Điệp Viên Từ Ixraen Tới

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 10 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vi. Tên Gián Điệp Vỡ Lòng

❊ ❊ ❊

Một ngày hè năm 1960, khách qua lại trên đường phố A-len-by ở Ten A-víp chẳng ai để ý đến hai gã dáng dấp khác nhau, cũng lúc ấy, đang tập luyện một cách lạ lùng. Một gã người cao, còn gã kia thấp hơn một đầu, lùn và to béo. Đó là Đéc-vi-sơ và Eli Cohen.

Đéc-vi-sơ thường quen miệng không ngừng nhắc Eli bằng giọng kẻ cả:

“Nếu anh còn tiếc vì đã tình nguyện làm việc, nếu anh còn một chút nghi ngờ nhỏ về năng lực công tác, hãy nói cho bọn tôi và chúng ta sẽ chia tay. Chúng ta không phải giữ lời giao ước một cách mù quáng. Đừng ngại gì cả và chớ có để cho người ta thành kiến với anh vì mất thì giờ. Anh hoàn toàn có quyền đặt nhiều nghi vấn.”

Rồi Đéc-vi-sơ nói them câu tiếng Anh: “ No Hardseelings” – Đừng có cách nhìn cứng nhắc quá.

Câu này khiến tên điệp viên tập sự sôi máu lên. Cố nén giận, Eli chậm rãi nói với Đéc-vi-sơ: “Thế tôi có tình nguyện để rồi hối tiếc và thay đổi ý kiến đâu? Khi nói đến an ninh của sứ xở, liệu người ta có nói đến ăn năn và hối tiếc không?”. Ngay cả Eli, y cũng có thói quen dùng một câu “tủ” để kết thúc cuộc đàm thoại và để tóm tắt tâm trạng của mình: “Làm sao mà tôi lại có thể trội hơn mọi người đang sống ở đất địch cơ chứ?”.

Suốt từ sáng, Eli và Đéc-vi-sơ đi đi lại lại trên đường phố A-len-by, thỉnh thoảng mới dừng chân để uống nước hoa quả ướp hoặc ăn một mẩu bánh của người bán hàng rong. Từ giữa trưa, đường phố A-len-by đã đông nghịt người qua lại, hối hả trước các cửa hàng hoặc vào một số rạp chiếu bóng của thành phố.

Huấn luyện viên đã kỹ càng nhắc Eli rằng: “Hôm nay thì toàn là bạn bè bám sát dấu vết của anh. Ngày mai, khi chỉ còn một mình anh đối diện với quân thù, thì ai biết kẻ nào sẽ theo dõi anh ở Cai-rô, Đa-mát hay Bat-đa?”

Ấy đấy, Đéc-vi-sơ là thế. Những mệnh lệnh, những lời giải thích của ông nói một cách bình thản, đi sâu vào lòng như mũi dao. Ngay từ buổi đầu tập sự, Đéc-vi-sơ đã dứt khoát xóa bỏ mọi ý nghĩ sai lầm về Eli. Huấn luyện viên không hề làm gì khiến Eli lo sợ. Nhưng ông cố làm cho Eli thực hành trong thực tế và đôi khi phải thấy tất cả sự khắc nghiệt, nguy hiểm đang chờ y ngày mà y vượt qua biên giới Israen.

Trong tất cả các cơ quan tình báo trên thế giới đều chấp nhận một sự thật hiển nhiên: một điệp viên hoạt động trên đất địch, số phận sẽ được đảm bảo hơn, sẽ hành động táo bạo và có hiệu suất hơn, nếu y chắc chắn người chỉ huy hoàn toàn tin cậy và y cũng hoàn toàn tin cậy vào người chỉ huy, vào sự sáng suốt, vào cơ sở vững vàng của mọi mệnh lệnh và mọi huấn thị từ thượng cấp đó đưa xuống.

Chỉ trong vòng vài tháng, Đéc-vi-sơ đã tranh thủ được sự tin cậy của Eli và tạo nên giữa họ một tình cảm hiểu biết và thân mật.

Đéc-vi-sơ, ngay từ buổi đầu gặp gỡ cũng có thiện cảm với Eli. Nhưng để đi từ sự thiện cảm bộc phát này tới một sự tin cậy lẫn nhau, cũng phải qua một chặng đường dài.

Thời kỳ làm việc ở bộ phận lưu trữ hồ sơ bộ Quốc phòng, Eli Cohen luôn luôn nói với các bạn cùng làm rằng y ao ước được công tác ở nước ngoài vì y không thấy thích làm công việc văn phòng. Công việc của y chỉ có xem kỹ và dịch ra tiếng Do Thái các báo chí Ả-rập hàng ngày từ khắp các xứ A-Rập, đặc biệt từ Ai-Cập và từ Xy-ri gửi tới Ten A-víp.

