Điệp Viên Từ Ixraen Tới

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 13 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
X. Đi Đa-mát

❊ ❊ ❊

Buổi tối ngày đầu năm 1962 (1-1-1962), làn gió lạnh thổi mạnh trên vịnh Giê-nơ và quét lên boong tàu A-xtô-ri-a khiến hành khách chạy cả về buồng và phòng ngủ.. Đảo mắt nhìn lần cuối những căn nhà cũ kỹ màu đỏ nhạt vây quanh bến Giê-nơ. Ca-min Ta-áp, khách đi tàu hạng nhất cũng trở về buồng ngủ ở cuối buồng các sĩ quan và thuyền trưởng. Sau khi xếp lại đồ dùng để vào một va-li bằng da và một túi du lịch trong đó có “đồ dùng thiết yếu” cho một điệp viên dưới hình thức “máy xay trộn” chạy bằng điện, y lững thững đi lại quầy rượu dành cho khách hạng nhất để uống rượu khai vị và làm quen với khách đi tàu. Nhờ có Xa-linh-gơ, Ta-áp đã ghi (theo bản danh sách đi tàu mà Xa-linh-gơ trao cho y ở Muy-ních) tên một vài người, gạt đi vài người khác. Nguyên tắc sự lựa chọn này cũng giản dị thôi; Tránh mất thì giờ với những hành khách không lợi lộc gì, Ta-áp quan tâm đến loại người khi cần có thể giúp y một tay để đối phó với những khó khăn có thể chờ y trên đường đi Đa-mát.

Ngày Ta-áp trở lại môi trường A-rập được tiến hành tuần tự. Trước hết, trong sáu tháng ròng, nằm trong đám kiều dân A-rập ở Bu-ê-nốt Ai-rét, y đã tìm cách khai thác thật tốt cho nhiệm vụ tương lai của y ở Xy-ri. Bây giờ ở trên chiếc tàu A-xtô-ri-a, lênh đênh trên Địa Trung Hải, một lần nữa, Ta-áp lại ở với toàn người A-Rập. Khách trên tàu ở phòng khách hạng nhất phần lớn là người Trung Đông. Đám người A-rập đang ngồi cạnh y có nhiều người Li-Băng và một vài người Xy-ri. Có rất ít người Âu. Tháng giêng mưa gió chả hợp lắm với những chuyến đi du lịch và những nhà buôn từ Pa-ri hay từ Duy-rích, nói chung đều dùng đường hàng không để đi Cai-rô hoặc Bi-ê-rút.

Những câu chuyện trao đổi vui vẻ ầm ĩ, đúng như phong tục A-rập, nổ như pháo ran xung quanh y từ bốn phía. Mọi người chuyện trò cùng một lúc với nhau. Mặc dù giọng nói và cách sử dụng ngôn ngữ đôi khi rõ ràng và khác biệt, nhưng người A-Rập ở Li-Băng, ở Xy-ri và ở Ai-Cập đều hoàn toàn hiểu nhau mà không cần phải phiên dịch.

Cũng nhờ có không khí thoải mái và ầm ĩ này, các hành khách đủ mọi quốc tịch, trong thời gian lênh đênh trên biển cả, đã trở thành một tập thể hòa hợp, do đó Ca-man Ta-áp làm quen được với một người ở trong quầy rượu mà y đã đánh dấu trên bản danh sách. Một giờ sau ở trong quán ăn của khách, Ta-áp đã cùng ngồi chung một bàn với người bạn mới này. Tên gián điệp lập tức nhắm “con mồi” và nhanh như chớp anh chàng này đã sa vào bẫy. Chính gã này, không phải ai khác, đã đưa tên gián điệp vào Xy-ri một cách dễ dàng.

Đó là một người A-rập vóc dáng vừa phải, xương xương người và có những nét Do thái cùng màu da cháy nắng. Ông ta mặc âu phục dang trọng, vẻ bề ngoài không có dấu hiệu gì để mọi người có thể nhận ra đấy là một tộc trưởng A-Rập chính cống. Tại quày rượu, hai người cùng nhấm nháp tí rượu; trao đổi với nhau những lễ nghi và tập quán và cùng nhau giới thiệu: Ca-man A-min Ta-áp, nhà buôn,quốc tịch Xy-ri nhưng sống ở Ác-hen-ti-na và trên đường về thăm quê cha đất tổ. Tộc trưởng Mác An A! Chỉ một tước hiệu cũng đủ trình bày nhân vật: Một người A-Rập có phẩm hạnh thuộc giai cấp phong kiến địa chủ cũ. Mác An A trước đây có một tài sản ở gần Đa-mát và tuy những cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã làm “lung lay cái thời phong kiến đẹp đẽ” cổ điển ở Xy-ri, ông ta vẫn còn những nông nô đang làm việc trên ruộng đất của mình và lương họ lĩnh chỉ là một phần ít ỏi của thu hoạch. Mác An A cũng là nhà buôn nữa. Sau vài tháng ở châu Âu, đã đi qua cả Rôm và Pa-ri, ông ta trở về nước trên tàu A-xtô-ri-a: “Người ta chẳng ai bỏ phí thì giờ ở châu Âu cả. Ở đấy có khối nơi thú vị để sống vài phút êm dịu”. Ông vừa cười vừa nói với Ca-man Ta-áp.

Ta-áp thấy ngay thuận lợi mà y có thể khai thác ở viên tộc trưởng đang về Đa-mát này. Ít nói và còn kém tài khi trao đổi những câu chuyện trai gái ở một vài hộp đêm có tiếng là xấu ở Pa-ri hoặc Rôm, y lái câu chuyện vào vòng đứng đắn nhất. Ta-áp nói viên tộc trưởng rằng, y rời Ác-hen-ti-na vì một ham thích sâu sắc là muốn trở về “Tổ quốc” để tham gia tích cực vào những biến đổi chính trị và kinh tế đang lan rộng ở Xy-ri.

