Sir Henry tỏ ra vui mừng hơn là ngạc nhiên khi gặp lại Sherlock Holmes, bởi vì mấy ngày nay ngài vốn đã đoán trước những sự kiện gần đây sẽ kéo vị thám tử từ Luân Đôn xuống đây. Tuy nhiên, ngài cũng phải nhướng mày ngạc nhiên khi phát hiện ra người bạn của tôi chẳng mang theo hành lý nào, cũng chẳng có lời giải thích nào cho sự vắng bóng đó.
Chỉ một chốc sau, chúng tôi đã lo liệu đầy đủ mọi thứ ngài cần, rồi bên bữa tối muộn, chúng tôi thuật lại cho vị tòng nam tước nghe phần lớn những trải nghiệm của mình mà chúng tôi thấy cần thiết để ngài biết. Nhưng trước tiên, tôi phải gánh vác một nhiệm vụ khó khăn là báo tin dữ cho vợ chồng Barrymore. Đối với gã đàn ông đó, sự ra đi ấy có lẽ là một sự giải thoát hoàn toàn, nhưng người vợ lại khóc nghẹn ngào, lấy vạt tạp dề lau nước mắt. Trong mắt người đời, hắn là kẻ bạo tàn, nửa thú tính nửa ma quỷ; nhưng đối với bà, hắn mãi mãi là đứa trẻ bướng bỉnh thuở hàn vi, là đứa bé từng bám chặt lấy bàn tay bà. Quả thực là kẻ khốn cùng xiết bao khi chết đi mà không có lấy một người phụ nữ rơi lệ tiếc thương.
Vị tòng nam tước lên tiếng: “Từ lúc Watson rời đi vào buổi sáng, tôi cứ thui thủi một mình trong nhà buồn chán chết đi được. Có lẽ tôi cũng nên được khen thưởng vì đã giữ đúng lời hứa. Nếu tôi không thề là sẽ không đi đâu một mình, thì có lẽ tôi đã có một buổi tối sinh động hơn rồi, vì tôi vừa nhận được lời nhắn của Stapleton mời sang bên ấy.”
Holmes lạnh lùng đáp: “Tôi chắc chắn là ngài sẽ có một buổi tối sinh động hơn nhiều đấy. Nhân tiện, chắc ngài không ngờ rằng chúng tôi vừa khóc thương ngài vì tưởng ngài đã gãy cổ rồi chứ?”
Sir Henry trợ tròn mắt ngạc nhiên. “Sao lại thế cơ chứ?”
“Tên khốn bất hạnh đó đã mặc quần áo của ngài. Tôi e rằng người hầu của ngài, kẻ đã đem quần áo đó cho hắn, sẽ gặp rắc rối với cảnh sát.”
“Chuyện đó khó xảy ra lắm. Theo tôi biết thì chẳng có dấu hiệu nào trên đống quần áo đó cả.”
“Thật may cho hắn — à mà phải nói là may cho tất cả các ngài mới đúng, vì trong vụ này, tất cả các ngài đều đang vi phạm pháp luật đấy. Tôi không chắc rằng với tư cách là một thám tử tận tụy, nhiệm vụ đầu tiên của mình có phải là bắt giữ toàn bộ người trong dinh thự này không. Những báo cáo của Watson quả thực là những tài liệu mang tính buộc tội cao đấy.”
Vị tòng nam tước hỏi: “Thế còn vụ án thì sao? Anh đã gỡ ra được chút manh mối nào từ mớ bòng bong này chưa? Từ lúc chúng tôi xuống đây đến giờ, tôi thấy tôi và Watson chẳng khôn ra được là bao.”
“Tôi nghĩ chẳng bao lâu nữa tôi sẽ có thể làm cho tình hình trở nên rõ ràng hơn trước mắt ngài. Đây là một vụ việc vô cùng khó khăn và rắc rối. Vẫn còn vài điểm chúng tôi cần làm sáng tỏ — nhưng mọi chuyện rồi sẽ ngã ngũ thôi.”
“Như Watson chắc đã kể cho anh nghe, chúng tôi đã trải qua một phen kinh hoàng. Chúng tôi đã nghe thấy tiếng con chó săn trên hoang mạc, nên tôi có thể khẳng định đó không chỉ là sự mê tín hão huyền. Hồi còn ở miền Tây, tôi cũng từng dính líu đến mấy con chó, và khi nghe tiếng kêu là tôi nhận ra ngay. Nếu anh có thể rọ mõm được con vật đó và xiềng nó lại, tôi xin thưa chắc chắn anh là thám tử vĩ đại nhất mọi thời đại.”
