Tới Đa-mát được gần sáu tháng thì Ca-man Ta-áp qua điện đài nhận được lệnh về I-xra-en ít ngày. Theo chỉ thị của cấp trên, y sẽ phải đi châu Âu trước rồi từ đây về I-xra-en.
Mùa hè năm 1962, ở Đa-mát khá yên tĩnh. Tình hình chính trị đã tương đối ổn định. Không có việc gì xảy ra ở phía biên giới I-xra-en cả. Sau khi nhận được lệnh của Ten A-víp, Ca-man Ta-áp báo cho hai người bạn là A-lê-san và Ma-a-di biết y có việc phải đi châu Âu trong ít ngày. Họ không giấu Ta-áp rằng chính họ cũng mong ước được đi quá. Thật quả là mùa hè ở Thụy Sỹ hay ở Đức (hai nước mà Ta-áp nói với bạn đó là đích của chuyến đi) thì có điều dễ chịu hơn là ở Xy-ri, nắng như thiêu đốt, nhiệt độ lên tới 40 độ trong bóng râm.
Ca-man Ta-áp lại chạy qua mấy chục nhà buôn mỹ nghệ phẩm ở Xy-ri mà y đã thân quen. Y hỏi xin họ mẫu hàng để bày ở châu Âu. Nhờ có lá thư của Xa-linh-giơ ở Duy-rích bảo rằng y muốn nhập khẩu đồ gỗ của Xy-ri, nên Ta-áp nhận được rất nhiều bàn cờ “Sét-bét” kiểu Đa-mát và gửi tất cả về địa chỉ của công ty xuất nhập khẩu ở Duy-rích mà y được xem như là đại diện ở Xy-ri.
Trước ngày lên đường được mấy hôm, Ta-áp lại nghe được từ miệng Ma-a-di En-din nói về một trong những người quen hắn ta ở Bu-ê-nốt Ai-rét, cựu tùy viên quân sự ở Đại sứ quán Xy-ri, tướng En Ha-phê, vừa trở về Đa-mát đang tìm kiếm một việc gì đó ở Bộ tham mưu quân đội. Ta-áp cảm ơn Ma-a-di định bố trí cho y gặp En Ha-phê. Nhưng y muốn hoãn cuộc gặp gỡ này đến một ngày khác khi ở châu Âu về.
Ta-áp mua một vé máy bay đi Duy-rích và Mu-ních. Trên đường từ công ty du lịch về nhà, y đi qua một cửa hàng nhỏ ở giữa thành phố Đa-mát, chuyên bán quân phục, phù hiệu và huy chương của các đơn vị quân đội Xy-ri.
Sau khi đã xem không thấy còn khách hàng trong hiệu, y bước vào nói với người bán hàng rằng y vừa mới mở một cửa hàng bán những đồ tặng phẩm ở A-lép-pô và muốn mua những phù hiệu và huy chương quân đội các loại, mà y mong có thể tiêu thụ dễ dàng. Người bán hàng rất hoan nghênh dịp buôn bán hời với “anh chàng tỉnh nhỏ” này. Nhà hàng yêu cầu thanh toán bằng tiền mặt và đưa ra một quyển sách mẫu chính thức những phù hiệu và huy chương dùng trong quân đội Xy-ri. Ta-áp nói muốn mua hẳn quyển mẫu “để nghiên cứu cẩn thận” rồi sẽ từ A-lép-pô đặt mua hàng của ông ta. Hai người thảo luận giá cả như thường lệ. Sau cùng, Ta-áp rời cửa hàng với quyển sách mẫu hàng trong tay. Về đến nhà, y cắt ngay ở trong quyển mẫu tất cả những tờ có in những ký hiệu đặc biệt của các đơn vị quân đội, giấu thật kín trong va-li và hủy chỗ còn lại.
Rồi y báo bằng điện đài cho Ten A-víp biết y sẽ đi châu Âu hôm sau. Ở trong nhà khóa hai lần cửa, y lại cất cái máy phát vào chỗ vẫn cất giấu mọi khi. Nếu người ta không hề khám phá ra được nó trong suốt sáu tháng y hoạt động ở Đa-mát thì chẳng có gì đáng ngại trong khi y đi vắng.
