Ê-li Cô-hen biết rằng y dừng chân ở Bát Y-am không bao lâu và sau đó ít ngày sẽ phải trở lại với những hoạt động của nhân viên tình báo. Chính Đéc-vi-sơ, huấn luyện viên thực thụ của y, mới có một tuần lễ đã cắt bỏ những ngày nghỉ của y bên cạnh gia đình. Một hôm đến giờ ăn trưa, Đéc-vi-sơ dẫn y vào tiệm “Gian-nét”, một tiệm ăn nổi tiếng về món cá rán ở Giáp-pha. Ngồi đối diện với nhau trên sân trời của khách sạn trông ra bến tàu., hai người say sưa trong câu chuyện sôi nổi, hệt như hai cha con đang bàn về chuyện nhà, chuyện cửa.
Đéc-vi-sơ ngồi nghe người học trò của mình kể lại những chiến công của y ở Nam Mỹ.
“Anh pha giọng Tây Ban Nha khi nói tiếng Hê-bơ-rơ đấy”, Đéc-vi-sơ vừa nhận xét vừa cười.
-Hãy chờ đó nghe tôi nói tiểng Ả-rập – Ê-li đáp lại - Ở Bu-ê-nốt Ai-rét người ta chỉ nói tiếng A-rập pha giọng Tây Ban Nha thôi. Kết luận câu chuyện, Ê-li đoan chắc với Đéc-vi-sơ rằng, y có đủ tất cả mọi sự giới thiệu để bắt tay vào công việc đang chờ y ở Đa-mát. “Tôi cảm thấy có thể” – Y nói thêm, rút bớt nhiều chặng, để xâm nhập một cách nhanh chóng vào các giới lãnh đạo ở Đa-mát.
Về sau này, Đéc-vi-sơ ghi nhận trong các báo cáo của ông ta là Ê-li Cô-hen đã biểu thị một sự vững vàng “dễ truyền cảm” và một sự tự tin hoàn toàn. Những người phụ trách tình báo khác ở Ten A-víp đã có dịp gặp Ê-li trong thời gian y ở I-xra-en hồi tháng 9 năm 1961 đều cũng có nhận xét như vậy. Sự nhận xét này rõ ràng là khích lệ, nhưng nhìn dưới một khía cạnh khác thì sự tự tin quá đáng của một điệp viên cũng có thể nguy hiểm cho ngay chính bản thân anh ta và có thể dẫn đến những hành động sơ xuất thiếu cân nhắc và quá mạo hiểm.
Dù sao, cũng phải để cho Ê-li qua lần thực tập cuối cùng nữa trước khi có lệnh cho y lên đường. Để các bạn bè Ả-rập của Ta-áp ở Bu-ê-nốt Ai-rét bớt lo lắng, y phải viết khá nhiều bưu ảnh để gửi từ các thủ đô châu Âu khác nhau về Ác-hen-ti-na.
Đáp lại mọi sự dặn dò của Đéc-vi-sơ, Ê-li uể oải trả lời cụt lủn: “Tôi không cho rằng con đường đi Đa-mát lại dài đến thế. Tại sao lại phải chết vì mệt mỏi và nôn nóng trước khi tới đấy”. Về phần y, đây không phải là cơn khó chịu mà là tình cảm giống như sự bồn chồn của loại ngựa chiến đã hít mùi thuốc súng và mùi chiến trường muốn vội vàng lao mình vào cuộc chiến. Nhưng cấp trên của y thì nghĩ khác, việc luyện tập thêm là cần thiết và ngay bây giờ, bắt đầu từ những kết quả đặc biệt của phần đầu chuyến công tác ở Ác-hen-ti-na, phải sắp đặt kế hoạch chi tiết của y ở Xy-ri.
Một lần nữa, Ê-li lại tìm đến căn gác nhỏ của Đéc-vi-sơ ở phố A-len-by tại Ten A-víp. Với sự giúp đỡ của một huấn luyện viên chuyên gia về các đài phát bí mật của Cục tình báo. Ê-li tiến bộ nhanh chóng trong việc sử dụng một đài phát giống như đài mà y sẽ sử dụng nay mai ở Đa-mát. Sau vài tuần huấn luyện, y đã đánh trung bình mỗi phút được 45 đến 50 chữ, được các nhà chuyên môn công nhận là vừa phải. Y học cách dùng nhiều mật mã, tập đọc các bức điện mật mã do huấn luyện viên của y “gửi” cho và sau đó học thuộc lòng các mặt mật mã.