“Tôi nghĩ mình sẽ rọ mõm và xiềng nó lại được thôi, miễn là ngài chịu giúp một tay.”
“Anh bảo tôi làm gì, tôi sẽ làm nấy.”
“Rất tốt; và tôi cũng muốn ngài làm việc đó một cách mù quáng, đừng hỏi lý do tại sao.”
“Tùy anh thôi.”
“Nếu ngài làm được điều này, tôi nghĩ khả năng cao là rắc rối nhỏ của chúng ta sẽ sớm được giải quyết. Tôi tin chắc rằng—”
Anh đột ngột dừng lại, trân trân nhìn thẳng lên bầu không khí phía trên đầu tôi. Ánh đèn hắt lên khuôn mặt anh, nét mặt anh chăm chú và tĩnh lặng đến mức trông giống như một bức tượng cổ được tạc đẽo sắc sảo, một hiện thân của sự cảnh giác và chờ đợi.
Cả hai chúng tôi đồng thanh kêu lên: “Có chuyện gì thế?”
Khi anh nhìn xuống, tôi có thể nhận thấy anh đang nén lại một cảm xúc nào đó ở bên trong. Các nét mặt của anh vẫn điềm tĩnh, nhưng đôi mắt lại ánh lên vẻ đắc thắng đầy thú vị.
Vừa đưa tay ra hiệu về phía dãy chân dung phủ kín bức tường đối diện, anh vừa nói: “Xin lỗi vì sự tán thán của một kẻ sành nghệ thuật nhé. Watson không đời nào công nhận tôi biết gì về mỹ thuật, nhưng đó chỉ là sự ghen tị thuần túy vì quan điểm của chúng tôi về đề tài này có phần khác nhau. Phải công nhận đây là một bộ tranh chân dung thực sự rất đẹp.”
Sir Henry liếc nhìn người bạn tôi với vẻ hơi ngạc nhiên, rồi nói: “Ồ, tôi rất vui khi nghe anh nói vậy. Tôi chẳng dám nhận mình am hiểu nhiều về mấy thứ này, và có lẽ tôi đánh giá một con ngựa hoặc một con bò tót giỏi hơn là một bức tranh. Tôi cứ tưởng anh bận rộn lắm chứ chẳng có thời gian cho mấy chuyện này.”
“Cái gì tốt thì tôi nhìn cái là biết ngay, và giờ thì tôi đang thấy đây. Tôi dám cá là bức quý cô mặc lụa xanh đằng kia là tác phẩm của Kneller, còn vị quý ông mập mạp đội tóc giả kia hẳn là của Reynolds. Tôi đoán đây đều là chân dung gia đình cả phải không?”
“Đúng vậy.”
“Ngài có biết tên họ không?”
“Barrymore đã kèm cặp cho tôi suốt, và tôi nghĩ mình cũng đã thuộc bài khá kỹ.”
“Thế vị quý ông cầm kính viễn vọng là ai vậy?”
“Đó là Chuẩn đô đốc Baskerville, người từng phục vụ dưới quyền Rodney ở Tây Ấn. Còn người mặc áo khoác xanh cầm cuộn giấy là Sir William Baskerville, từng giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hạ viện dưới thời Pitt.”
“Còn vị quý tộc theo phái Bảo hoàng đối diện với tôi đây — người mặc đồ nhung đen và ren ấy?”
“À, ngài có quyền được biết về nhân vật này. Đó chính là cội nguồn của mọi rắc rối, gã Hugo độc ác, kẻ đã khơi mào lời nguyền về con chó săn của dòng họ Baskerville. Chắc chúng tôi chẳng thể nào quên được hắn đâu.”
Tôi tò mò và hơi ngạc nhiên ngắm nhìn bức chân dung.
Holmes lẩm bẩm: “Chà! Trông hắn có vẻ điềm đạm, hiền lành đấy chứ, nhưng tôi dám cá là ẩn sâu trong đôi mắt kia lại là một tâm địa ác độc. Tôi cứ tưởng hắn phải là một kẻ vạm vỡ và côn đồ hơn cơ.”
“Chuyện tính xác thực thì không phải bàn cãi, bởi vì tên tuổi và năm tháng, 1647, đều được ghi ở mặt sau tấm vải bạt.”
