Điệp Viên Từ Ixraen Tới

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 13 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Xii. Tham Quan Vùng Biên Giới

❊ ❊ ❊

Tạm thời lúc này vì dọc biên giới I-xra-en – Xy-ri vẫn còn căng thẳng, nên Ca-man Ta-áp phải làm cho đầy đủ vai trò của y, tổ chức cho hoàn tất công việc xuất nhập khẩu.

Ngay từ những tuần lễ đầu ở Đa-mát, Ca-man Ta-áp đã gặp gỡ một số các nhà công thương để đề nghị họ xuất khẩu sang châu Âu, đặc biệt là Muy-ních và Duy-rích, những loại bàn kiểu Đa-mát, một thứ hàng mỹ nghệ, phần nhiều dùng làm bàn để chơi cờ “sét-bét” và là một thứ trang trí tự nhiên của những quán cà phê và tiệm ăn ở Xy-ri và Ly-băng. Y còn tìm thấy nhiều loại mỹ phẩm sản xuất ở Xy-ri, nhiều loại đồ trang sức cổ, kim cùng nhiều thứ đồ dùng bằng da. Theo ý của y, đều có thể cung cấp cho thị trường châu Âu được. Tên gián điệp thận trọng giải thích với các nhà buôn rằng y có quan hệ với một công ty nhập khẩu quan trọng ở châu Âu, có trụ sở ở Muy-ních và Duy-rích, điều đó cho phép y xuất khẩu các hàng mỹ nghệ phẩm và loại bàn của địa phương mà ở châu Âu “rất quí”. Những cuộc thương thuyết này cũng khiến cho Ta-áp trong khi chờ đợi có thể viết thư trao đổi với người đại diện của công ty này ở châu Âu, không ai khác, chính là anh bạn Xa-linh-gơ của y.

Ta-áp gửi cho Xa-linh-gơ một loạt thư từ buôn bán thuần túy, trình bày những khả năng mua vào những đồ mỹ nghệ ở Đa-mát, ghi giá cả hàng hóa, những điều kiện bán ra và thanh toán. Thỉnh thoảng y lại gửi kèm theo thư những quyển in mẫu hàng đầy đủ xin của những nhà buôn ở Đa-mát. Công ty xuất nhập khẩu của Xa-linh-gơ tất nhiên có trả lời thư từ của Ta-áp và như vậy hình thành sự trao đổi thư từ giữa tên gián điệp ở Đa-mát và đầu mối của y ở châu Âu. Việc trao đổi thư tín này sau đấy giúp cho tên gián điệp gửi về cho Cục tình báo I-xra-en, qua Muy-ních và Duy-rích nhiều loại tin tức và cả loại phim nhỏ xíu. Cho tới khi xảy ra một sự kiện bi đát khác, làm thay đổi tình trạng chính trị ở Xy-ri.

Sáng sớm ngày 28 tháng ba, sau giờ phát thanh những khúc nhạc quân hành, đài phát thanh Đa-mát phát đi bản “Thông cáo số 26” do đại tá Nát-la-vi ký, nêu rõ: “Bộ tham mưu quân đội Xy-ri đã nắm trong tay mọi công việc của Nhà nước nhằm đảm nhiệm việc ổn định tình hình chính trị trong nước và bảo đảm mọi quyền lợi cùng sự tự do dân quyền của nhân dân. Mọi âm mưu chống lại chính sách của Bộ tham mưu của quân đội sẽ bị xử lý nghiêm ngặt. Biên giới, bến tàu và sân bay đều bị đóng cửa cho đến khi có lệnh mới”.

Ta-áp đã phục sẵn ở trạm quan sát sau màn cửa của phòng khách. Y trông thấy có nhiều xe tăng Xy-ri gác xung quanh ngôi nhà của Bộ tham mưu. Trong khi aayys, đài phát thanh tiếp tục phát đi những bản thông cáo khác đều do đại tá Nát-la-vi ký. Một trong những bản thông cáo này nói rằng: “Chính phủ trước đã mưu toan gieo rắc sự chia rẽ nội bộ trong quân đội”. Một bản thông cáo khác tuyên bố: “Vấn đề Pa-lét-xtin là sự quan tâm hàng đầu của quân đội. Chúng tôi sẽ làm tất cả trong quyền hạn của mình để giải phóng Pa-lét-xtin khỏi tay bọn Do thái xâm lược”.

