là Lyle, còn em là Erik. Hai anh chàng dễ mến. Ông từng giáp mặt họ chưa?
- Rồi.
- Họ thế nào?
- Thì dễ mến đó.
Ambrose chép miệng, gạt chiếc tách sang bên rồi đứng dậy. Họ theo nhau ra cửa. Thấy Glass định rút ví, Ambrose nghiêm trang ngăn lại:
- Quán này không tính tiền khách từ bên đồn sang. Hối lộ mà. Cảnh sát New York mà, ông không biết ư? (Ambrose toét miệng cười). Đùa đấy. Tôi bảo chủ quán ghi sổ, cuối tháng trả một lần cho tiện.
Ra đến đường, Glass châm thuốc hút. Ambrose đút tay vào túi quần lắc đầu:
- Bỏ thuốc đi ông ạ. Tin tôi đi, ông sẽ thấy khác. Thậm chí người ta còn bảo “có bị đuổi việc cũng nhàn tấm thân” mà.
Lúc chờ đèn chuyển xanh để sang đường, Ambrose hỏi:
- Ngài Mulholland có biết chuyện ông và Dylan Riley không?
- Đã có gì nhiều nhặn đâu mà kể.
Đen cửa đồn rồi nhưng Glass không biết mình đã được đi chưa. Trước nay ông thấy mỗi Ambrose là cảnh sát tốt, còn cảnh sát tồi nhan nhản, có thể gặp bất cứ lúc nào. Viên đại úy dừng chân, quay sang ông:
- Chắc ông Glass chưa biết chuyện này. Ông là người cuối cùng nói chuyện với Dylan Riley qua điện thoại trước khi hắn bị giết. Thế có nghĩa ông đứng chót danh sách người nói chuyện với Riley lúc hắn còn sống.
- Áp chót chứ?
Ambrose lại toét miệng cười:
- À vâng, phải rồi.