Holmes không nói thêm gì nhiều, nhưng bức tranh về tên ăn chơi trác táng thời xưa có vẻ rất cuốn hút đối với anh, và suốt bữa tối, đôi mắt anh cứ dán chặt vào đó. Mãi đến sau này, khi Sir Henry đã về phòng, tôi mới có thể theo kịp luồng suy nghĩ của anh. Chân cầm ngọn nến trong phòng ngủ, anh dẫn tôi trở lại phòng khánh tiết và giơ cao ngọn nến sát vào bức chân dung đã ố vàng theo năm tháng trên tường.
“Anh có thấy gì ở đó không?”
Tôi nhìn chiếc mũ rộng vành cắm lông vũ, mái tóc xoăn bồng bềnh lãng tử, chiếc cổ áo ren trắng, và khuôn mặt thẳng thắn, nghiêm nghị nằm giữa khung cảnh đó. Đó không phải là một gương mặt hung ác, mà là một vẻ mặt tươm tất, cứng nhắc và nghiêm nghị, với đôi môi mỏng mím chặt cùng ánh mắt lạnh lùng không chút dung tha.
“Trông nó có giống ai mà anh biết không?”
“Phần xương hàm có nét gì đó giống Sir Henry.”
“Có lẽ chỉ là một chút gợi nhớ thôi. Nhưng chờ một lát đã!” Anh bước lên một chiếc ghế, tay trái giơ cao ngọn đèn, còn tay phải vòng qua chiếc mũ rộng vành và bao quanh những lọn tóc xoăn dài.
Tôi kinh ngạc thốt lên: “Lạy Chúa!”
Khuôn mặt của Stapleton bỗng hiện ra từ tấm vải bạt.
“Hà, giờ thì anh thấy rồi chứ. Mắt tôi đã được rèn luyện để quan sát khuôn mặt chứ không phải mấy thứ trang sức bề ngoài. Phẩm chất hàng đầu của một điều tra viên tội phạm là phải nhìn thấu qua lớp ngụy trang.”
“Nhưng điều này thật kỳ diệu. Trông như thể bức chân dung được vẽ riêng cho hắn vậy.”
“Đúng vậy, đây là một trường hợp thú vị về sự lại giống, xuất hiện ở cả thể chất lẫn tinh thần. Chỉ cần nghiên cứu tranh chân dung gia đình là đủ để một người tin vào học thuyết luân hồi. Gã này chính là một thành viên nhà Baskerville — điều đó quá rõ ràng.”
“Với âm mưu nhắm vào quyền thừa kế.”
“Chính xác. Sự trùng hợp tình cờ về bức tranh này đã cung cấp cho chúng ta một trong những mắt xích còn thiếu rõ ràng nhất. Chúng ta tóm được hắn rồi, Watson, chúng ta đã tóm được hắn rồi, và tôi dám cá rằng trước tối mai hắn sẽ giãy giụa trong chiếc lưới của chúng ta bất lực chẳng khác nào một con bướm trong bộ sưu tập của chính hắn. Chỉ cần một chiếc kim ghim, một nút bần và một tấm bìa cứng là chúng ta có thể đưa hắn vào bộ sưu tập ở phố Baker rồi!” Nói đoạn, anh phá lên cười — một trong những tràng cười hiếm hoi của anh — rồi quay lưng đi khỏi bức tranh. Tôi ít khi nghe thấy anh cười, và mỗi lần như thế thường là điềm gở cho kẻ nào đó.
Sáng hôm sau, tôi dậy từ rất sớm, nhưng Holmes còn dậy sớm hơn nữa, bởi vì khi đang thay quần áo, tôi đã nhìn thấy anh từ đường lái xe đi lên.
Anh vừa xoa hay bàn tay với vẻ hào hứng của kẻ sắp được hành động vừa nhận xét: “Đúng vậy, hôm nay chúng ta sẽ có một ngày bận rộn đấy. Mọi chiếc lưới đã được giăng sẵn, và chiến dịch càn quét sắp bắt đầu. Trước khi ngày tàn, chúng ta sẽ biết rõ liệu mình đã tóm được con cá mập to lớn, mõm gầy ấy chưa, hay là hắn đã lọt qua được những mắt lưới.”
“Anh đã ra hoang mạc rồi ư?”