Viên tộc trưởng cảm động trước lòng yêu nước nồng nàn của chàng trai trẻ. Ông ta kể cho y nghe về tình hình ở Xy-ri, nhưng trong bối cảnh rất khác biệt với tình hình mà các bạn bè ở Đảng “BAATH” khác của Ta-áp ở Ác-hen-ti-na nhận xét. Ghé sát vào Ta-áp, ông ta nói thầm để khách ăn ở các bàn bên cạnh không nghe thấy: “Nhờ có Thánh A-la, chủ nghĩa Ai Cập đã chết hẳn. Thế là chúng ta thoát khỏi cái lũ này. Bọn Ai Cập đã ăn cắp của chúng ta, chúng lột tất cả, tịch thu tất cả ruộng đất của chúng ta để chia cho nông dân. Tóm lại, chúng ta dễ thở ở Đa-mát hơn”.

Ông ta hỏi Ta-áp xem có thể làm gì để giúp y trở về Đa-mát dễ dàng. Ngay từ lúc gặp nhau ở quán rượu, Ta-áp chỉ đợi có câu hỏi này. Hiện nay trong tất cả các điều y cần hơn cả, cộng với những giới thiệu của bạn bè ở Bu-ê-nốt Ai-rét là cùng đi với một người như viên tộc trưởng để qua biên giới Xy-ri.. Người ta nhận ra sự phản xạ này một cách rất dễ dàng. Còn gì chắc chắn và dễ chịu bằng khi ở cạnh một viên tộc trưởng để vượt cái biên giới có thể gây ra cho y biết bao phiền phức?.

“Tôi không quen ai cả. Không quen biết một ai ở Đa-mát cả.” Ta-áp thú thật.

Viên tộc trưởng phác một cử chỉ hiếu khách cổ truyền của các nước Ai-Rập. “Nhà tôi là nhà của anh – Ông ta vừa nói vừa cười to và thêm – Tôi vừa tậu một chiếc xe mới ở châu Âu. Một chiếc Pơ-giô 404, hiện gửi theo với tôi trên tàu này. Anh bạn trẻ hãy tin vào tình bạn của tôi. Ngay khi tới Bi-ê-rút, anh hãy xem như anh là khách của tôi. Và đừng có e ngại gì về bước đầu của anh ở Đa-mát cả. Bạn bè của tôi sẽ là bạn bè của anh.”

Buổi tối hôm ấy, hai người trò chuyện mãi tới khuya. Khi trở về buồng, điệp viên Ta-áp làm một bản tổng kết thật xúc động về ngày đầu tiên trên tàu A-xtô-ri-a: Một viên tộc trưởng sẽ trở y trên chiếc xe Pơ-giô 404 từ Bi-ê-rút để đặt y trước “hang hùm” ở Đa-mát.

Sau chuyến vượt biển an toàn, tàu A-xtô-ri-a cập bến A-lếc-xăng-đơ-ri. Ở Mu-ních, Xa-linh-gơ đã lệnh cho Ta-áp phải bí mật xuống A-lếc-xăng-đơ-ri để xin đóng dấu thị thực của Ai-Cập vào hộ chiếu, cái này khi cần đến, sẽ bảo đảm với các đồn biên phòng của Xy-ri hơn. Tên gián điệp đội một cái mũ rộng vành, cẩn thận đeo thêm chiếc kính râm để giấu mặt, nhưng không để viên tộc trưởng và các hành khách khác chú ý đến cách ngụy trang quá đáng. Khi kiểm soát hộ chiếu tại trạm biên phòng Ai-Cập, y xin được đóng con dấu mong muốn. Rồi y đi bộ trên các ngõ hẻm của bến tàu nơi y đã sống bao năm lúc còn niên thiếu. Có lẽ đến gần năm năm trôi qua kể từ ngày Ê-li Cô-hen dời thành phố này. Y vẫn còn nhận ra từng đường phố một. Đúng ra y phải vào các cửa hàng và gọi đúng tên các thứ hàng hóa. Đúng ra y phải trở lại xem đường phố cũ, nhìn lại ngôi nhà mà y đã trưởng thành. Y chẳng làm gì cả. Y không được phép chuốc lấy nguy hiểm nếu một người nào đó nhận ra mình. Một em bé Ả-Rập quần áo rách mướp chạy theo y kêu van: “Bắc-sích, Y-a Xi-đi” và chìa tay ra xin, Ê-li Cô-hen nay là Ca-man Ta-áp, “Khách du lịch” người Ác-hen-ti-na tại A-lếc-xăng-đơ-ri cho em bé một đồng bạc. Y còn có dịp nhận xét, so với ngày xưa, số binh lính và xe tải nhà binh ở trong phố xá rõ ràng có tăng lên nhiều. Rồi y lại trở về tàu A-xtô-ri-a để tiếp tục đi Bi-ê-rút. Ta-áp còn đứng tựa vào lan can trên cầu tàu một lúc lâu cho tới khi những ngôi nhà cuối cùng của A-lếc-xăng-đơ-ri khuất vào chân trời.

Bi-ê-rút, nơi mà ngày mai Ta-áp sẽ cùng đặt chân lên với ông bạn người Xy-ri của y là MácAn A, tràn đầy nhựa sống và niềm vui tươi so với A-lếc-xăng-đơ-ri. “Thụy sĩ của Trung đông” như người ta thường gọi thủ đô của Li-băng như thế. Bi-ê-rút đón khách của tàu A-xtô-ri-a với tiếng hò hét và tiếng rao hàng của những người bán hàng rong và những người khuân vác chạy tứ tung trên bến tàu. Sau bến tàu Ai-Cập, ở bến tàu Li-băng này, người ta có cảm giác rõ rệt là đi vào một thế giới khác, tuy rằng bến tàu này cũng A-Rập như bến tàu kia.