Trong đợt huấn luyện cuối cùng ở Ten A-víp, nhiều lần huấn luyện viên của Ê-li có nhiệm vụ khám phá những nét riêng biệt trong “cách đánh” của y khi phát tin. Đối với cái tai của một chuyên gia giỏi, “cách đánh” của mỗi người đều khác nhau như vân tay của con người vậy. Nói cách khác, tính chất của mỗi tín hiệu “mooc-xơ” được phát đi từ một đài ở khoảng cách nhất định, có thể dễ dàng nhận ra người phát ra tín hiệu này mà không cần báo trước mật số. Những thay đổi rất nhỏ “cách đánh” chẳng nghĩa lý gì với một cái tai không được huấn luyện, nhưng qua tai của nhân viên kỹ thuật có kinh nghiệm, chúng lập tức ghi nhận và hiểu ra ngay.
Một số rất hạn chế nhân viên điện đài của Cục tình báo ở Ten A-víp từ tháng 9 năm 1961, đã bắt đầu nghiên cứu và nhận xét những lần tập phát tin của Ê-li. Sau này cũng vân những nhân viên này ngồi nghe điện của y phát từ thủ đô Xy-ri.
Ê-li dùng một phần thì giờ nghiên cứu cách pha chế các loại mực hóa học khác nhau bằng các vật liệu tại chỗ, cách cất giấu khéo léo trong một căn nhà, cách cất giấu những đồ vật bí mật trong các dụng cụ gia đình đủ các loại; cách chuyên chở bí mật các vũ khí cá nhân, tài liệu, thư từ hay các loại vi phim khâu lẫn trong quần áo hoặc giấu ngay ở trong mình. Tóm lại, việc học tập những ngón nghề của tên điệp viên kiểu mẫu, trái với điều người ta tưởng tượng khi đọc ở một vài cuốn truyện gián điệp, đòi hỏi một sự nỗ lực bền bỉ và chỉ có cái tên là kích thích mà thôi.
Sau khi nghiên cứu một lần nữa các loại vũ khí nặng nhẹ kiểu mới mà quân đội Xy-ri đang dùng. Ê-li Cô-hen được tập sử dụng các loại súng ngắn và tiểu liên loại “Xmai-xơ” của Đức chế tạo và thông dụng trong quân đội Xy-ri. Y còn học cả cách dùng các loại chất nổ khác nhau.. Ngay trong những cuộc tập bắn, Đéc-vi-sơ vẫn cảnh cáo: “Ở Đa-mát, anh sẽ không được phép đổ một giọt máu nào. Nhưng Xy-ri là một nước Cộng hòa kiểu Nam Mỹ mà cuộc cách mạng tương lai có thể nổ ra bất cứ lúc nào. Có thể bất đắc dĩ anh phải dùng vũ khí tự vệ. Khi nào thật cần lắm anh mới nên dùng đến”.
Hơn cả những lần tập luyện trước, Ê-li nghe đài phát thanh Đa-mát và thận trọng theo dõi những biến cố chính trị ở Xy-ri. Khi nghe đài phát thanh hoặc xem những chương trình vô tuyến truyền hình Xy-ri, chắc chắn Ê-li sẽ bác bỏ ngay nếu lúc ấy có người nào đó nói rằng, sau này chính y sẽ xuất hiện trên màn ảnh vô tuyến truyền hình ở Đa-mát.