Y rời khỏi Đa-mát bằng máy bay, ở lại Duy-rích ba ngày không quan hệ với ai. Sau khi yên trí là không bị theo dõi, y mới đáp máy bay đi Mu-ních (Tây Đức). Khi vừa đến, y tiếp xúc ngay với Xa-linh-giơ, người đại diện thương mại và là người phụ trách chính của Cục tình báo ở châu Âu. Xa-linh-giơ đã được Ten A-víp cho biết trước về chuyến đi của Ê-li Cô-hen. Trong văn phòng của Xa-linh-giơ, Ê-li thấy có một số bàn làm ở Đa-mát mà trước đây vài hôm y đã gửi đi. “Cái bàn kia - Xa-linh-giơ nói với y – đã ở Ten A-víp rồi. Các bạn chúng ta sẽ nghiên cứu nó để tìm cho chúng ta cách sử dụng tốt nhất..”Y nói thêm với một cái nháy mắt thông cảm.
Xa-linh-giơ mua các thứ quà cho gia đình Ê-li, cho vợ y và đứa con gái nhỏ, đổi quần áo Xy-ri lấy quần áo từ I-xra-en mang lại và đưa cho Ê-li tấm hộ chiếu I-xra-en. Ê-li nhờ Xa-linh-giơ trong khi y đi vắng, gửi cho tất cả bạn bè y ở Đa-mát, những bức thư tự tay y viết và ký sẵn. Cả hai người đều đồng ý với nhau về nội dung của một lô những thư từ buôn bán cần gửi cho khách buôn hàng ở Đa-mát, đang chờ sự trả lời chắc chắn của Duy-rích hoặc Mu-ních. Sáu ngày sau khi từ Đa-mát đi, Ê-li Cô-hen đặt chân xuống sân bay Lốt ở I-xra-en.
Tên gián điệp vừa hoàn thành xong chặng đầu chuyến công tác nguy hiểm của y ở Xy-ri. Cảm động đến chảy nước mắt khi qua hàng rào hải quan I-xra-en và tai lại nghe thấy mọi người nói tiếng Hê-bơ-rơ. Chi tiết trớ trêu: hải quan I-xra-en bảo y mở va-li ra, cũng chẳng thèm xem đến hành lý và chỉ kiểm soát qua hộ chiếu và thị thực của y. Nhân viên hải quan sân bay Lốt chẳng để ý gì đến tập hồ sơ dầy cộm đầy ảnh phù hiệu và huân chương Xy-ri cất trong quyển mẫu hàng ở Đa-mát mà Ê-li để mãi dưới đáy va-li. Ngược lại, y bắt buộc phải trả thuế cho những đồ chơi mang về cho đứa con gái nhỏ.
Một chiếc xe riêng chờ y ở cửa ra vào của sân bay. Một gã trẻ tuổi mà y không quen ra hiệu cho y lúc ở hải quan ra và dẫn y ra xe. Ê-li ngồi đằng sau và ngồi cạnh Đéc-vi-sơ. Người huấn luyện viên kéo Ê-li Cô-hen vào, đôi cánh tay rắn chắc vòng qua đôi vai của tên học trò, nhưng cả hai người chỉ nói với nhau có vài câu trước khi tới Ten A-víp. Trên đường, Ê-li nói: “Tôi có một món quà cho anh, ở trong va-li ấy”.
“Món quà đẹp nhất của tôi, là anh đấy”. Đéc-vi-sơ chỉ đáp có thế thôi.
Na-đi-a, vợ y và Xô-phi, đứa con gái nhỏ, không thể ngờ là Ê-li lại về nhà một cách đột ngột như vậySự ngạc nhiên và sự vui sướng mới mạnh làm sao. Ê-li được phép ở nhà ba ngày, không phải đặt chân đến trung ương Cục tình báo. Chỉ trong khoảng vài tiếng đồng hồ, y đã làm quen trở lại với cái tên Ê-li Cô-hen và phải chú ý giấu kỹ cái gốc gác của Ca-man Ta-áp đi. Chẳng cần phải nói đến nỗi vui mừng của gia đình y khi gặp lại đứa con sau một thời gian dài đằng đẵng vắng nhà bởi “những việc buôn bán phát đạt” ở châu Âu.
Rồi lại bắt đầu làm việc. Ê-li Cô-hen viết báo cáo, bây giờ thì đưa vào từng chi tiết nhỏ, mọi điều y được biết về tình hình chính trị, kinh tế và quân sự ở Xy-ri. Trung ương Cục tình báo giao cho y tập hồ sơ để những bức điện của y đã gửi trong suốt sáu tháng từ buồng ngủ của y ở Đa-mát, giúp y viết cho dễ dàng bản báo cáo và điều chỉnh lại cho có hệ thống sự diến biến của các sự kiện đã xảy ra. Đéc-vi-sơ có văn phòng ở ngay cạnh buồng nơi Ê-li ngồi viết báo cáo, sướng nhảy cẫng lên khi nhận từ tay người bạn trẻ món quà biếu thật đặc biệt đem từ Đa-mát về cho hắn ta: quyển mẫu những phù hiệu quân đội. Đấy lại là tinh thần sáng tạo của tên gián điệp I-xra-en và cũng là chứng cứ cho bản chất táo bạo của y nữa.