“Tôi đã gửi một báo cáo từ Grimpen về Princetown về cái chết của Selden. Tôi nghĩ mình có thể hứa rằng sẽ không ai trong số các anh phải phiền lòng về chuyện đó nữa. Tôi cũng đã liên lạc với cậu Cartwright trung thành của mình — nếu tôi không trấn an cậu ta về sự an toàn của bản thân, chắc cậu ta đã héo mòn ngóng trông trước cửa lán của tôi giống như một con chó ngồi chờ bên mồ chủ vậy.”
“Bước tiếp theo là gì?”
“Đến gặp Sir Henry. A, ngài ấy kìa!”
Vị tòng nam tước cất tiếng: “Chào buổi sáng, Holmes. Trông anh chẳng khác nào một vị tướng đang lên kế hoạch tác chiến cùng tham mưu trưởng của mình.”
“Đúng là tình hình đang diễn ra như vậy đấy. Watson vừa mới hỏi xin mệnh lệnh.”
“Và tôi cũng vậy.”
“Rất tốt. Theo tôi được biết, tối nay ngài đã nhận lời ăn tối với vợ chồng người bạn Stapleton của chúng ta.”
“Tôi hy vọng anh cũng sẽ đến. Họ là những người rất hiếu khách, và tôi chắc chắn họ sẽ rất vui khi được gặp anh.”
“Tôi e rằng tôi và Watson phải về Luân Đôn.”
“Về Luân Đôn ư?”
“Vâng, tôi nghĩ chúng ta sẽ hữu ích hơn ở trỏng vào thời điểm ngặt nghèo này.”
Khuôn mặt vị tòng nam tước dài ra thấy rõ.
“Tôi cứ tưởng anh sẽ sát cánh cùng tôi vượt qua chuyện này chứ. Biệt thự Hall và hoang mạc này chẳng lấy gì làm dễ chịu cho cam khi phải ở một mình.”
“Anh bạn thân mến, ngài phải hoàn toàn tin tưởng tôi và làm đúng những gì tôi bảo. Ngài có thể nói với những người bạn của mình rằng chúng tôi rất lấy làm tiếc vì không thể đi cùng, nhưng vì công việc khẩn cấp nên chúng tôi buộc phải có mặt ở thành phố. Chúng tôi hy vọng sẽ sớm quay lại Devonshire. Ngài nhớ nhắn lại lời đó cho họ nhé?”
“Nếu anh đã nài nỉ thế.”
“Tôi đảm bảo là không còn lựa chọn nào khác.”
Nhìn sắc mặt u ám của vị tòng nam tước, tôi biết ngài đang vô cùng tổn thương vì điều mà ngài cho là sự bỏ rơi của chúng tôi.
Ngài lạnh lùng hỏi: “Anh muốn đi lúc mấy giờ?”
“Ngay sau bữa sáng. Chúng ta sẽ đi xe ngựa đến Coombe Tracey, nhưng Watson sẽ để lại hành lý ở đây như một sự cam kết rằng anh ấy sẽ quay lại với ngài. Watson, anh hãy gửi mộth bức thư ngắn cho Stapleton để báo rằng anh lấy làm tiếc vì không thể đến được.”
Vị tòng nam tước liền nói: “Tôi cũng có ý định về Luân Đôn cùng các anh đây. Tôi ở lại đây một mình làm gì cơ chứ?”
“Bởi vì đây là vị trí làm nhiệm vụ của ngài. Bởi vì ngài đã hứa với tôi là sẽ làm theo những gì được bảo, và tôi bảo ngài ở lại.”
“Được rồi, thế thì tôi ở lại.”
“Thêm một chỉ dẫn nữa! Tôi muốn ngài đi xe ngựa đến Merripit House. Tuy nhiên, hãy cho xe quay về và bảo họ biết rằng ngài dự định đi bộ về nhà.”
“Đi bộ băng qua hoang mạc á?”
“Đúng vậy.”
“Nhưng đó chính là điều mà anh đã liên tục cảnh cáo tôi không được làm cơ mà.”
“Lần này thì ngài có thể đi mà hoàn toàn an toàn. Nếu tôi không đặt trọn niềm tin vào thần kinh thép và lòng dũng cảm của ngài thì tôi đã chẳng đề xuất điều này, nhưng việc đó là vô cùng cần thiết.”
“Vậy thì tôi sẽ làm thế.”
“Và để bảo toàn tính mạng, ngài tuyệt đối không được đi băng qua hoang mạc theo bất kỳ hướng nào ngoại trừ con đường thẳng dẫn từ Merripit House ra đến đường cái Grimpen — đó là con đường thông thường để ngài về nhà.”