Cả trước mặt viên sỹ quan tình báo, một đại úy dáng tầm thước có bộ tóc hung hung phụ trách phòng phiên dịch của Bộ, Eli Cohen cũng tỏ ý ước mong được cử đi công tác. Viên đại úy này không phản ứng gì về lời phát biểu của Eli cả. Nhưng vài tuần sau, đột nhiên y bảo với Eli: “Tôi đã đặt vấn đề với người có thẩm quyền để hỏi xem người ta có cần anh không. Nhưng người ta đã trả lời tôi rằng, nguyên tắc từ chối với người tình nguyện vẫn được áp dụng đối với anh cũng như những người khác. Như vậy có nghĩa là người ta không dành một sự đặc biệt gì cho anh cả.”

Đây là sự khước từ đầu tiên mà Eli vấp phải đối với Cục tình báo.

Sự thất vọng của Eli rất lớn. Y thổ lộ tâm trạng với Dan-man, một nhân viên khác trong phòng phiên dịch. Dan-man mang máng có nghe thấy Eli nói: “Tại sao tôi cứ phải phung phí thì giờ để nghiên cứu các báo chí Ả-rập, trong khi tôi thấy có khả năng thu lượm được tại chỗ nhiều tin tức có giá trị hơn?”.

Eli không ngờ câu nói của mình lại được Dan-man rất chú ý và báo cáo lên cấp trên một cách trung thực. Y cũng không hay biết rằng trong lúc ấy, Cục tình báo đang lập hồ sơ và thu nhập mọi tin tức do mọi nguồn tin cung cấp về y. Người ta nghiên cứu quá khứ của Eli, bí mật dò hỏi bạn bè, gia dình, những quan hệ giao tiếp của y.

Cuối cùng, khi hồ sơ của Eli làm xong, được chuyển tới Đéc-vi-sơ vào đầu năm 1960, ông ta quyết định đích thân làm quen và nghiên cứu trường hợp của Eli.

Một buổi tối, khi từ cửa hàng “Ma-sơ-bia” về, Eli ngạc nhiên thấy Dan-man đã ngồi ở nhà y. Xin lỗi Na-dia (vợ Eli) và viện lý do có câu chuyện bí mật về công việc buôn bán, Dan-man kéo Eli ra phố. Mãi lúc này, Eli mới biết rằng, trái hẳn với bề ngoài, Cục tình báo đã chấp nhận lời thỉnh cầu của y, Dan-man bảo Eli Cohen:

“Đã hai lần bọn chúng tôi không lưu ý đến anh. Nhưng bây giờ thì đến lượt chúng tôi hỏi lại anh: Anh đã thật sẵn sàng hợp tác với chúng tôi chưa? Khi cần anh có sẵn sang đi công tác ở nước ngoài, ở Châu Âu hoặc ngay ở các nước Ả-rập chẳng hạn?”.

Eli Cohen rất cảm động chỉ nói một câu ngắn ngủi: “Tôi chỉ có một ý kiến biện bạch duy nhất là không muốn đi châu Âu. Tôi muốn đi một nước A-rập nào đó do tùy các anh chọn”.

Dan-man còn nói cho Eli biết, cuộc sống của y sẽ còn thay đổi không những vì vợ y đang có mang mà việc này có thể ảnh hưởng tới quyết định của y, rằng lương bổng của y sẽ lĩnh ở Cục tình báo thì quá thấp (350 bảng). Hơn nữa, cũng chưa có gì quyết định hẳn và y còn thì giờ và khả năng rút lui.

Hai ngày sau, cũng vào một buổi tối, sau giờ làm việc, Dan-man dẫn Eli kéo lên bậc của một ngôi nhà cũ kỹ ở phố A-len-by, cạnh nhà Bưu điện trung ương. Hai người bấm chuông một căn gác nhỏ, màu vôi đã loang lổ từng mảng.

Tôi là I-da-ác Đéc-vi-sơ – chủ nhà tự giới thiệu, nụ cười nở trên môi. Dan-man từ giã họ, chỉ còn Đéc-vi-sơ và Eli ngồi trên hai chiếc ghế bành trong căn gác nhỏ, đò đạc kê như một chỗ nghỉ chân của người sống độc thân. Trong cuộc trao đổi ấy, ngay từ những câu đầu tiên, họ đã có cảm tình đặc biệt với nhau.

Đéc-vi-sơ nói: “Này Eli, tại sao anh lại muốn đi thế? Cái gì đã xô đẩy anh vào vòng phiêu lưu? Ở nhà, anh không sung sướng hay sao? Hay anh muốn thoát khỏi cảnh sống gia đình?”.