Điệp viên Ta-áp có đủ thời gian cần thiết để miệt mài với sự so sánh này và theo dõ mạch đập phi thường của thành phố Bi-ê-rút với sự sôi nổi liên tục. Về phía ông tộc trưởng, ông ta chờ phu khuân vác lấy chiếc ô tô mới ở khoang tàu ra. Người ta chất vô tội vạ hàng đống va-ly và những gói đủ mọi kích thước của viên tộc trưởng vào trong chiếc xe hơi và cả cái gói hàng thật giản dị của Ca-man Ta-áp. Mác An A nói đi nói lại: “Miễn là hải quan Xy-ri miễn cho tôi cái khoản kiểm soát quá ngặt nghèo”. Trong thâm tâm Ta-áp cũng chỉ mong ước đúng như lời cầu của vị bảo trợ. Về phần ông tộc trưởng, ông ta chỉ gờm những viên thanh tra hải quan và những khoản thuế mà ông sẽ phải trả cho chiếc Pơ-giô mới tinh thôi. Ta-áp thì có những lý do xác đáng hơn để lo ngại việc qua lại đồn biên phòng Xy-ri.

Nhưng hai người còn cách biên giới Xy-ri khá xa. “Chúng ta thử ở lại cái thành phố diễm lệ này vài ngày xem sao?”. Viên tộc trưởng Mác An A đề nghị. Tuy vội đến chết và mong mau chóng tới Đa-mát cho xong. Ta-áp vẫn phải nhận lời. Hai người thuê ở khách sạn Pờ-la-ga (Bãi biển) ở Bi-ê-rút. Họ cùng nhau dạo quanh thủ đô Li-băng như những “hoàng tử”. Đêm, họ chui vào nhiều “hộp” nhan nhản ở thủ đô Li-băng và nhận ra rằng ở Bi-ê-rút không có gì, hoặc có ít thứ để ước muốn hơn ở Rôm và Pa-ri, ít ra cũng như thú ăn đêm. Ta-áp có đủ lý lẽ để thỏa mãn, và tỏ lòng sung sướng và biết ơn đối với nhà bảo trợ của y, viên tộc trưởng. Những bước đầu y đặt chân lên xứ sở A-Rập thật giống như một cuộc ngao du nhàn hạ: “Xin mời thăm Li-băng. Hãy tận hưởng ánh nắng, sự kiều diễm và thú vị ở Li-băng”. Những quảng cáo của cơ quan du lịch Li-băng nói đúng, ngay cả với tên gián điệp I-xra-en Ê-li Cô-hen. Y hẹn sẽ trở lại và y sẽ giữ lời.

Bây giờ thì viên tộc trưởng Mác An A lái xe đưa Ca-man Ta-áp về phía biên giới Xy-ri. Chặng đường núi chật hẹp làm cho tên gián điệp nhớ lại quãng đường ở I-xra-en, cách vài chục cây số về phía nam, chạy từ Na-ha-ry-a tới Ga-li-lê. Ta-áp chăm chú nhìn xung quanh. Y đã sử dụng đến trí nhớ rồi đấy. Y ghi nhớ vad sắp xếp trong óc những hình ảnh ở hai bên đường.

Hai người đã tới đèo Xtu-ra, đồn biên phòng Li-băng cuối cùng trước khi tới đồn biên phòng Xy-ri đầu tiên. Kiểm soát hành lý nhanh chóng và qua loa. Kiểm tra hộ chiếu, một thủ tục thuần túy. Những người bán hàng, rao hàng ầm ĩ mời khách du lịch đang chờ cái rào chắn ở trước mặt nhấc lên, mua hàng cho họ; hoa quả, bánh kẹo: “Xin mời mua ở đây đi, rẻ hơn ở Đa-mát, nên mua đi”, mấy người bán hàng rao to.

Ca-man Ta-áp có một phản ứng tự nhiên.

“Chúng tôi không cần gì cả. Các anh hãy giữ hàng hóa cho bà con cực khổ của mình ở Bi-ê-rút”, y vui vẻ nói. Viên tộc trưởng thấy vui vui, vỗ vào vai y một cái, khen ngợi lòng yêu nước của y.

Cái rào chắn nâng lên, chiếc xe Pơ-giô vượt qua “khu vực trắng” kéo dài giữa hai biên giới. Con đường chạy qua một vùng đồi núi gồ ghề, khô cằn và nóng bỏng. Xung quanh vài trăm thước không có lấy một bóng cây. Ở biên giới Xy-ri, tên gián điệp Ta-áp ghi nhớ những dấu hiệu không thể nhận được của những đồn binh, mà ở phía biên giới Li-băng không thấy có.

Sau sự yên tĩnh hoàn toàn trên đất Li-băng, đã thấy xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của sự căng thẳng ở phía bên trong biên giới Xy-ri, những dấu hiệu ấy cứ lan rộng ra tùy theo chiếc Pơ-giô của viên tộc trưởng đi sâu vào xứ này.

Một tấm biển đầu tiên đặt ở phía bên phải đường núi chỉ cho khách du lịch biết hiện họ ở ngọn đồi cao 1910 mét so với mặt biển, xa xa một chút, thấy dựng lên một tấm biển nữa quảng cáo, “muốn đi Mát-xcơ-va xin đáp máy bay của A-e-rô-phơ-lốt” bằng tiếng A-Rập và tiếng Nga. Ở trên bảng ghi giờ những chuyến bay Đa-mát - Mát-xcơ-va hai tuần lễ một lần.

Chiếc xe Pơ-giô dừng lại ở trước hàng rào biên giới, đúng là một cái cửa sắt thực sự, cao hai thước và nằm ngang đường từ góc này đến góc kia. Ở hai bên sườn xe thấy xuất hiện những hiến binh Xy-ri và ba quân nhân vác tiểu liên tự động.

Ca-man Ta-áp có một cái cười khó mà có thể không răn rúm được. “Những người anh em Xy-ri đây rồi”, y nói với viên tộc trưởng. Ông này thì không thấy thoải mái như người bạn đồng hành của mình. Mác An A nóng tính, nếu những nhân viên hải quan mà tỏ ra không sẵn sàng giúp đỡ ông, ông sẽ phải trả thuế cao bằng giá mua chiếc xe mới của ông.

“Tôi thử xoay xở xem sao nhé, anh chờ tôi ở trong xe”. Vieev tộc trưởng nói với Ta-áp và bước từ trong xe ra.