Đéc-vi-sơ và một viên chức nữa của trung ương Cục tình báo là những người trực tiếp quan hệ với Ê-li. Những ngày về sau họ hỏi y hàng tràng chi tiết trong bản báo cáo của y. Họ muốn biết rõ tất cả những đặc điểm của những sĩ quan và nhân vật mà tên gián điệp đã quan hệ ở Đa-mát, những chi tiết về làng mạc và đồn lũy trên dọc biên giới, tương quan các lực lượng chính trị hiện nay ở Xy-ri, triển vọng của các nhà lãnh đạo này, của sĩ quan nọ, cho đến giá đường ở Đa-mát và tinh thần của dân chúng. Tất cả các cuộc trao đổi đều được ghi âm và những cuốn băng ghi âm được chuyển tới các cơ quan khác của Cục tình báo.
Vài ngày sau, một chuyên gia của trung ương hướng dẫn cho Ê-li luật mật mã mới từ nay sẽ thay cho luật cũ. “Đó là biện pháp an toàn”, họ giải thích như thế với y. Một biện pháp an taonf khác mà những người phụ trách muốn đề ra: họ muốn Cô-hen thay chỗ cất giấu cái máy phát. Những người phụ trách đều nhất trí thấy rằng nơi cât sgiaaus ở trên trần nhà, mà tên gián điệp đã tỉ mỉ trình bày với họ, không phải là giải pháp tốt nhất. Nhưng Ê-li không tán thành với đề nghị ấy. Trái lại, y lại thấy rằng trong cả gian nhà, y không thể tìm được chỗ cất giấu nào lý tưởng hơn là nơi y đã sắp xếp và “chẳng bao giờ người ta có thể tìm ra”. Ngược lại y lại còn đề nghị giao thêm cho y một cái đài phát thứ hai phòng trường hợp cái thứ nhất bị hỏng.
Những sự giải thích chi tiết về mọi xu hướng trong nội bộ của chế độ và quân đội Xy-ri mà Ê-li cung cấp cho cấp trên làm vững thêm nhận thức của họ rằng chẳng những Ê-li đã bắt rễ một cách chắc chắn ở Đa-mát, mà còn thông hiểu tình hình, có thể dự kiến đúng đắn về mọi biến chuyển nội tình của Xy-ri. Cấp trên của Ê-li liền cho y biết vấn đề chính mà lúc này chính phủ I-xra-en đang lo lắng và có thể sẽ khó tránh khỏi những hậu quả về tình hình ở biên giới Xy-ri I-xra-en: Đó là kế hoạch của I-xra-en nhằm hoàn thành chương trình nắn đổi dòng sông Giuốc-đanh, bắt đầu từ hồ Ti-bê-ri-át dẫn nước ngọt chảy qua một hệ thống thủy nông rộng lớn tới Nê-ghép, ở phía Nam I-xra-en.
Người Xy-ri thì muốn cho thấy rằng: I-xra-en không có quyền gì trên cả hồ lẫn nguồn nước hồ này cả. Bằng mọi cách, họ tìm cách ngăn cản I-xra-en hoàn thành kế hoạch đổi chiều nước trên hồ, một kế hoạch quan trọng nhằm phát triển những vùng hoang vu của xứ sở (Tức vùng đất mà I-xra-en mới xâm chiếm của người A-Rập).
Đéc-vi-sơ cho Ê-li biết, I-xra-en đã chi cho kế hoạch này 250 triệu bảng. Đến năm 1962, nhà nước Do thái còn phải tiêu thêm 400 triệu bảng nữa. Vì vậy điều rất quan trọng đối với chính phủ I-xra-en là phải tìm hiểu xem Xy-ri có kế hoạch cụ thể gì về việc xoay dòng các con sông Ba-ni-át và Ha-bi-ni – hai con sông cung cấp nước cho sông Giuốc-đanh hay không? Nếu đúng là Xy-ri có thể chiếm lấy nước của hai con sông đó, thì nước ở hồ Ti-bê-ri-át sẽ xuống thấp đến mức làm cho kế hoạch dẫn nước ngọt xuống miền nam I-xra-en không thực hiện được! Như vậy, Đéc-vi-sơ nói tiếp – nhiệm vụ khẩn thiết nhất mà Chính phủ giao cho anh tại Đa-mát là điều tra những kế hoạch của Xy-ri trong lĩnh vực này. Mọi tin tức, bgay cả tin tức từng phần, từ Đa-mát gửi về, từ nay sẽ có tác dụng rất to lớn, cho việc tìm hiểu chiến lược của Xy-ri và sẽ được giành ưu tiên trước mọi tin tức tình báo khác. Nói cách khác, Cục tình báo giao cho anh nhiệm vụ chính là do thám mọi dự định, mọi mưu toan của Đa-mát định phá hoại kế hoạch đổi chiều nước sông Giuốc-đanh của I-xra-en.