Eli Cohen giật lên như bị rắn cắn. Nhiều lần y thường biểu lộ tình yêu chân thật đối với Na-đi-a và hạnh phúc của vợ chồng y một cách gần như quá đáng. Y thú thật là có lúc gặp khó khăn về vật chất, lương phụ kế toán mỗi tháng được có 150 bảng, làm sao kiếm cho đủ ăn. Nhưng Eli Cohen phản đối ý kiến cho là vì lý do hoàn cảnh vật chất nên phải vào làm ở Cục tình báo: “Tôi tin rằng có thể làm được nhiều việc tốt cho lý tưởng của chúng ta. Na-đi-a sẽ đồng ý xa tôi trong thời gian dài với điều kiện là tôi phải làm một việc gì có ích cho Tổ quốc và tôi phải chuyên tâm và một công việc mà tôi ưa thích”.

Đéc-vi-sơ cắt lời y: “Hãy nhớ như chôn vào ruột là không một người ruột thịt kể cả vợ anh hoặc bạn bè nào của anh được phép biết những hoạt động của anh, khi anh được chúng tôi tuyển dụng. Nếu hoạt động của anh có kết quả, anh có thể chia sẻ sự hân hoan và niềm kiêu hãnh…với ngay bản thân, và – hơi hãn hữu với người phụ trách của anh trong tổ chức Một-xát (Cơ quan tình báo Israen). Cấm tiệt anh không được hé răng với bất kỳ ai về bất cứ công việc gì dính dáng đến Cục tình báo. Cần nhớ kỹ rằng, không những sự sống còn của anh mà ngay cả những hoạt động của chúng ta ra nữa tùy thuộc vào việc này. Sự sống còn của anh cần thiết cho chúng tôi hơn là số phận của những hoạt động của chúng ta”.

Eli cảm thấy mình mắc sai lầm và cố gỡ lại: “Đâu phải là tôi nói với Na-đi-a sự thật về hoạt động của tôi. Tôi chỉ muốn nói đơn giản rằng, Na-đi-a sẽ sung sướng về công việc mới của tôi thôi. Vì nó phù hợp với ý định của chúng tôi tuy Na-đi-a không hiểu được đó là công việc gì”.

Đéc-vi-sơ hướng dẫn cho y cách làm cho Na-đi-a buộc phải tin hoàn toàn rằng chồng cô ta đã kiếm được việc làm trong một công ty xuất nhập khẩu và vì công việc của công ty này, phải đi lại ở Israen và ở nước ngoài

“Anh bắt buộc phải nói dối vợ. Liệu sự dối trá này có làm nứt rạn gì giữa vợ chồng anh không?”. Đéc-vi-sơ hỏi Eli. Ông ta biết đích xác và sâu sắc rằng, chẳng một cơ quan tình báo nào trên thế giới lại có thể ngăn cản được nhân viên của họ nói với vợ cái, con cột sự bí mật công tác của mình, trong khi đầu gối tay ấp, sau nhiều ngày xa cách. Tuy nhiên Đéc-vi-sơ vẫn phải nói như thế với Eli, vì bất cứ cấp trên ở bất kỳ cơ quan tình báo nào cũng vẫn phải nói những lời vô ích như thế với bọn nhân viên mới.

Trong căn gác nhỏ ở phố A-len-by, cuộc trao đổi giữa họ kéo dài tới đêm khuya. Đéc-vi-sơ để trước mặt Eli tập hồ sơ và tiến hành ngay một cuộc thẩm tra khái quát: hỏi tất cả mọi vấn đề mà những người đã nghiên cứu hồ sơ của Eli đặt ra, trước khi “bật đèn xanh”- Thỏa thuận đồng ý – cho cuộc trao đổi đầu tiên này. Đéc-vi-sơ hỏi đầu nguồn, cuối gốc chi tiết của những cuộc phá hoại ở Ai-Cập và vụ Eli bị bắt giữThật ra, cần phải hiểu xem người Ai-Cập hiểu biết hoặc có thể hiểu biết về cuộc đời của Eli đến đâu và trong phạm vi nào họ có thể phát hiện ra nếu y vượt qua biên giới của một nước A-rập. Cục tình báo Israen không bao giờ nghĩ đến việc phái Eli sang Ai-Cập vì ở đó y đã lộ mặt và bị xếp vào loại phần tử hoạt động cho phong trào Do thái tự trị.