Ta-áp không rời khỏi ghế ngồi, y thấy viên tộc trưởng tiến lại gần viên sĩ quan, y yên lặng ngăm một cái biển lớn dặt ở ven đường ngay cạnh trạm hải quan, một tấm bản đồ các nước A-rập ở giữa có một chấm đỏ, nước Xy-ri.

Từ xa, viên tộc trưởng cao tay vẫy vẫy ra hiệu. Ta-áp không hiểu gì cả vẫn ngồi yên trên ghếViên tộc trưởng chạy vội lại , phấn khởi vui cười, sau ông ta là một người Xy-ri mặc thường phục

“Tôi đã gặp một người bạn, một người bạn rất tốt. Chính anh ta phụ trách trạm biên phòng. Ra đây nhanh lên anh. Anh ta đây này”.

Thế là Ca-man Ta-áp dặt chân lên đất Xy-ri. Cảm giác lạ lùng nhưng thật khôi hài.

“Đây là anh bạn Ca-man Ta-áp của tôi. Một thanh niên cừ đấy. Anh ta đã bỏ cả công việc kinh doanh vận tải đường biển hiếm có ở Ác-hen-ti-na để về nước”.

Viên tộc trưởng reo lên xoay xoay vai Ta-áp và giới thiệu y với người bạn biên phòng.

“Đây là người anh em Nát-xe An-đanh Va-la-đi ở Cơ quan An ninh quốc gia, phụ trách đồn biên phòng này đấy. Với các bạn bè, anh ta là Áp-bu An-đanh. Đối với anh, cũng như thế…”.

“Cuộc gặp gỡ đầu tiên của mình với An ninh quốc gia Xy-ri” – ý nghĩ này thoáng qua Ê-li như một ánh chớp, nhưng y không đủ thì giờ để tự nghĩ rằng cuộc gặp gỡ này rút cục vẫn diễn ra trong một ngày đầm ấm. Y chia tay, bắt tay Áp-bu An-đanh, nghe thấy anh ta nói “Chúc anh trở về nước may mắn”

Chẳng có một nhân viên nào lại gần xe ô-tô cả, vì chính người phụ trách đã đích thân săn sóc mấy vị khách du lịch rồi. Trong lúc ấy, nhiều xe khác cũng tới đồn biên phòngCó tiếng còi rúc, nhưng chẳng ai buồn động đậy. Ở phương Đông chẳng có ai vội vã làm gì.

Nát-xe Va-la-đi ra hiệu cho mấy nhân viên mở cái hòm sau của xe Pơ-giô và bảo làm nhanh lên. Ta-áp cũng không buồn quay lại nữa. Chiếc va-li của y đựng cái “máy xay trộn” trong đó giấu cái đài phát nhỏ xíu, nằm đúng trong hòm xe nhưng ở mãi phía trong, dưới đống va-li của viên tộc trưởng. Thế là xong xuôi, các nhân viên hải quan đã làm xong nhiệm vụ của họ rồi. Họ đóng cải hòm xe lại. Đường mở rồi. Viên trưởng đồn Áp-bu An-đanh với các bạn của anh ta, không những ôm hôn ông tộc trưởng, mà ôm hôn cả người được ông này bảo trợ. Ca-man Ta-áp, lại còn gửi theo y những lời chúc tốt đẹp nhất lúc trở về Đa-mát.

Viên tộc trưởng và Ta-áp lại lên xe. Cánh cửa sắt mở rộng trước họ. Xy-ri đã mở rộng cửa ngõ của mình cho tên gián điệp từ I-xra-en tới. Viên tộc trưởng mở rộng nụ cười, kể với y:

“Tôi mất một trăm rưởi tiền Xy-ri về việc này đấy, một gã cừ thật, cái anh chàng Áp-bu An-đanh này, hắn chịu nhận món tiền ít ỏi vì có lẽ An ninh Quốc gia đã trả lương cho y quá thấp…”

Nhờ có viên tộc trưởng Mác An A tạo điều kiện đặc biệt giúp Ta-áp dễ dàng vượt qua biên giới Xy-ri, điều đó đã khuyến khích y tính đến chuyện tương lai một cách lạc quan. Có nhiều lúc y có cảm giác như mình là Ca-man Ta-áp thật và đang trở về gia đình, trở về quê hương đất nước của mình.

Chiếc xe hơi chạy từ từ xuống dốc núi đi từ biên giới Li-băng đến Đa-mát. Viên tộc trưởng khẩn khoản nhiều lần mời Ta-áp đến nghỉ vài đêm trong trang trại của ông ta ở gần Đa-mát. Nhưng Ta-áp lễ phép từ chối: “Tôi muốn ở lại Đa-mát. Tôi sẽ thuê một buổng ở khách sạn”.

“Vậy thì ít ra cũng phải là một khách sạn của bạn tôi”. Viên tộc trưởng đề nghị và Ta-áp vui vẻ nhận lời. Thế là hai người dừng lại ở trước một khách sạn nổi tiếng ở Đa-mát, khách sạn “Xê-mi-ra-mi” “Anh ở đấy rất tốt”. Viên tộc trưởng hẹn với y.

“ Đối đãi với ông khách đây như với tôi nhé!”. Viên tộc trưởng nói với người chủ khách sạn đang chạy ra để mang va-li của Ta-áp vào.

Hôm ấy là ngày mồng 10 tháng giêng năm 1962, ngày đầu tiên Ê-li sống ở Đa-mát.

Khách sạn Xê-mi-ra-mi mà điệp viên Ca-man Ta-áp vừa đến ở, trông bề ngoài không được tươm tất cho lắm. Xây dựng từ đầu thế kỷ, từ ngày ấy đến nay vẫn chẳng có sửa sang gì thêm. Tường quét vôi trắng, có nơi thì xanh, bị bóc ra từng mảng.

“Căn buồng đẹp nhất” mà người chủ khách sạn lấy làm kiêu hãnh dành cho Ta-áp, nhờ sự giới thiệu của viên tộc trưởng. trông rộng rãi nhưng đồ đạc thì cũ kỹ và ăn thông sang một buồng tắm mà vấn đề sạch sẽ thì có điều đáng ngờ.