Ngày 28 tháng 9 năm 1961, ở Xy-ri đã xảy ra một sự kiện chính trị khá quan trọng. Tổ chức liên hiệp Ai-Cập Xy-ri tan vỡ một cách ầm ĩ và nhanh chóng cũng như khi nó được thành lập cách đây ba năm. Xy-ri khôi phục lại nền độc lập chính trị và kinh tế của mình. Nhưng sau khi từ chối vai trò một bộ phận nhỏ bé trong nước Cộng hòa A-rập thống nhất, nước Xy-ri trở thành một bãi chiến trường thực sự của một cuộc nội chiến âm thầm nhằm tranh giành quyền hành thực tế đang khuyết. Xứ sở này trong suốt mười ba năm đã chứng kiến mười hai cuộc cách mạng và đảo chính liên tiếp, giờ đây sẽ bị Đảng “BAATH” chi phối lâu dài và nhiều đảng viên Đảng “BAATH” đã trở thành bạn của Ca-man Ta-áp từ hồi ở Bu-ê-nốt Ai-rét. Trong những ngày tháng chín, Ca-man Ta-áp đã gửi cho tướng Ha-phê ở Ác-hen-ti-na một tấm thiếp bỏ ở Duy-rích, lời văn độc nhất chỉ có mấy chữ: “Đảng BAATH muôn năm!” và chữ ký của y.
Ê-li Cô-hen đã biết sự diễn biến chi tiết của những sự kiện vừa xảy ra ở Xy-ri, và qua những hồ sơ mật được xem xét vội vã ở Ten A-víp, y còn biết một cách nhanh chóng ai là những nhân vật chính trong vụ đảo chính chống Nat-xe này. Thật ra khi cấp trên của Ê-li và cả y nữa cũng phải thừa nhận rằng, mọi bước ngoặt của tình thế ở xứ sở này đều vượt khỏi sự phân tích chính trị và không sao lường trước được. Khi nói đến Xy-ri, người của Cục tình báo Ten A-víp thường nói rằng: ‘ Chính quyền ở đây thuộc về tay sĩ quan nào buổi sáng dậy sớm hơn đối phương của mình và đánh chiếm lấy đài phát thanh”.
Người cầm đầu thực sự vụ đảo chính chống Nát-xe ở Xy-ri là viên đại tá trẻ tuổi của quân đội Xy-ri: Áp-dun An Ka-rim Nát-la-vi – phụ tá quân sự của thống chế A-me, một sĩ quan thân cận và trung thành của Nát-xe, toàn quyền Ai-Cập ở Xy-ri. Đại tá Nát-la-vi đã cảm thấy sự bất mãn của khối nông dân và cả giai cấp tư sản là những người trước nhất bị khổ vì sự thống trị của Ai-Cập, họ đã dự định trong lâu dài, nhất định giải phóng Xy-ri chống lại Ai-Cập. Nông dân và những người buôn bán kết tội chính quyền Ai-Cập là bóc lột Xy-ri, một nước tài nguyên thiên nhiên còn phong phú và thịnh vượng hơn cả nước Ai-Cập. Các sĩ quan Xy-ri thì không bằng lòng vì các đơn vị của họ đều do sĩ quan Ai-Cập chỉ huy. Trường không quân của quân đội Xy-ri bị chuyển sang Ai-Cập và mang theo một đoàn Mig 17 của Xy-ri. Ngay những bộ phận đầu não của cơ quan hành chính ở Xy-ri, cũng có cả người Ai-Cập.
Ngày 28 tháng 9, lúc tảng sáng, khi hãy còn ở trong giường ngủ, viên toàn quyền Ai-Cập ở Xy-ri là thống chế Áp-dun Ha-kim A-me, được tin đại tá Nát-la-vi chiếm được đài phát thanh, đã lập tức dùng điện thoại báo cáo với tổng thống Nát-xe ở Cai-rô và Nát-xe tuyên bố sẵn sàng đến ngay Đa-mát để cứ vãn tình thế. Trong thâm tâm, Nát-xe cũng hiểu rằng sự tan vỡ của khối liên hiệp với Xy-ri là một thất bại của ông về tinh thần đối với các nước Ai-Rập nói riêng và với cả thế giới mặc dầu trong thời kỳ ấy, với uy tín cá nhân rộng lớn ở Xy-ri, Nát-xe có nhiều thời cơ giành lại tình hình. Nhưng thống chế A-me gàn ông ta, cam kết là có thể khôi phục lại tình thế và đặt lại trật tự trong nước.