“Tôi sẽ làm đúng như lời anh dặn.”
“Rất tốt. Tôi rất muốn rời đi ngay sau bữa sáng càng sớm càng tốt, để có thể về đến Luân Đôn vào buổi chiều.”
Tôi vô cùng kinh ngạc trước kế hoạch này, dù chợt nhớ ra tối hôm trước Holmes từng nói với Stapleton rằng chuyến thăm của anh sẽ kết thúc vào ngày mai. Tuy nhiên, tôi chưa từng nghĩ rằng anh lại muốn tôi đi cùng, và tôi cũng chẳng tài nào hiểu nổi vì sao cả hai chúng tôi lại có thể vắng mặt vào một thời điểm mà chính anh đã tuyên bố là vô cùng quan trọng. Dẫu vậy, chẳng còn cách nào khác ngoài việc tuân thủ tuyệt đối; thế là chúng tôi chào tạm biệt người bạn đang ủ rũ của mình, và hai tiếng sau, chúng tôi đã có mặt ở nhà ga Coombe Tracey sau khi cho xe ngựa quay đầu trở về. Một cậu bé đang đứng đợi sẵn trên sân ga.
“Có mệnh lệnh gì không thưa ngài?”
“Cậu sẽ đáp chuyến tàu này về thành phố, Cartwright. Ngay khi đến nơi, cậu hãy gửi một bức điện cho Sir Henry Baskerville, nhân danh tôi, dặn rằng nếu cậu ấy tìm thấy cuốn sổ tay mà tôi đã đánh rơi, hãy gửi nó qua đường bưu điện bảo đảm về phố Baker.”
“Vâng, thưa ngài.”
“Và hãy ghé phòng vé hỏi xem có tin nhắn nào dành cho tôi không.”
Cậu bé quay lại với một bức điện tín mà Holmes đưa cho tôi. Nội dung như sau:
Đã nhận được điện tín. Đang xuống cùng lệnh bắt chưa ký tên. Đến nơi lúc năm giờ bốn mươi. Lestrade.
“Đó là câu trả lời cho bức điện tôi gửi sáng nay. Tôi nghĩ cậu ấy là người giỏi nhất trong giới thám tử chuyên nghiệp, và chúng ta có thể cần đến sự trợ giúp của cậu ấy. Giờ thì, Watson, tôi nghĩ chẳng có cách nào sử dụng thời gian tốt hơn là đến thăm người quen cũ của anh — bà Laura Lyons.”
Kế hoạch hành động của anh bắt đầu sáng tỏ. Anh sẽ dùng vị tòng nam tước để thuyết phục nhà Stapleton rằng chúng tôi thực sự đã rời đi, trong khi thực tế chúng tôi sẽ quay lại đúng thời điểm cần thiết. Bức điện tín từ Luân Đôn đó, nếu được Sir Henry nhắc đến trước mặt nhà Stapleton, chắc chắn sẽ dập tắt những nghi ngờ cuối cùng trong tâm trí họ. Ngay lúc đó, tôi dường như đã thấy những chiếc lưới của chúng ta đang siết chặt lại quanh con cá mập mõm gầy kia.
Bà Laura Lyons đang có mặt tại văn phòng, và Sherlock Holmes bắt đầu cuộc trò chuyện bằng sự cởi mở và thẳng thắn đến mức khiến bà vô cùng kinh ngạc.
Anh nói: “Tôi đang điều tra những tình tiết liên quan đến cái chết của cố Sir Charles Baskerville. Người bạn của tôi đây, bác sĩ Watson, đã cho tôi biết những gì bà đã cung cấp, và cả những gì bà đã giấu giếm liên quan đến vụ việc đó nữa.”
Bà thách thức hỏi lại: “Tôi đã giấu giếm điều gì chứ?”
“Bà đã thú nhận rằng chính bà đã đề nghị Sir Charles có mặt ở cổng vào lúc mười giờ. Chúng tôi biết đó chính là địa điểm và thời điểm ngài ấy qua đời. Bà đã che giấu mối liên hệ giữa những sự kiện này với nhau.”
“Chẳng có mối liên hệ nào cả.”