Được biết từ miệng Ma-a-di En-din nói rằng đại tá Nát-la-vi dự định một vài thay đổi trong thành phần của chính phủ Đa-mát, nguồn tin mà y đã lập tức báo cho Ten A-víp, Ta-áp bèn đi tìm viên trung úy trẻ tuổi. Nhưng điện thoại của anh ta sáng hôm ấy không có ai trả lời.

Ta-áp quyết định đến quán cà-phê ở thủ đô, ở đây y tin chắc có thể nhặt được những tin đồn đại, nhất là tin tức về vụ đảo chính và những người cầm đầu chính. Y gọi điện thoại cho viên tộc trưởng Mác An-A, mời ông ta đến gặp y ở một quán cà-phê có tiếng nhưng viên tộc trưởng từ chối, muốn ở nhà chừng nào tình thế chưa ra ngô ra khoai. Chỉ hai ngày sau, Ta-áp cũng gặp được viên trung úy Ma-a-di En-din cùng đi với A-lê-san và y đã moi được từ miệng anh ta những tin tức thuộc loại quan trọng nhất.

Ngay từ đêm đầu xảy ra cuộc đảo chính của Nát-la-vi, cấp trên của tên gián điệp ở Ten A-víp đã đặt cho y hàng lô câu hỏi cụ thể và vắn tắt về cuộc đảo chính và về những nhân vật chính có liên quan. Nhờ tin tức thu lượm qua bạn bè, Ta-áp đã có thể trả lời các câu hỏi, làm hài lòng Cục tình báo trung ương Ten A-víp. Bát đầu từ ngày 28 tháng ba và thực tế đến cuối tháng tư, Ta-áp không lúc nào ngừng phát tin đi. Mỗi đêm, thường vào khoảng 20 đến 22 giờ, đôi khi khuya hơn, tên gián điệp đóng cửa sổ vào, lấy cái đài phát từ chỗ giấu ra, gọi Ten A-víp và chờ tín hiệu đã định trước, rồi đánh đi bằng mật mã những tin tức trên làn sóng điện. Trong suốt một tháng ròng, đối với cấp trên của y ở I-xra-en, Ta-áp trở thành một người cung cấp vô tận những tin tức chính trị. Những bức điện của y lập tức được dịch ngay và Cục tình báo chuyển thẳng lên Bộ tham mưu quân đội. Sáng hôm sau, một bản sao tóm tắt những tin tức của y đệ lên văn phòng của thủ tướng Ben Gu-ri-on.

Ta-áp rất mừng vì chú của Ma-a-di, tham mưu trưởng Áp-đun Ka-rim Da-he En-din vẫn giữ nguyên chức cũ.

Vào khoảng từ 30 tháng 3 đến 30 tháng 4, Ta-áp gặp Ma-a-di chừng mươi bận. Những chuyện lặt vặt và ngay cả những chuyện la cà nhặt nhạnh của các giới trong quân đội mà Ma-a-di kể lại với y, cũng là nội dung chính của những bức điện y gửi cho Ten A-víp. Những tin tình báo này cho biết các sĩ quan vừa lật đổ chính phủ vẫn là những sĩ quan cách đây mấy tháng, đã thúc đẩy việc đánh đổ khối liên hiệp Ai-Cập Xy-ri. Tham mưu trưởng và quân đội không tham gia vào vụ đảo chính thật sự, nhưng có bảo đảm cho hoạt động của “con người hùng”, người bày mưu trong những biến cố, đại tá Nát-la-vi. Ông này, bốn mươi tuổi, người của cánh hữu ôn hòa, là một viên chức cao cấp của Bộ Quốc phòng, thời kỳ liên hiệp với Ai-Cập, đã là phụ tá cho Toàn quyền Ai-Cập ở Xy-ri, Thống chế Áp-đun Ha-kim A-me.

Ở “Hội đồng cách mạng”, tổ chức tạm thời thay quyền Chính phủ, bên cạnh Nát-la-vi có đại tá Áp-đen Ga-ni Đa-ha-man, chỉ huy quân khu Đa-mát, phụ tá. Nát-la-vi và Đa-ha-man đã thiết lập chế độ quân sự để bảo vệ nền độc lập quốc gia của Xy-ri. Cùng một lúc, hai người tìm cách hòa giải với Nát-xe, nhưng trên cơ sở của sự công nhận lẫn nhau và trong danh dự.