Ca-man A-min Ta-áp đưa cho nhân viên đón khách hộ chiếu Ác-hen-ti-na của y để làm phiếu đăng ký với cảnh sát. Trong lúc ấy, Ta-áp đọc một cách vui đùa hai bản hướng dẫn của chính quyền Xy-ri treo trên tường, sau nơi tiếp khách. Một bản mang tiêu đề “Chương 25 về những qui định của Bộ Kinh tế quốc gia” buộc các chủ khách sạn phải tiếp đón kính cẩn và lễ phép với những khách du lịch vãng lai và yêu cầu cảnh sát Xy-ri bảo đảm cho khách du lịch, không để mất mát và không phải trả lại gì cả. Bản kia thì thông báo cho khách du lịch giá cả của khách sạn và chỉ dẫn rằng trẻ em dưới 16 tuổi được giảm 50%, những người phục vụ của khách du lịch được giảm 30%.

Ở trong buồng, Ta-áp chỉ mở có một va-li để lấy ra thứ gì thật cần thiết. Y quyết định phải thật nhanh chóng kiếm một căn nhà.

Tuy mệt nhọc sau cuộc hành trình, nhưng quá xúc động vì đã tới Đa-mát, đêm ấy mãi khuya, Ca-man Ta-áp mới ngủ. Sáng hôm sau, việc trước tiên của y là gọi điện thoại như đã hẹn trước với viên tộc trưởng Mác An A “ Nơi ở tại khách sạn rất tốt” – Ta-áp nói dối như thế - Nhưng tôi muốn mau chóng thuê được một ngôi nhà riêng”. Viên tộc trưởng hẹn sẽ đến gặp y ngay chiều hôm ấy. Trong khi chờ đợi, Ta-áp dạo bước đi chơi chuyến đầu tiên trên đường phố Đa-mát.

Khách du lịch ngoại quốc, dù là một người châu Âu hay là người của một xứ A-Rập láng giềng đi nữa cũng lập tức hút ngay sự chú ý của người qua lại trên thủ đô Xy-ri. Tình hình chính trị không yên ổn, những cuộc cách mạng và những vụ đảo chính liên tiếp, và sự tuyên truyền nhằm giáo dục quần chúng rằng “quân thù rình ngó ở khắp cửa ngõ” – như người ta có thể đọc ở trên những biểu ngữ chăng đầy ở những nơi công cộng, cuối cùng cũng khêu gợi sự cảnh giác của nhân dân thành phố này. Những khách người châu Âu, những nhà báo Mỹ, Pháp hoặc ai đi nữa những năm vừa qua đã từng ở Đa-mát nhiều ngày, đều có nhận xét chung về cảm giác đặc biệt đối với người nước ngoài, mà Đa-mát nổi tiếng hơn tất cả các thủ đô A-Rập khác ở Trung Đông. Nhân dân Xy-ri từ 10 đến 15 năm nay, rất ngại người nước ngoài và hết sức tránh quan hệ với họ.

Xy-ri, khác các nước A-Rập khác, như Ai-Cập chẳng hạn, ít nhờ đến nhân viên kỹ thuật hoặc chuyên gia nước ngoài giúp đỡ cho sự mở mang kinh tế và công nghiệp. Trong khi các đường phố ở Cai-rô hoặc ở A-lếc-xăng-đơ-ri nhan nhản những người nước ngoài, đủ các phái đoàn, khách du lịch đủ mọi quốc tịch khác nhau, vừa Tây Âu, Phi hoặc Liên Xô, thì ở Đa-mát, ta rất ít gặp những người nói một thứ tiếng ngoài tiếng A-Rập, hoặc có một nét gì đặc biệt để lập tức nhận ra là người nước ngoài. Một phần cũng đúng là Xy-ri có tiềm lực trí thức và kỹ thuật cao hơn mức trung bình của các nước A-Rập khác, nhưng phần khác, Xy-ri bao giờ và mãi mãi vẫn là một nước mà những bộ phận chủ chốt trong cơ quan chính quyền và kinh tế quốc gia phải do những công dân Xy-ri đảm nhiệm. Sự tan vỡ của khối Liên hiệp Xy-ri và Ai-Cập đã xảy ra, tựu trung lại cũng do Ai-Cập chiếm các bộ phận chủ chốt này của người Xy-ri và giao cho các quan chức người Ai-Cập cai quản.

Tình trạng này làm trở ngại khá nhiều cho nhiệm vụ của tên gián điệp I-xra-en Ê-li Cô-hen ở thủ đô Xy-ri.

Tuy nhiên, điệp viên Ta-áp vẫn còn có một con chủ bài rất quí mà chẳng có thể có một người nước ngoài nào có thể có được khi đặt chân lên Đa-mát. Đó là cái hình dáng và cử chỉ thật phù hợp với vai trò của y phải đóng – vai trò của đứa con lạc lõng “trở về Tổ quốc”. Hơn nữa, y đã tới Đa-mát thật đúng lúc. Khối liên minh với Ai-Cập vừa tan vỡ, các nhà chức trách còn đang rất lộn xộn, bị xâu xé giữa xu hướng chỉ thích quốc gia Xy-ri độc lập và xu hướng khác thì lại muốn tích cực hợp tác để nối lại sự hòa hợp với chính phủ của tổng thống Nát-xe. Nhưng bên này cũng như bên kia đều đang tìm kiếm sự ủng hộ của quần chúng và tiền tài cần thiết cho cuộc chiến đấu của họ. Ca-man Ta-áp, một thương gia nghe nói đã làm giàu ở Ác-hen-ti-na, có thể tự tiến cử như một nhân vật có nhiều quan hệ ở nước ngoài - ở châu Âu cũng như ở Nam Mỹ, và vì vậy có thể tìm kiếm sự ủng hộ của dân tha phương Xy-ri đối với chế độ mới được thiết lập ở Đa-mát.