Đại tá Nát-la-vi và quân đội của ông ta làm mạnh hơn. Trong buổi sáng, viên đại tá trẻ tuổi đã cho bắt giữ ngay thống chế A-me và cho áp giải ông bằng máy bay về Cai-rô. Hai đội biệt kích nhảy dù Ai Cập đổ bbooj lên bến La-ta-ki-ê ở Xy-ri dưới sự yểm trợ của các chiến hạm Ai-Cập bỏ neo ở cửa bể, đã đầu hàng không nổ một phát súng nào. Chỉ trong vài giờ, đại tá Nát-la-vi đã trở thành người chỉ huy hiển nhiên nhưng hầu như giấu mặt ở Xy-ri; ông ta đặt những nhà chuyên nghiệp và có kinh nghiệm hoạt động chính quyền vào cơ quan đầu não của chính phủ.
Vụ đảo chính ở Xy-ri làm náo động vùng Trung Đông. Chính phủ I-xra-en sung sướng trước những đau khổ của Tổng thống Nát-xe. Việc tan vỡ của khối Liên hiệp Ai Cập và Xy-ri đã thủ tiêu mối nguy cơ đối với I-xra-en do có Bộ chỉ huy thống nhất của quân đội Ai Cập và Xy-ri. Nhưng mặt khác cũng còn phải chờ đợi một cuộc biến chuyển khác nữa. Sự thù hằn giữa Đa-mát và Cai-rô một lần nữa đã có hậu quả làm tăng sự ganh đua giữa hai nước trong việc tuyên truyền dân chúng chống I-xra-en, lúc đầu bằng lời nói và sau đấy là bằng hành động.
Việc người Ai Cập rời bỏ Xy-ri là sự kiện quan trọng bậc nhất đối với nhiệm vụ mà Ê-li phải thực hiện ở Đa-mát. Khi trước, lúc khối liên hiệp Ai Cập và Xy-ri còn tồn tại, thì Ê-li nhận được chỉ thị phải hết sức tránh với người Ai Cập ở thủ đô Xy-ri. Cấp trên của y e ngại có thể vì tình cờ mà một người Ai Cập nào đó sinh trưởng ở A-lêc-xăng-đơ-ri nhận ra Ê-li chăng. Xấu hơn nữa, năm 1954, y đã từng bị cơ quan an ninh Ai Cập bắt giữ và hỏi cung. Ở Đa-mát, sự tình cờ có thể khiến Ê-li lại gặp – một số các chính giới Ai Cập – một công an viên có biết y hồi năm 1954 ở A-lêc-xăng-đơ-ri hay ở Cai-rô. Việc người Ai Cập bỏ đi như vậy mở ra những hy vọng mới mẻ cho Ê-li và tạo sự dễ dàng trong mức độ nào đó cho những hoạt động sau này của y ở Đa-mát. Rôi y nhận được chỉ thị chính trị khác xuất phát từ những biến cố ngày 28 tháng 9: Từ nay Đảng “BAATH” có khả năng nắm chính quyền!. Về phần Ca-man Ta-áp, trước tướng Ha-phê ở Bu-ê-nốt Ai-rét, y đã công khai bày tỏ cảm tình của mình với Đảng này trong tấm bưu thiếp mà Đéc-vi-sơ bảo y gửi từ Thụy Sĩ cho viên tùy viên quân sự Xy-ri ở Ác-hen-ti-na. Y còn khẳng định một lần nữa lòng “trung thành” của y đối với Đảng này. Nhưng cấp trên đã dặn y rằng; Khi nào đã xâm nhập được vào các bộ phận có quyền lực của Đảng “BAATH” ở Đa-mát thì chớ có xin gia nhập Đảng, tốt hơn hết là phải kiên trì và đợi khi nào tình hình chính trị ở Xy-ri sáng sủa hơn.
“Nếu anh cứ tuyên bố liều lĩnh quá sớm ủng hộ Đảng “BAATH” , anh có thể bị xử tử không phải vì tội làm gián điệp cho I-xra-en nhưng vì tội gia nhập một Đảng mà Đảng này có thể bị trấn áp bởi một chính phủ khác do một cuộc đảo chính khác đưa lên”.