Trong những bức điện đánh đi, Ta-áp đã nói rõ ràng, theo những nguồn tin quân sự, không nên chờ đợi có một sự thay đổi hoàn toàn về tình hình biên giới I-xra-en – Xy-ri.

Rất nhiều lần những tin tức của Ta-áp đánh đi buổi đêm, sáng hôm sau đã chính thức được xác nhận.

Ví dụ như việc xảy ra ngày 30 tháng ba chẳng hạn. Hôm ấy, tham mưu trưởng Da-he En-din họp báo, đài phát thanh Đa-mát truyền đi và tất nhiên được I-xra-en lắng nghe. Điều mà Cục tình báo trung ương Ten A-víp không biết là lần ấy, tên gián điệp Ca-man Ta-áp cũng cùng với các nhà báo họp xung quanh tướng En-din. Tên gián điệp được Ma-a-di En-din cháu trai viên tướng, mời ngồi cúng các phóng viên báo chí người địa phương và ngoại quốc ở Xy-ri.

Trong cuộc họp báo, Ta-áp nhận thấy những sĩ quan đã lật đổ chính phủ đều muốn đứng trong vòng bí mật, để dành phần danh dự xuất hiện trước công chúng cho tướng tham mưu trưởng En-din thuộc dân tộc Đrudơ. Có thể nói, đây là sự bảo đảm quân đội không hề có mưu đồ định chiếm lại quyền hành trong tay cánh dận sự. Tướng En-din là quân nhân chuyên nghiệp, có một ưu thế bất khả xâm phạm trong quần chúng Xy-ri. Nhưng mặt khác, cũng không thể nào người Đrudơ lại có thể có tham vọng giữ một cương vị chính trị cao nhất, ở một nước đã số theo đạo Hồi. Sau cuộc họp báo này, Ta-áp giải thích với Ten A-víp rằng: Tướng En-din chỉ là cái bình phong, nấp đằng sau là đại tá Nát-la-vi và toán sĩ quan do đại tá Đa-ha-man lãnh đạo. Trái với những lời tuyên bố của En-din, chính những người này mới là những người quyết định mọi vấn đề quan trọng.

Hai ngày sau khi xảy ra biến cố chính trị, sáng mồng hai tháng tư đã xảy ra cuộc nổi dậy quân sự có tính chất địa phương tại thành phố Hôm, ở miền Bắc Xy-ri. Một nhóm sĩ quan mệnh danh là “Những sĩ quan tự do” tuyên bố chống lại chính phủ Đa-mát. Những sĩ quan này tán thành việc Xy-ri trở lại khối liên hiệp Xy-ri Ai-Cập. Họ còn đòi đuổi ra khỏi Bộ chỉ huy quân sự tối cao tất cả những sĩ quan đã tham gia cuộc đảo chính. Ít lâu sau, thành phố A-lép-pô cũng đi theo cuộc nổi dậy của đám sĩ quan ở Hôm. cả hai thành phố cùng tuyên bố ở tình trạng giới nghiêm. Đã có những cuộc xung đột giữa binh lính và cảnh sát, người ta thấy có nhiều người bị thương và nhiều người chết.

Tình hình ở Xy-ri quay thật nhanh về tình trạng nội chiến. Các sĩ quan nổi loạn ở Hôm và A-lép-pô liền gọi điện thoại cho Đại sứ quán Ai-Cập ở Li-băng, yêu cầu chi viện gấp.

Những biến cố này, lại gây nên sự rối loạn hoàn toàn ở Xy-ri một lần nữa, đã tạo thuận lợi cho tên gián điệp I-xra-en ở Đa-mát. Vấn đề dặt ra với y và từ đó y phải giải đáp gấp cho cấp trên ở Ten A-víp là “liệu những sĩ quan cách mạng ở Đa-mát có còn nắm giữ chính quyền sau vụ nổi loạn của những sĩ quan tự do không?”.