Kể ra thì đây cũng là bí quyết thành công cực nhanh của tên gián điệp I-xra-en ở Xy-ri. Trong đám kiều dân Xy-ri ngụ ở Ác-hen-ti-na, Ta-áp đã gây được dư luận tốt xung quanh mình, khả năng có thể tập hợp được ở nước ngoài những người có cảm tình với chế độ; tổ chức những cuộc quyên góp ở những người này và khuyến khích những người di cư Xy-ri khác đặt vốn ở Xy-ri. Đường lối hoạt động này đã được thảo ra trong suốt thời gian cuối cùng của Ê-li Cô-hen tại Ten A-víp. Ngay khi vừa mới tới Đa-mát, y đã nhất thiết làm đúng như vậy với một sự bình tĩnh và tự tin như là cái “tật”. Ê-li Cô-hen đã tin tưởng vào vai trò mà y đã tự xác định đến mức mà sau này nếu có những kẻ nào quan hệ với y, đều bắt buộc phải tin như y vậy.

Ta-áp gọi dây nói nhờ viên tộc trưởng Mác An A tìm giúp một căn nhà kha khá. Nhưng khi viên tộc trưởng hảo tâm kia, hoan hỉ được giúp đỡ người thanh niên yêu nước, đến khách sạn Xê-mi-ra-mi đúng giờ hẹn thì Ta-áp, rõ ràng như bị kích thích lại thay đổi ý kiến:

-Còn có việc cần hơn nhà ở - Ca-man Ta-áp nói với ông tộc trưởng, khiến ông này ngạc nhiên và không tin ở tai mình nữa – Tôi đã quyết định ở Đa-mát lâu dài chứ không phải ở chơi đâu. Tôi mến cái thành phố này. Tôi cảm thấy như sống ở nhà vậy. Tôi thật không muốn ở lại đây như một khách du lịch với một thị thực người ta cấp cho bất cứ người nước ngoài nào. Tôi mong sẽ được cấp một thị thực cư trú thường xuyên. Và lèo thêm “Ngay bây giờ, ông có thể cùng tôi tới Bộ Nội vụ để nộp một lá đơn về việc này không?”.

Viên tộc trưởng vui vẻ nhận lời dẫn Ta-áp tới Bộ Nội vụ. Việc xin một chứng nhận cư trú được làm ngay. Chỉ cần khai vào một mẫu tờ khai thôi. Rồi cũng nhân dịp xin chứng nhận này, viên tộc trưởng không ngớt lời nói với viên chức phụ trách cấp chứng nhận những cảm nghĩ tốt đẹp về anh chàng trai trẻ Ta-áp và điều anh ta mong mỏi.

Những ngày sau, Ta-áp cùng với viên tộc trưởng gặp một vài cơ quan quản lý nhà đất và chủ nhà. Y hiểu thật sự y đang tìm kiếm cái gì - lý tưởng nhất là có một căn nhà sao cho thật gần với ngôi nhà của Bộ tổng tham mưu quân đội Xy-ri, ở Trung tâm Đa-mát, Ở Ten A-víp, trong suốt thời gian huấn luyện, y đã nghiên cứu cẩn thận sơ đồ của thành phố mà người ta cử y đến. Cho nên mỗi lần người ta giới thiệu cho y một căn nhà ở một khu phố ở xa Bộ Tổng tham mưu là y bắt buộc phải viện ra một lý do nào đó để từ chối, nào là căn nhà này to quá hoặc bé quá, hoặc đắt quá..vv..

Cũng trong dịp này, Ta-áp tập nhận xét địa thế ở Đa-mát. Ngồi bên cạnh viên tộc trưởng trên chiếc Pơ-giô 404 chạy trên các đường phố, y luôn mồm hỏi, không dấu diếm sự ngạc nhiên của mình về dinh thự này, công trình nọ hoặc vườn hoa công cộng kia. Đa-mát thật ra chẳng có gì giống như Bi-ê-rút, nơi mà Ta-áp đã cùng người dẫn đường ở qua hai ngày êm dịu. ở đây, tịnh không có một chiếc ô tô Mỹ nào, cũng không có sự náo nhiệt của một thành phố dành cho sự khoái lạc và vui sống như ở Bi-ê-rút. Đa-mát với những khách bộ hành ăn mặc kiểu A-rập hoặc quần Âu màu xám và cắt không đẹp, những quán cà phê, suốt ngày người ra kẻ vào, khiến người ta liên tưởng đến những tổ ong. Thật không nhầm khi người ta nói “hàng cà phê ở Xy-ri, cũng như tiệm rượu ở Pa-ri, thay thế môn thể thao dân tộc!”

Nhưng những tiệm cà-phê này, đối với Ta-áp, giữ một vai trò quan trọng trong công tác của y. Ngay khi được viên tộc trưởng giới thiệu với dăm ba người bạn mà ông ta tình cờ gặp nhau ở những nơi ầm ĩ này, Ta-áp hiểu ngay rằng đây là những nơi tập trung dư luận công cộng ở Đa-mát. Hơn tất cả mọi nơi khác ở thủ đô Xy-ri, ở đây người ta có thể cảm thấy mạch đập của thành phố. Giữa điếu thuốc lá và cốc cà-phê nóng, thơm phức, người ta bàn tính với nhau từ việc “thành lập” một chính phủ tương lai đến những bộ trưởng nào mất vai, mất vế hoặc sẽ nhận một bộ khác trong chính phủ. Đó là những chuyện ba hoa tầm phơ tầm phất, những giai thoại chính trị đáng ngờ, hoặc sai lệch, hoặc tin tức lan từ bàn này sang bàn kia. Thế nhưng tên gián điệp I-xra-en lại vểnh tai lên lắng nghe những câu chuyện ba hoa trong những tiệm cà-phê ở Đa-mát. Những câu chuyện này bao giờ cũng chứa đựng một phần tối thiểu của sự thật, và chính cái phần này luôn làm cho y chú ý. Ta-áp không bao giờ xen vào câu chuyện của viên tộc trưởng nói với bạn bè của ông ta. Y nghe thôi, nhớ lại người “huấn luyện viên” đã dặn y ở Ten A-víp: “Anh đừng có hấp tấp làm gì, hãy nhìn quanh anh đã , từ từ từng bước nhưng ăn chắc. Anh có đủ thì giờ cơ mà”. Y có tất cả các lý do để vui chơi thỏa thích trong những ngày đầu ở Đa-mát. Sau khi tới Đa-mát được bốn mươi tám tiếng đồng hồ, Ta-áp đã đi lang thang trên các đường phố chẳng phải lo lắng về bất cứ sự nghi vấn nào cả. Cơ quan an ninh quốc gia Xy-ri cũng không thể ngờ rằng có một tên gián điệp I-xra-en bậc thầy mới đến nằm trong đất của họ.