“Nếu vậy thì sự trùng hợp này quả thực quá ư kỳ lạ. Nhưng tôi tin là cuối cùng chúng tôi cũng sẽ thành công trong việc xác lập mối liên hệ ấy. Tôi muốn hoàn toàn thành thật với bà, bà Lyons. Chúng tôi coi vụ án này là một vụ giết người, và những bằng chứng thu được có thể liên lụy không chỉ đến người bạn của bà — ông Stapleton — mà còn cả vợ của hắn ta nữa.”
Người phụ nữ giật mình đứng phắt dậy khỏi ghế.
Bà kêu lên: “Vợ hắn ư?!”
“Sự thật đó không còn là bí mật nữa. Người vẫn đóng giả làm em gái hắn thực ra chính là vợ hắn.”
Bà Lyons đã ngồi xuống lại. Đôi tay bà bấu chặt lấy tay vịn ghế, và tôi thấy những chiếc móng tay hồng hào đã chuyển sang màu trắng bệch vì sức ép từ cái nắm tay của bà.
Bà lặp lại: “Vợ hắn ư? Vợ hắn! Hắn đâu phải là người đã có gia đình.”
Sherlock Holmes nhún vai.
“Chứng minh cho tôi xem nào! Hãy chứng minh cho tôi xem! Và nếu bà làm được điều đó—!”
Ánh mắt hung tợn lóe lên của bà còn nói lên nhiều điều hơn cả lời nói.
Holmes vừa rút từ trong túi ra vài tờ giấy vừa nói: “Tôi đã đến đây cùng với đầy đủ sự chuẩn bị. Đây là bức ảnh chụp cặp vợ chồng này ở York cách đây bốn năm. Phía sau có ghi chú ‘Ông bà Vandeleur’, nhưng bà sẽ chẳng gặp khó khăn gì trong việc nhận ra hắn, và cả cô ta nữa, nếu bà từng tận mắt nhìn thấy họ. Đây là ba bản mô tả bằng văn bản từ những nhân chứng đáng tin cậy về ông bà Vandeleur, những người vào thời điểm đó làm chủ một trường tư thục St. Oliver. Hãy đọc chúng và xem liệu bà còn có thể hoài nghi về thân phận của những con người này nữa hay không.”
Bà liếc qua những tờ giấy, rồi ngẩng đầu lên nhìn chúng tôi với gương mặt đờ đẫn, cứng đờ của một người phụ nữ đã cùng đường.
Bà nói: “Thưa ông Holmes, người đàn ông này từng hứa hôn với tôi với điều kiện tôi phải ly hôn được với chồng mình. Hắn đã lừa dối tôi, tên đểu cá ấy, bằng mọi cách thức có thể tưởng tượng được. Không một lời nào hắn nói với tôi là thật cả. Và tại sao — tại sao chứ? Tôi cứ ngỡ mọi chuyện đều là vì lợi ích của chính mình. Nhưng giờ đây tôi mới nhận ra mình chưa bao giờ là gì ngoài một con cờ trong tay hắn. Tại sao tôi phải giữ lời hứa với một kẻ chưa từng giữ lời với tôi? Tại sao tôi phải che chở cho hắn khỏi những hậu quả do chính những hành vi độc ác của hắn gây ra? Các ông muốn hỏi gì cứ hỏi, tôi sẽ không giấu giếm bất cứ điều gì. Chỉ có một điều tôi xin thề với các ông, đó là khi viết bức thư đó, tôi chưa từng mơ thấy bất kỳ tổn hại nào lại giáng xuống đầu vị lão ông — người từng là ân nhân tốt bụng nhất của tôi.”
“Tôi hoàn toàn tin tưởng bà, thưa phu nhân. Việc kể lại những sự kiện này chắc hẳn rất đau đớn đối với bà, và có lẽ mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn nếu tôi thuật lại những gì đã xảy ra, rồi bà có thể đính chính nếu tôi mắc bất kỳ sai sót quan trọng nào. Việc gửi bức thư đó là do Stapleton gợi ý cho bà phải không?”
“Chính hắn đã ra lệnh cho tôi viết.”
“Tôi đoán lý do hắn đưa ra là bà sẽ nhận được sự hỗ trợ tài chính từ Sir Charles để lo các chi phí pháp lý liên quan đến vụ ly hôn của bà?”
“Chính xác.”
“Và rồi sau khi gửi bức thư đó, chính hắn lại can ngăn bà không đến cuộc hẹn?”