Hôm ấy, tên gián điệp đánh cho Ten A-víp một bức điện:

“Cuộc đấu tranh của những sĩ quan phiến loạn ở Hôm và A-lép-pô chống lại chính quyền Đa-mát thúc đẩy nhanh chóng sự sụp đổ của lũ quân phiệt Cách mạng. Những kẻ cầm đầu cuộc đảo chính vừa qua thế nào cũng sắp bị lật đổ!”.

Lần này, tên gián điệp lại nhận định đúng, một phần do y tin tưởng vào những tin tức tuyệt diệu và cũng do có phần phân tích đúng đắn tình hình những lực lượng đang có mặt. Ngày 3 tháng tư, chưa đầy 36 giờ sau vụ nổi dậy ở miền Bắc, đại tá Nát-la-vi và sáu người bạn của ông ta bí mật trốn sang Li-băng và đáp một máy bay đi Bi-ê-rút tới Duy-rích. Chính phủ Thụy sĩ cấp cho họ thị thực du lịch và họ đến ở một khách sạn sang tại Lô-dan (gần hồ Lê-man). Như mọi khi, vẫn chỉ những nhân vật dân sự xúi giục vụ đảo chính quân sự là phải chịu đựng những hậu quả bất hạnh.

Xy-ri mất quá chóng sự lãnh đạo chính trị. Sự hỗn loạn của dân chúng đi tới cực điểm. Chỉ còn tướng En-din là ở lại chức vụ tham mưu trưởng. Anh chàng cháu của En-din kể lại với Ta-áp rằng tướng En-din không hề có ý định làm chính trị, nhưng những nhà lãnh đạo dân sự còn do dự chưa nắm lại chính quyền. Sau hôm Nát-la-vi chạy trốn, khi lại thăm anh bạn Ta-áp ở nhà riêng, Ma-a-di nói về chú anh ta: “ Từ một tuần lễ nay, ông ta không ngủ. Ông ta làm hết khả năng để khuyến khích một vài nhân vật nào đó ra đứng đầu chính phủ nhưng tôi không tin là ông ta có thể đạt được. Chẳng anh nào muốn liều mạng cả…”

-Nhưng hiện nay thì ai là người có thể nắm được vận mệnh của Xy-ri? Ta-áp thăm dò.

Tôi sẽ nói cho anh một câu chuyện riêng nhưng lúc nào cũng phải giữ tuyệt đối bí mật đấy - Ma-a-di rào đón trước và nói tiếp – Cũng hôm đó, tham mưu trưởng đã gặp một chính khách có tiếng tăm đề nghị với ông ta giữ chức Tổng thống nước Cộng hòa Xy-ri. Đó là bác sĩ Na-dim-en Cút-di.

-Thế anh cũng có nhúng vào những biến cố chính trị này sao?. Ta-áp hỏi tâng bốc thêm làm như không biết những tham vọng của viên trung úy trẻ tuổi.

-Không tham dự trước khi được phong quân hàm thiếu tá. Ma-a-di vừa cười vừa trả lời.

Ngày 14 tháng tư, trung tâm ở Ten A-víp nhận được bức điện như sau của Ta-áp:

“Hiện có ba nhóm sĩ quan khác nhau hoạt động trong lòng quân đội:

aNhóm chính trong đó gồm những người trung thành với Nát-la-vi đang đấu tranh vì độc lập dân tộc và chống mọi sự liên hiệp với Ai-Cập

bMột nhóm gồm toàn những sĩ quan của sư đoàn đang bảo vệ biên giới với I-xra-en, những sĩ quan này tự xưng là xã hội chủ nghĩa.

cMột nhóm nhỏ sĩ quan thân Nát-xe, không có ảnh hưởng rõ rệt đối với tình hình chung”

Ten A-víp rút ra từ đây kết luận: Chừng nào vẫn còn những cuộc lục đục nội bộ ở Xy-ri, thì dọc biên giới chung vẫn còn yên ổn. Nhưng cũng nhờ có những tin tức tổng hợp về Xy-ri, nhất là những tin tức của Ca-man Ta-áp mà I-xra-en biết rằng, trận đánh ở Nu-kê-íp đã khiến Nát-la-vi thấy cần phải tăng cường những vị trí của Xy-ri trên dọc biên giới với I-xra-en, vì lo ngại I-xra-en có thể lại tấn công những vị trí này lần nữa. Như vậy là Nát-la-vi đã tự làm suy yếu lực lượng của mình. Sự vắng mặt của một số sĩ quan – lúc ấy còn ở ngoài biên giới, khi xảy ra cuộc nổi dậy ở Hôm và A-lép-pô, làm cho ông ta mất sự trợ giúp của những người bạn trung thành đáng lẽ có thể cứu được giới quân nhân đang nắm chính quyền khỏi bị sụp đổ.