Những người phụ trách trực tiếp Ê-li nhận xét anh ta hoàn toàn bình tĩnh, thậm chí bình tĩnh một cách khác thường trước những biến cố sôi sục xảy ra trong những ngày tháng 9 năm 1961 tại Xy-ri, nơi một điệp viên Ta-áp sắp xâm nhập. Dưới mắt cấp trên và bạn bè ở Cục tình báo, Ê-li đã biểu thị một sự trầm lặng nội tâm đặc biệt và một sự can đảm pha lẫn tính khiêm tốn. Khi quan sát y theo dõi những biến cố ở Xy-ri trên đài vô tuyến truyền hình và trên báo chí, hoặc nghe y phân tích tình hình, người ta phải cho là y sửa soạn đi nghỉ phép ở Đa-mát chứ không phải đến đây để dấn thân vào vô vàn nguy hiểm.
Thái độ quả quyết phi thường khi Ê-li nói đến nhiệm vụ nay mai của mình với lòng tin tưởng hoàn toàn vào thắng lợi đã khiến cấp trên của y phải luôn luôn nhắc nhở: “Khi tới Đa-mát, chớ có vội vàng, trái lại cứ thủng thẳng và từng bước đi vào giới lãnh đạo của Xy-ri nhằm mục đích cung cấp những tin tức tối đa về hai lĩnh vực quan trọng nhất: Quân đội Xy-ri, thành phần, quân số, những cuộc hành quân trong nước và ở biên giới với I-xra-en, cùng mọi chi tiết về các sĩ quan chỉ huy quân đội”. “ Bất kể những gì sẽ xảy ra ở Đa-mát và tình hình chính trị ra sao nữa, quân đội Xy-ri vẫn là nhân tố quan trọng và quyết định cho tương lai của đất nước đó” – Cô-hen đã nhiều lần khẳng định như thế. Về lĩnh vực thứ hai y sẽ phải cung cấp tin tức là tình hình kinh tế của Xy-ri. Người ta dặn y không nên để mất thì giờ và sức lực vì những vấn đề không quan trọng cho lắm. Sau này ta sẽ thấy nhiều lần chính cấp trên của y đã làm trái lại với những lời khuyên đó.
Những tin tức có tầm quan trọng bậc nhất, có tác dụng giúp cho I-xra-en có thể đối phó ngay lập tức về quân sự hay chiến lược trong khoảng thời gian ngắn nhất, điệp viên Ca-man Ta-áp phải chuyển đi bằng một máy phát nhỏ xíu, không to hơn bao thuốc lá, cái đài phát này là một kiệt tác kỹ thuật, sẽ trở thành một kỳ công thực thụ của Ten A-víp, và là một nguồn cung cấp tin tức tình báo vô tận thuộc loại nhất về những biến cố ở Xy-ri. Các đài phát nhỏ xíu này, ngay các cơ quan gián điệp của các nước lớn cũng còn hiếm và thực tế còn xa lạ đối với các cơ quan gián điệp các nước khác, nay mai sẽ được trao cho Ta-áp ở châu Âu. Ở Ten A-víp, người ta tạm thời trang bị cho y một dao cạo râu điện cấu tạo đặc biệt. Dây điện của máy cạo râu là một dây trời của cái máy phát sau này.
Ta-áp phải sử dụng máy phát này để phát tin thật nhanh cốt giảm bớt sự rủi ro bị Cơ quan phản giám của Xy-ri phát hiện. Người ta định giờ cho những buổi phát tin và cả ngày phát tin đầu tiên. Một con số qui định trước để báo cho Ten A-víp biết nếu y đã thuê được nhà ở và ở hẳn đấy. Trước khi thuê được nhà, ngay cả trường hợp thật khẩn cấp, y cũng không được phép liên lạc với Ten A-víp. Một con số khác định trước để báo cho y biết phải lợi dụng thời cơ tốt nhất đi châu Âu và bắt liên lạc với “liên lạc viên” của y ở đây.
Ngày lên đường đã tới gần, đã cuối tháng 12 năm 1961 rồi. Lại một lần nữa, Ê-li nói với vợ rằng: “Công việc buôn bán” buộc y phải đi châu Âu và vắng nhà vài tháng, và Na-đi-a đề nghị với chồng nên rút ngắn thời gian ở nước ngoài đến mức thấp nhất.