Nắm các kế hoạch trong tay, Ê-li Cô-hen caanf biết rõ chi tiết kế hoạch Xy-ri, tình hình của những con suối chảy vào hai con sông Ba-ni-át và Ha-bi-ni và những vấn đề kỹ thuật, ở trong trường hợp nào đó, Xy-ri có thể đem ra sử dụng để gây hậu quả cho tương lai của I-xra-en.
Trước ngày trở lại Xy-ri ít lâu, Đéc-vi-sơ làm cho Ê-li sửng sốt khi giơ cho y xem mặt trên của cái bàn cờ “Sét-bét” mà Xa-linh-giơ gửi từ Mu-ních về Ten A-víp. Với một con dao thợ giày, lưỡi mỏng tanh, bằng một động tác gọn, y tháo cái đáy ngăn kéo đặt ở phía dưới bàn cờ, nơi dùng để đựng quân cờ “Đô-mi-nô” mà dân chơi cờ Sét-bét từng chơi. Ông ta giải thích với Ê-li rằng, phần đáy của cái ngăn kéo có hai mặt gỗ có thể dùng làm chỗ cất giấu lý tưởng những cuộn phim nhỏ hoặc các tài liệu nhỏ khác. Đéc-vi-sơ làm cho Ê-li xem, với một con dao con , người ta có thể tháo rời những tấm gỗ của cái đáy ngăn kéo ra và chỉ cho y cách đặt lại và dán những mảnh gỗ bằng một loại cồn dán đặc biệt, cuộc trình bày thế là xong:
“Trường hợp anh định dùng cái bàn cờ Sét-bét để gửi tài liệu về cho chúng tôi thì báo qua điện đài cho chúng tôi biết trước bằng ba chữ “hàng đã gửi” và chúng tôi sẽ tìm cách để nhận số hàng đó”. Đéc-vi-sơ nói với Ê-li như thế.
Tên gián điệp có thêm một cái máy phát nhỏ thứ hai mà y hỏi xin, một máy ảnh nữa nhãn hiệu Đức để thêm vào cùng với máy ảnh Nhật mà y có từ khi ở Đa-mát. Nếu y định hỏi xin cấp trên bao nhiêu tiền thì chắc chắn cũng sẽ được ngay, nhưng y chỉ hỏi xin có 650 phờ-răng “để mua quà cáp cho bạn hữu tôi ở Đa-mát”. Huấn luyện viên ngạc nhiên thấy y hỏi xin món tiền quá ít ỏi, nhưng Ê-li nhấn mạnh: món tiền này thừa thãi để mua mọi thứ quà cần thiết.
Lúc chia tay với Na-đi-a, Ê-li nói: “Anh chưa rõ bao giờ mới gặp lại em. Nhưng chắc chắn là anh sẽ về với em nếu anh biết tin em đẻ cho anh đứa con thứ hai”. Nở nụ cười, y nói thêm: “Anh ước ao, chuyến này em sẽ đẻ con trai…”.
Việc này xảy ra vào cuối tháng bảy năm 1962.
Trên một phần kia của thế giới, nhiều điệp viên I-xra-en đã mở một chiến dịch rộng lớn chống lại sự có mặt của các nhà bác học người Đức ở Ai-Cập. Bởi vì ngày 21 tháng bảy năm 1962, kỷ niệm lần thứ mười ngày nắm chính quyền, tổng thống Nát-xe đã làm cho I-xra-en và cả thế giới sửng sốt bằng cách cho diễu trên các đường phố ở Cai-rô những loại tên lửa điều khiển bằng vô tuyến điện mới nhất, do các nhà bác học trước đây mười tám năm đã từng phục vụ chế đôh Quốc xã ở Đức, chế tạo tại Ai-Cập.
Cũng vào ngày đó, Ê-li Cô-hen trở lại Đa-mát.