Kết luận thứ ba và cuối cùng của Ten A-víp vào tháng tư năm 1962, đã được xác nhận trên giấy trắng mực đen trong hồ sơ cá nhân của Ê-li Cô-hen: “Điệp viên ở Đa-mát thật quả đã “ăn sâu” một cách chắc chắn sau một thời gian tiếp cận rất nhanh. Cái “vỏ bọc” của y đối với đám thương gia quả là không thể chê được, số quan hệ của hy hàng tuần cứ mở rộng thêm ra, ở chỗ nào y cũng cư xử đúng như một người Xy-ri yêu nước. Những tin tức của y rất chính xác và biết đoán trước một cách có phân tích đối với mọi thử thách”. Ca-man Ta-áp đã thành công và trở nên một phần tử mật thiết của giới chính trị suốt ngày lúc nào cũng đông nghịt trong những tiệm cà-phê ở Đa-mát.

Mãi tới tháng năm 1962, Ta-áp mới nhận được lệnh của Ten A-víp điều tra về số phận của tên hạ sĩ Đơ-via, mất tích ở Nu-kê-íp. Lần đầu tiên hôm ấy, Ta-áp gặp những khó khăn kỹ thuật khi nhận điện mật của Ten A-víp. Y bắt buộc phải gọi lại và yêu cầu nhắc lại câu hỏi. Việc xảy ra rất sớm vào buổi sáng, Ta-áp nhận bức điện thứ hai và dịch ngay. Bức điện viết:

“Tên lính bị mất tích từ trận Nu-kê-íp, Y-a-cốp Đơ-via, mười chín tuổi, hạ sĩ. Thử tìm xem nếu nó có ở bên anh, sống hay chếtHết!”

Ta-áp biết là việc gì rồi. Đôi khi hắn có thói quen bạo phổi dám nghe những buổi phát thanh của đài phát thanh I-xra-en phát bằng tiếng A-Rập.

Tất nhiên là Ta-áp không dám nghe những buổi phát thanh bằng tiếng Hê-bơ-rơ của đài Giê-ru-xa-lem. Nhưng y nghĩ rằng cũng chẳng có nguy hiểm gì khi năm thì mười họa mới mở đài nghe buổi phát tin tức I-xra-en bằng tiếng A-Rập. Cũng do nghe một buổi phát thanh ấy mà y được biết tin mất tích của viên hạ sĩ trẻ tuổi, y còn biết thêm rằng chính quyền Xy-ri phủ nhận những luận cứ của I-xra-en và cho là không biết gì về số phận của Y-a-cốp Đơ-via cả.

Nhiệm vụ của Ten A-víp vừa giao cho Ta-áp đã làm y lo nghĩ suốt cả thời gian công tác ở Xy-ri. Y không hề bỏ lỡ một dịp nào để dò hỏi về số phận của người mất tích. Nhưng ròng rã ba năm, vẫn uổng công vô ích. Tên lính Đơ-via tan như mây khói không để lại dấu vết gì.

Ma-a-di En-din là người đầu tiên mà Ca-man Ta-áp đặt vấn đề hỏi về số phận của tên hạ sĩ I-xra-en. Việc này xảy ra ở nhà viên tộc trưởng Mác An A, hôm Ta-áp cùng với Ma-a-di và anh chàng A-lê-san đến chơi. Vì là một nhân vật nổi tiếng ở Đa-mát, nên viên tộc trưởng tiếp đãi Ta-áp và mấy người bạn của y với tất cả sự quí mến dành cho chức vụ quân sự của người này và cương vị xã hội của người kia. Còn Ma-a-di và A-lê-san không khỏi ngạc nhiên trước tình thân mật của viên tộc trưởng với Ca-man Ta-áp.