Lại cái xe tải không số và vẫn người lái xe ấy đốn Ê-li Cô-hen để đưa y sang sân bay Ly-da. Khi tới Muy-ních, y gặp lại Xa-linh-gơ, thay quần áo, trao cho Xa-linh-gơ bọc quần áo I-xra-en và nhận lại số quần áo mà y đã mặc ở Ác-hen-ti-na. Xa-linh-gơ còn đưa cho y quyển hộ chiếu Ác-hen-ti-na trong đã có sẵn thị thực Ai Cập và Li-băng. Chỉ còn thiếu thị thực quan trọng nhất là thị thực của lãnh sự quán Xy-ri, Ta-áp phải xin cấp ở Duy-rích.
Xa-linh-gơ ra lệnh cho y phải mua vé tàu thủy đi Li-băng. Việc lựa chọn đã nhằm vào tàu A-xtô-ri-a, khoảng tuần lễ đầu của tháng giêng năm 1962 sẽ chạy tới Bây-rút. Trước ngày lên đường, một cuộc thẩm tra chớp nhoáng và bí mật do các điệp viên châu Âu của Cục tình báo I-xra-en đã cung cấp cho Ê-li bản danh sách đi chuyến tàu A-xtô-ri-a đó.
Ê-li thấy trong va li mà Xa-linh-gơ trao cho có một bộ dụng cụ làm bếp mà một anh chàng chưa vợ có thể mang đi khắp nơi. Trong số dụng cụ này, có một cái “cối xay” chạy điện bằng chất dẻo, trong vừa phải, loại mà người ta thấy ở thị trường, nhưng đặc biệt là có hai đáy. Trong lòng đáy, Xa-linh-gơ xếp một cái đài nhỏ mà y đã nghiên cứu và tập sử dụng ở Ten A-víp. Trong phòng của Ê-li tại khách sạn ở Mu-ních, Xa-linh-gơ chỉ dẫn cho y cách lấy đài nhỏ xíu ở đáy ra, cách đóng cái máy điện lại và sử dụng nó như cái “máy xay và trộn” khi đã nhấc cái đài ra.
Ngày hôm sau, vẫn ở Muy-ních xảy ra một chuyện tình cờ, chứng tỏ những sự hiểu biết kỹ thuật của Ê-li đã đủ để y hoàn thành nhiệm vụ. Buổi sáng sớm , sau khi Xa-linh-gơ đi rồi, y còn tập tháo ra và lắp lại cái “máy xay và trộn” chạy điện. Y phát hiện mỗi khi di chuyển cái máy đã phát ra một tiếng động lạ. Cái đài phát đặt không cẩn thận ở chỗ giấu đã rung chuyển ở trong đáy kép.
“Phải đưa ngay cho tôi cái đáy để đem đi chữa”, Xa-linh-gơ nói, nhưng Ê-li đáp: “Đã chữa xong rồi”. Thật vậy, chính y đã tìm cách tự chữa lấy cái máy. Cái máy xay tròn của y bây giờ chạy rất tốt. Dùng để “nấu nướng” hoặc phát đi những bức điện đều được cả.
Ê-li Cô-hen đã để lại cho Xa-linh-gơ một bức điện ngắn ngủi cho vợ và hôm sau đáp máy bay đi Duy-rích. Tới đây, y đến sứ quán Xy-ri và được viên lãnh sự cấp cho thị thực Xy-ri trên hộ chiếu Ác-hen-ti-na của Ta-áp. Thị thực quá cảnh của y cũng được cấp ngay.
Đêm cuối cùng, Ê-li ở Duy-rích là đêm 31 tháng chạp năm 1961. Hòa mình trong đám đông vui nhộn từ nửa đêm về gần sáng sớm, sau khi đi khắp các phố phường Duy-rích. Ê-li lững thững một mình đi vòng quanh các phố nhưng tâm trí y đã ở cách đấy vài ngàn cây số rồi, ở trên đất địch mà trong vài ngày nữa y sẽ vượt biên giới.
Ngày 1 tháng giêng năm 1962, Ê-li đáp máy bay đi Giê-nơ ở Ý. Cùng ngày , y đi Bi-ê-rút trên chiếc tàu A-xtô-ri-a. Ngồi chưa nóng chỗ trong phòng khách trên tàu, y gặp một người mà y biết tên – do được đọc trong danh sách hành khách đi tàu – và người này sẽ tạo mọi sự dễ dàng cho nhiệm vụ của y với một hiệu quả không ngờ được. Đó là viên tộc trưởng Mác An A.