Viên tộc trưởng Mác An A còn đưa Ta-áp đến chơi ở một nơi mà dân Đa-mát ưa thích: Bờ sông Ơ-phơ-rát ở ngoại ô. Hàng trăm gia đình, đàn ông, đàn bà, trẻ em, có thói quên đến nghỉ ngơi, chơi bời ở bờ sông gắn liền với hàng nghìn năm lịch sử của vùng Trung Đông. Ta-áp và viên tộc trưởng cùng ngồi xuống bãi cỏ, cách không xa một toán chừng mười hai người lính xy-ri cũng nằm nghỉ ở dưới đất.

“Anh thấy ở đây binh lính nhiều hơn ở Đa-mát phải không?”. Viên tộc trưởng hỏi Ta-áp không có ẩn ý gì.. Rồi khô chờ y trả lời, y nói khẽ để không ai nghe thấy: “Anh phải biết rằng số nhân viên mật vụ ở khắp nơi trong nước là còn nhiều hơn cả binh lính đấy. Chớ có thổ lộ gì với ai trước khi anh biết người ấy là ai, họ ở khắp nơi”.

Tuy không có ý định tâm sự gì với ai, sau này Ta-áp cũng thấy rằng mỗi một đảng ở Xy-ri – dù là Đảng “BAATH” hay đảng đối lập khác, những người ủng hộ Nát-xe hoặc những người thù ghét ông ta đều có trong tay rất nhiều nhân viên mật vụ. Thật ra không phải những người mà người ta gọi chung là “nhan viên công tác mật”, họ chỉ là những cộng tác viên, những đảng viên bình thường, hoặc những người có cảm tình với Đảng này thường lui tới trụ sở của Đảng họ và những quán cà-phê trong thành phố, để lan truyền những tin tức chính trị và dỏng tai nghe ngóng quanh mấy cái bàn gỗ mà người ta vừa đánh cờ “Sét bét” vừa nhấm nháp cà-phê. Những quán cà-phê này ở Đa-mát gắn liền với các loại tổ chức chính trị, tùy theo với xu hướng của khách lui tới. Ngay trong các cuộc thẩm vấn những người tình nghi, cơ quan Xy-ri cũng không ngần ngại đặt câu hỏi: “ Anh thường hay lui tới quán cà-phê nào?”

Sau khi tới Đa-mát đã mười ngày, Ta-áp vẫn chưa tìm được nhà. Y quyết định tới hỏi người thứ hai, người mà y đã được giới thiệu ở Bu-ê-nốt Ai-rét: Kê-man A-lê-san, con trai Ap-đa-la A-lê-san, chủ bút tờ tuần báo A-Rập tại Bu-ê-nốt Ai-rét. Việc gặp gỡ giữa tên gián điệp I-xra-en và Kê-man có một tầm quan trọng sinh tử cho y.

Ngày thứ mười sau khi tới Đa-mát, Ta-áp gọi điện thoại cho Kê-man, tự giới thiệu qua loa và lấy bức thư giới thiệu của cha Kê-man mà y mang theo làm lý do để xin gặp. Kê-man đã biết cả rồi: Ngay từ mùa hè năm 1961, cha anh ta đã báo cho con trai biết, nay mai “người thanh niên yêu nước” Ca-man A-min Ta-áp sẽ tới Đa-mát. Hai người hẹn sẽ gặp nhau ngay ngày hôm ấy ở một quán cà-phê. Ta-áp trình bầy vấn đề nhà ở trước Kê-man A-lê-san và anh ta tuyên bố sẵn sàng giúp đỡ Ta-áp.

Biết trước là đã chiếm được lòng tin của chàng thanh niên Xy-ri rồi, Ta-áp không chút ngần ngại trình bày với Kê-man vấn đề nhà cửa:

“Tôi cần một căn nhà để ở và đồng thời cũng để dùng làm văn phòng công ty xuất nhập khẩu của tôi, vì tôi có ý định sinh sống ở Đa-mát chứ không phải ở chơi, như vậy tôi cần một căn nhà chắc chắn, ở một khu nào tôn tốt, ví dụ như khu phố Áp-bu Ru-ma-na phồn vinh chẳng hạn”.

Ta-áp không đả động gì đến cái khu này chính là nơi có Bộ Tổng tham mưu Xy-ri ở.

Việc Ta-áp thích ở khu phố Áp-bu Ru-ma-na hơn là khu phố khác dưới mắt Kê-man không có gì là lạ cả, vì cũng có nhiều cơ quan đại diện thương mại, nhà hàng và những trụ sở xã hội, xí nghiệp công nghiệp chọn ở phố này. Vài đại sứ quán nước ngoài trong đó có sứ quán Ấn Độ cũng nằm trong khu vực này, Kê-man hứa với Ta-áp sẽ cố gắng tìm cho y căn nhà y đang kiếm.

Hai ngày sau, Ta-áp gặp lại người con trai của ông bạn A-lê-san của y, và hai người để cả buổi chiều đi thăm thú những nhà ở phố Áp-bu Ru-ma-na và nhiều biệt thự khác. Nhưng Ta-áp chỉ ưng một căn hộ ở một ngôi nhà lớn, vì hai lý do thật đơn giản. Một mình trong một biệt thự, y lo ngại sẽ bị những người bên cạnh để ý về những hoạt động sau này của y. Mặt khác, còn chuyện cái dây trời của đài phát nữa, y bắt buộc phải chọn một gian nhà mà ở trên mái nhà này đã có sẵn một số dây trời đài vô tuyến truyền hình, để khi y đặt thì không ai thấy cái dây trời đài của y.