Ngồi xung quanh viên tộc trưởng trên thềm ngôi nhà xinh đẹp bằng gỗ của ông ta, ở cách thủ đô có vài cây số, vừa nhấm nháp loại cà-phê cổ truyền và ăn các thứ mứt, người ta nói hết chuyện này đến chuyện kia thì Ta-áp chẳng chút e dè gì, hỏi Ma-a-di:

Đến bao giờ chúng ta đi xem biên giới I-xra-en?

Viên tộc trưởng vì không rõ sự cần thiết của cuộc đi thăm như vậy, cắt lời Ta-áp:

Thăm biên giới I-xra-en? Có khối nơi tham quan đẹp đẽ ở Xy-ri. Có cái gì đáng xem ở biên giới ngoài mấy tên lính Xy-ri ra?.

-Tôi muốn trông thấy quân thù, Ta-áp bình thản đáp.

Ma-a-di liền bảo với Ta-áp là đến thứ sáu sẽ dẫn y ra biên giới.

Hôm ấy là ngày thứ sáu tháng 5 năm 1962, tên gián điệp I-xra-en cùng ngồi xe hơi của anh chàng cháu viên tham mưu trưởng mang biển số của quân đội Xy-ri, đi thăm những vị trí phòng ngự nhìn sang lãnh thổ I-xra-en trên bờ hồ Ti-bê-ri-át. Trên đường đi, Ma-a-di nói với Ta-áp là hai người có thể tham quan tất cả các đồn, trừ đồn Nu-kê-íp ra.

“Nu-kê-íp được coi là khu vực quân sự tuyệt đối bí mật, chúng tôi đang xây đắp lại đồn phòng ngự”, viên trung úy giải thích để thay lời xin lỗi.

Trên đường đi ra biên giới, đã cách xa Đa-mát hơn một trăm cây số rồi. Ta-áp hỏi Ma-a-di đủ mọi loại câu hỏi về sự diễn biến các trận đánh ở Nu-kê-íp. Ma-a-di nhấn mạnh nhiều về những chiến lợi phẩm mà quân đội Xy-ri đoạt được, thứ nhất là mấy xe bọc thép, theo lời anh ta, hầu như còn nguyên vẹn và có thể sử dụng ngay bây giờ cho quân đội Xy-ri.

Những tù binh I-xra-en hiện ra sao?

Những tù binh I-xra-en? Những tù binh nào vậy? Chúng tôi có bắt được tù binh nào ở Nu-kê-íp đâu. Ma-a-đi đáp lại có vẻ ngạc nhiên. Câu trả lời của Ma-a-di là chân thật. Tuy nhiên, Ta-áp vẫn hỏi tiếp:

Liệu có đúng là chúng ta không bắt được tù binh ở một trận đánh như vậy không?

-Tôi không tham gia trận này. Nhưng theo tôi biết thì chẳng có một tên tù binh nào cả. Ma-a-di quả quyết như thế. Rồi hai người nói sang chuyện khác.

Sau hai giờ đi đường, hai người đến đỉnh những ngọn đồi nhìn xuống Ti-bê-ri-át. Từ đây, đường hẹp nhưng dễ đi, chạy thoải chữ chi xuống sườn đồi hoang vắng và gồ ghề của cao nguyên. Đây đó thấy những lều vải dựng bên dọc đường tránh nắng. Ma-a-di gần như đi lại khắp mọi nơi chẳng phải xuất trình đến giấy phép đi lại tự do của anh ta nữa. Đôi cầu vai gắn quân hàm trung úy của anh ta đủ làm cho những hàng rào chắn ngang đường phải nhấc cao lên. Chỉ có mỗi một lần người ta hỏi giấy tờ của anh. Đã để sẵn ở trong hộp đựng găng tay ở trong xe. Ma-a-di nghiêng về phía tên lính và chỉ vào Ta-áp, thì thầm bí mật:

“Cái ông cùng đi với tôi làm nhiệm vụ….đặc biệt” và chiếc hàng rào chắn được cất lên ngay.