“Hắn bảo với tôi rằng lòng tự trọng của hắn sẽ bị tổn thương nếu để bất kỳ người đàn ông nào khác bỏ tiền ra lo cho một mục đích như vậy, và rằng dù bản thân là một kẻ nghèo khó, hắn vẫn sẽ dốc đến xu cuối cùng để dọn sạch những chướng ngại vật đang cản trở giữa chúng ta.”
“Hắn tỏ ra là một kẻ trước sau như một nhỉ. Và rồi bà hoàn toàn không hề hay biết gì cho đến khi đọc được các bài báo đưa tin về cái chết ấy trên mặt báo sao?”
“Vâng.”
“Và hắn bắt bà phải thề là không được hé lộ nửa lời về cuộc hẹn của bà với Sir Charles?”
“Đúng vậy. Hắn bảo cái chết đó rất kỳ lạ, và nếu sự thật vỡ lở, chắc chắn tôi sẽ là kẻ bị tình nghi. Hắn đã dọa nạt khiến tôi phải ngậm miệng.”
“Hoàn toàn chính xác. Nhưng hẳn là bà vẫn hoài nghi chứ?”
Bà chần chừ rồi cúi đầu xuống.
Bà nói: “Tôi hiểu rõ con người hắn. Nhưng nếu hắn giữ đúng lời hứa với tôi, tôi cũng sẽ luôn chung thủy với hắn.”
Sherlock Holmes cất lời: “Nói chung thì bà đã vô cùng may mắn khi thoát nạn. Bà từng nắm thóp được hắn và hắn thừa biết điều đó, vậy mà giờ bà vẫn sống sót. Đã có lúc bà bước đi sát mép vực thẳm suốt mấy tháng trời. Giờ thì chúng tôi phải chào tạm biệt bà đây, bà Lyons, và rất có thể chẳng bao lâu nữa bà sẽ lại nhận được tin từ chúng tôi.”
Khi chúng tôi đứng chờ chuyến tàu tốc hành từ thành phố chạy đến, Holmes lên tiếng: “Vụ án của chúng ta đang dần khép lại, và từng khó khăn một đang được tháo gỡ ngay trước mắt chúng ta. Chẳng mấy chốc nữa tôi sẽ có thể xâu chuỗi toàn bộ thành một câu chuyện duy nhất về một trong những vụ án kỳ lạ và giật gân nhất thời hiện đại. Những ai nghiên cứu tội phạm học sẽ nhớ đến những vụ việc tương tự xảy ra ở Godno, miền Tiểu Nga, vào năm 66, và dĩ nhiên là cả các vụ án mạng của gia đình Anderson ở Bắc Carolina nữa, nhưng vụ án này lại sở hữu những đặc điểm hoàn toàn độc nhất vô nhị. Ngay lúc này đây, chúng ta vẫn chưa có bằng chứng rành rành để buộc tội gã cáo già này. Nhưng tôi sẽ vô cùng ngạc nhiên nếu mọi chuyện không sáng tỏ trước khi chúng ta đi ngủ tối nay.”
Chuyến tàu tốc hành tuyến Luân Đôn gầm rú lao vào sân ga, và một gã đàn ông nhỏ thó, gân guốc trông như một con chó sục đã nhảy phắt xuống từ một toa hạng nhất. Cả ba chúng tôi bắt tay nhau, và nhìn cái cách Lestrade kính cẩn nhìn người bạn đồng hành của tôi, tôi nhận ngay ra rằng viên thanh tra này đã học hỏi được rất nhiều điều kể từ những ngày đầu họ mới hợp tác cùng nhau. Tôi vẫn nhớ như in thái độ khinh miệt mà các lý thuyết của nhà lý luận từng khơi gợi trong lòng viên cảnh sát thực tế này.
Lestrade hỏi: “Có vụ gì hay ho không?”
Holmes đáp: “Vụ lớn nhất trong nhiều năm nay đấy. Chúng ta có hai tiếng trước khi phải nghĩ đến chuyện lên đường. Tôi nghĩ chúng ta có thể tận dụng thời gian đó để ăn chút bữa tối, rồi sau đó, Lestrade, chúng ta sẽ thổi bay cái bầu không khí đậm đặc sương mù Luân Đôn trong cổ họng anh bằng cách cho anh hít thở bầu không khí ban đêm trong lành của hoang mạc Dartmoor. Chưa đến đó bao giờ à? À chà, tôi đoán là anh sẽ chẳng thể nào quên được chuyến ghé thăm đầu tiên này đâu.”