Nhờ có Kê-man, ngày hôm ấy tên gián điệp cũng tìm được ngôi nhà mà y mất bao nhiêu công sức tìm kiếm, một căn nhà năm buồng ở khu Áp-bu Ru-ma-na, có sẵn đồ đạc kiểu thành thị phương Đông, những thảm đỏ rất đẹp trải từ đầu này tới đầu kia ở buồng khách và buồng ngủ. Căn nhà có đủ tiện nghi, có một nhà bếp hiện đại và một buồng tắm xinh xắn. Nhờ có anh bạn Kê-man, Ta-áp mặc cả giá thuê nhà và bớt được một chút, y thỏa thuận với chủ nhà là mỗi năm trả 3900 đồng Xy-ri. Sau cùng, cũng bằng xe ô-tô của Kê-man, Ta-áp chở đến nhà mới thuê, va-li của y trong đó có “máy xay trộn” trứ danh.

Chỗ ở yên tất, Ta-áp không để phí thì giờ. Y mở va-li, bỏ ra những dụng cụ làm bếp trong đó có cái “máy xay trộn”, tháo ra và sửa soạn cái đài phát nhỏ xíu, đồ vật huyền diệu, cái “cuống rốn” thường xuyên nối liền y với I-xra-en.

Một ngọn đèn có chao đèn lớn, kiểu ở đầu thế kỷ treo ở trần buồng ngủ. Đứng trên ghế, Ta-áp với tay tới ngọn đèn một cách dễ dàng, y tháo ngọn đèn và cái chao đèn ra, rồi nhấc đến cái vòng bằng đồng – giống như cái đĩa chạm chổ cũng treo trên trần nhà. Y thấy chỗ này là nơi thật lý tưởng để giấu cái đài.

Ta-áp chỉ cần một chiếc đài thu thanh là có thể bắt được đài phát thanh từ I-xra-en đi. Căn nhà y vừa thuê được thì không có loại đài này. Y buộc phải mua một chiếc đài “Phi-líp” loại thông thường vẫn thấy ở cửa hàng vậy.

Sau cùng y mắc dây trời lên nóc nhà - loại dây đặc biệt ở trong máy cạo râu bằng điện mà người ta đưa cho y ở Ten A-víp. Những hàng xóm của y vẫn thường thấy những người thuê nhà đặt lấy dây trời đài thu thanh hoặc vô tuyến truyền hình của mình trên nóc nhà. Ta-áp cũng trèo lên nóc nhà một mình giữa ban ngày và đặt lấy dây “ăng-ten”, trông bề ngoài giống như các dây “ăng-ten” khác đã đặt trên nóc nhà này từ trước, rồi y khéo léo đặt cái dây trời này ít nhiều quay về hướng I-xra-en. Cái dây “ăng-ten” lại có cái đặc biệt là có thể vừa thu vừa phát điện tín một lúc. Muốn thế chỉ cần chuyển nhẹ cái cắm điện ở đầu dây “ăng-ten” đặt ở trong buồng ngủ; nối liền vào cái đài “Phi-líp”, dây “ăng-ten” này có thể bắt được các đài phát thanh ở Ten A-víp, và nếu nối liền với cái đài phát nhỏ xíu kia thì dây “ăng-ten” lại có tác dụng chuyển điện tín đi.

Căn hộ của tên gián điệp Ca-man Ta-áp ở trên gác tư và là tầng cao nhất của ngôi nhà. Khoảng cách giữa cửa sổ và mái nhà như vậy là ngắn và đường dây “ăng-ten” kéo từ trên tường phía ngoài tới mái nhà ảnh hưởng tốt tới chất lượng của những lần phát tin vì đường dây “ăng-ten” càng ngắn bao nhiêu thì càng ít tiếng nhiễu có thể làm trở ngại những lần phát tin bấy nhiêu.

Ta-áp còn nghĩ thêm một thuận tiện khác khi được ở căn gác tư. “Chẳng may bị bắt, tôi có thể lao ở trên gác tư xuống và thế là xong”. Sau này y nói với cấp trên của y ở I-xra-en như vậy.

Mắc dây “ăng-ten” và đài xong, ta-áp lặng lẽ đứng ngắm nghía qua cửa sổ giữa cửa phòng khách đã đặt trước tầm mắt của y: Đúng, đằng trước ngôi nhà của y là Bộ tham mưu Xy-ri với dây “ăng-ten” mắc chi chít trên nóc nhà, xung quanh là hàng rào dây thép đặt bốn phía, ngăn không cho người ra vào. Những binh lính Xy-ri vũ trang đầy người đang đứng canh ở bốn góc nhà.

Hôm ấy là ngày 12 tháng hai năm 1962. hai mươi mốt giờ đêm, Ca-man Ta-áp sử dụng lần đầu tiên đài phát của y. Y đánh một loạt ngắn tín hiệu theo qui ước về I-xra-en.

Tín hiệu của Ta-áp bắt được ngay. Chỉ khoảng vài giây, y vui mừng nhảy cẫng lên khi nhận được trả lời của I-xra-en: “Chúng tôi sẵn sàng nhận tin của anh”. Rồi y gửi trên làn sóng điện con số đã định trước với Ten A-víp: “Tám mươi tám”, nhưng đánh thêm, tất nhiên là bằng mật mã, sáu tiếng mà cả Ten A-víp lẫn y, đều không định trước với nhau. Sáu tiếng ấy là “Đối diện Bộ tổng tham mưu”.

Với Ten A-víp, con số “88” nghĩa là: “Đã tìm được nhà rồi, bắt đầu hoạt động”. Ê-li Cô-hen thấy cần phải nói rõ với Ten A-víp biết căn nhà ở đâu, và thuộc vào hạng nào.

Ngay buổi tối 12 tháng hai, Đéc-vi-sơ đã đọc bức điện của Ê-li Cô-hen và gạch đỏ thật đậm những chữ: “Đối diện Bộ tổng tham mưu”. Người học trò của ông có vẻ khéo xoay xở ở Đa-mát đấy.

N TRANH (The Spy Game in the Middle East) ebook©MotSAch —★— TVE-4u©Vnmilitaryhistory Nhà xuất bản Công an nhân dân
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Y. Ben Porat, Uri Dan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.