Tên gián điệp để mắt khắp nơi. Y ghi nhớ tất cả những gì đã trông thấy. Y hiểu rằng cái dịp được tận mắt nhìn thấy những đồn phòng ngự của Xy-ri như thế này không phải là dễ có. Cái làm y ngạc nhiên nhất là khi nhìn thấy những khẩu đại bác 122 ly do Liên Xô chế tạo, bố trí trên những ngọn đồi của Xy-ri và trải ra trên sườn đồi phía tây, mà những quả đạn có thể sát thương ở tầm xa chừng hai mươi cây số. Nhờ có những khẩu đại bác này, các đơn vị Xy-ri có thể kiểm soát được phần lớn thung lũng Giuốc-đanh bằng những loạt đạn không ngớt. Chỉ mới có một quãng đường đi cùng với Ma-a-di En-din thôi mà Ta-áp đã đếm được tám mươi khẩu đại bác loại này. Y biết rằng hiện I-xra-en không có loại vũ khí đó.

Cùng đi với anh chàng cháu viên tham mưu trưởng, tên gián điệp đến tham quan khu vực phòng nhự Kê-nê-i-tờ-ra là sở chỉ huy của viên tư lệnh khu vực này của Xy-ri. Tại đây y có thể ngắm cầu Bơ-nốt Y-a-cốp nổi tiếng, lao suốt từ bờ Xy-ri sang bờ I-xra-en Giuốc-đanh nhưng trên thực tế nó lại ngăn đôi hai nước.

- Ma-a-di đỗ xe cách bờ của I-xra-en chừng cây số rưỡi đưa ống nhòm cho Ta-áp và mời y ngắm những tên Do thái.

-Kia là xe cộ của chúng. Đây là một cái máy kéo…kia kìa, đấy là trại Mít-xma Ha-giác đen, chúng nó đấy. Chẳng có gì dễ hơn là từ đây nã súng vào đầu chúng nó. Chỉ cần một anh xạ thủ cừ là đủ - Viên trung úy nói tiếp:

-Tôi phải công nhận là chúng nó có những ngôi nhà thật là đẹp và cả lũ con gái xinh đẹp mặc quần ngắn nữa…Trông mà xem này, anh…

Ta-áp ngắm nhìn mảnh đất quê hương của Tổ quốc y, hiểu hơn lúc nào hết, cái ưu thế của những người Xy-ri, đối diện với I-xra-en. Những đồn quân, những trang trại, những đường xá I-xra-en đang trải dài ra ở phía bờ bên kia, đều nằm dưới tầm súng đại bác của Xy-ri đặt ở trên đỉnh những ngọn đồi.

Sau Kê-nê-i-tờ-ra, hai người lái xe đi về phía Nu-kê-íp, tuy nhiên không lại gần đồn cấm này. Phong cảnh đẹp lạ lùng của thung lũng Giuốc-đanh của hồ Ti-bê-ri-át và hàng chục những trang trại I-xra-en mới sinh sôi nảy nở ở cái vùng núi đồi bao bọc khắp nơi hiện lên trước kính chắn gió của chiếc xe hơi. Ta-áp biết từng ngõ ngách vùng đất I-xra-en diễn ra trước mắt hai người. Thành phố Ti-bê-ri-át, những trang trại vùng Đê-ga-ni-a với những rừng chuối và những ao nuôi cá chép con, khu làng Đe-mát và xa hơn nữa, những cánh đồng xa tít chạy dài theo bờ sông thuộc phía tây Giuốc-đanh thuộc các trang trại Mát-xa-đa và Át-xđốt Y-a-cốp. Đúng, vùng này ở I-xra-en tên gián điệp đã đi qua lần cuối cùng trước khi được phái sang Xy-ri. Nhưng bây giờ y ngắm phong cảnh đó từ phía Xy-ri.

Ma-a-di En-din lái xe đi về phía làng Cuốc-xi nằm trên bờ hồ, cách trại E-nơ Ghếp ngót nghét hai cây số, đã bị tàn phá khá nặng trong các trận đánh xung quanh Nu-kê-íp. Hai người đi vào trong làng A-rập điển hình nhỏ bé này, toàn là nhà làm bằng đất nện, tường dầy cộp quét vôi với màu vàng hoặc xanh da trời. Nhiều binh lính Xy-ri mặc quần áo tắm, đang nằm nghỉ trên bờ hồ. Xa xa, ở một khoảng cách chừng vài trăm thước, Ta-áp trông thấy những thuyền đánh cá, thuyền của người I-xra-en, không còn nghi ngờ gì nữa, vì trên hồ này dân chài vẫn thường quăng lưới. Mọi vật đều có vẻ lặng lẽ và yên tĩnh. Nhưng Ê-li Cô-hen lại có đủ lý lẽ để ngắm nghía bức tranh đồng ruộng với một sự phiền muộn lạ lùng trong lòng.

Hôm ấy, Ma-a-di và Ta-áp còn đi thăm thêm vài đồn và vài làng mạc A-rập khác ở vùng Nu-kê-íp. Nhưng chẳng ở đâu thấy nói có tù binh Do thái cả.

Sau này khi đi tham quan hoặc với Ma-a-di hoặc đi một mình, Ta-áp có dịp hỏi đi hỏi lại về số phận tên lính mất tích, trong những làng mạc vùng biên giới và ngay cả những viên chức làm ở các quân y viện và ở các nhà giam của Xy-ri.

Cho những ngày mà y leo lên những bậc của giá treo cổ. Ê-li Cô-hen tức Ca-man Ta-áp vẫn không sao tìm ra câu giải đáp về sự uẩn khúc của tên lính I-xra-en bị mất tích, cho đến ngày hôm nay, màn bí mật vẫn còn nguyên vẹn. Viên hạ sĩ Đơ-via có bị quân đội Xy-ri ở Nu-kê-íp bắt làm tù binh hay không, y có bị ngầm giam giữ hay đã chết và chôn cất ở Xy-ri? Có trời mà biết.

Ngày thứ sáu tháng năm, Ta-áp trở lại Đa-mát mang theo vô số tin tức. Y vội vã trở về căn nhà của y trông sang Bộ tham mưu, vội vã ghi những gì đã trông thấy ở dọc biên giới, những vị trí pháo binh, các kiểu súng cối, sự sủa sang những đồn lũy, địa điểm của một số xe tăng ở quanh vùng Cuốc-xi và Ku-nê-i-tơ-ra và một số đại bác không giật do Liên Xô sản xuất. Khi bản báo cáo viết xong và đến giờ phát rồi, y chuyển sang mật mã như thường lệ bằng lời và đánh bằng vô tuyến đi Ten A-víp.

Vài tháng sau, trong một chuyến về Ten A-víp ít ngày, y viết một báo cáo chi tiết về chuyến đi chơi với Ma-a-di En-din. Y không thể không ghi thêm vào bản báo cáo chi tiết tất cả những gì y đã thấy.

“Khi ở Ku-nê-i-tơ-ra tôi đứng ngắm thung lũng Hu-lê, và đến khi ở Cuốc-xi lại trông thấy ở trước mặt tôi cái hồ và thành phố Ti-bê-ri-át, tôi đã nhận ra được mức độ to lớn của sự điên rồ là cuộc chiến tranh không dứt được giữa Xy-ri và I-xra-en. Tôi đã ngắm nghía những xóm làng của nông dân và những xóm làng cùng những người nông dân này đã làm tôi nhớ đến nhân dân ở Ti-bê-ri-át, họ giống nhau biết bao. Lúc ấy tôi có một ước vọng duy nhất. Đoạt một con thuyền và qua hồ để về đất của ta. Tôi muốn ôm hôn vợ tôi và đứa con gái nhỏ của tôi quá và gặp lại bạn bè của tôi ở Mốt-xát. Tôi đã ngửi thấy mùi thơm của đồng lúa I-xra-en và tôi có cảm giác là làn gió nhẹ trên hồ đã đưa tôi trở lại mùi thơm của Ten A-víp. Nhưng lúc ấy dưới mắt tôi cái hồ nhỏ bé này lại mênh mông và đáng sợ như một đại dương vậy. Rồi sự cô độc hiện ra với tôi như một điều ác nghiệt, vì tôi có ý định phục vụ như một ngọn đèn pha đêm đêm phát một cách chán nản những tín hiệu kịp thời báo cho con tàu I-xra-en những nguy hiểm đang rình quanh nó”.

Một viên chức ở Cục tình báo I-xra-en đã chép lại những dòng trên, cho in thành nhiều bản và phát cho những người phụ trách các bộ phận chủ chốt, ký dưới những bản này “Một điệp viên vô danh”.

N TRANH (The Spy Game in the Middle East) ebook©MotSAch —★— TVE-4u©Vnmilitaryhistory Nhà xuất bản Công an nhân dân
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Y. Ben Porat, Uri Dan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.