Rồi Đéc-vi-sơ không ngừng quay trở lại những câu hỏi về nguyên nhân đã thúc đẩy Eli tình nguyện đi công tác. Ông ta còn hỏi có phải Eli đọc quá nhiều tiểu thuyết gián điệp và đó là căn nguyên khiến y muốn trở thành điệp viên không? Đến đây Eli phải chứng minh thiện chí và lòng thành thật của mình bằng cách nhấn mạnh rằng, vừa qua y đã phải mắng đứa em là A-bơ-ra-ham vì nó đọc nhiều loại sách trinh thám quá và loại văn này dễ làm cho nó sao lãng học tập.

Những lời đối đáp của Eli, lòng thành thực của y làm Đéc-vi-sơ hài lòng. Đéc-vi-sơ – vốn trước năm 1948, có tham gia một phong trào khủng bố bí mật, tự nhiên có cảm nghĩ rằng, Eli có thể hoàn thành tốt công tác tình báo.

Gần nửa đêm, huấn luyện viên đưa cho Eli Cohen ghi và ký vào nhiều mẫu giấy tờ mang tiêu đề “Quốc gia Israen – Bộ quốc phòng”. Đó là những câu hỏi mà y phải trả lời, tuy câu trả lời thì từ lâu, Đéc-vi-sơ và cấp trên của y đều rõ cả. Bọn họ chỉ còn thiếu chữ ký của Eli Cohen có nghĩa là chính thức hóa việc y tình nguyện vào công tác traong ngành tình báo Israen.

Những ngày khác thì dành cho việc kiểm tra dài về bệnh tật, tâm lý và tâm lý kỹ thuật. Eli được công nhận sức khỏe loại A1. Nhưng phần kiểm tra về tâm lý và tâm lý kỹ thuật kéo dài ba ngày và y phải nghỉ việc trong những ngày này ở cửa hiệu Ma-sơ-bia. Về phần này nữa, những kết quả kiểm tra đều chắc chắn và Eli được các nhà tâm lý học ghi nhận xét rất tốt.

Sau nhiều tuần kiểm tra, Đéc-vi-sơ đã gặp lại Eli lần thứ hai:

-Mọi sự đều tốt đẹp với anh, chỉ cần cứ tốt thế mãi. Đéc-vi-sơ vừa nói vừa vỗ vào vai y -Chúng ta hãy còn xa đích nhiều. Bây giờ anh phải xin thôi việc đi và hoàn toàn chịu quyền điều khiển của chúng tôi. Trong sáu tháng, anh sẽ theo một khóa huấn luyện khó khăn và vất vả - về thể xác cũng như tinh thần. Nếu trong khoảng sáu tháng, chúng ta vẫn còn nhất trí, ta sẽ dự tính chuyện kế tiếp. Bắt đầu từ nay, anh sẽ nhận một khoản lương hàng tháng là 350 bảng.

Hôm ấy, Eli vui sướng trở lại nhà và báo cho Na-đi-a biết ,là y vừa được tuyển dụng vào một công ty thương mại và lúc cần thiết, y sẽ đi nước ngoài. Na-đi-a không hỏi thêm y một câu nào vô ích. Từ hôm ấy Eli để ria mép, như Đéc-vi-sơ đã nói với y: “Một bộ ria mép cho đẹp vào, ít nhất cũng phải đẹp như ria của tôi ấy”. Thật ra vì Đéc-vi-sơ có một bộ ria mép khá đẹp, kích thước khá lớn, nhưng hơi lôi thôi và vàng khè vì chất Ni-cô-tin của thuốc lá mà ông ta hút như cái ống khói.

Có một hôm gia đình Eli Cohen lấy làm ngạc nhiên thấy y để ria mép mà người ta biết rằng ở phương Đông này, ý định đó coi như “bạo phổi”. Eli tìm ngay sự giải thích để làm giảm bớt sự lo ngại không đâu của gia đình y:

“Tôi đã thề sẽ không bao giờ cạo ria mép cho đến ngày Na-đi-a sinh một đứa con trai”.

Bởi vì Na-đi-a vừa sinh con đầu lòng – Một bé gái đặt tên là Xô-phi. Nhưng Ê-li thì lại thèm khát một đứa con trai và y cũng không giấu giếm vợ điều này.

Ít ngày sau, một sự việc khác là Ê-li và gia đình y xúc động: người cha già của y chết ngay đầu năm 1960 đó.

Một ngày hè năm 1960, cùng với Đéc-vi-sơ, Ê-li đi đi lại lại trên đường phố A-len-by nhằm phát hiện “tên theo dõi” và làm cho tên này thất bại.

Thoạt tiên Ê-li thua hết keo này đến keo khác trong cuộc tập dượt nhiều ngày liền diễn đi diễn lại không ngừng. Chẳng có lần nào Ê-li tìm ra những nhân viên theo dõi mình. Sau mỗi lần tập dượt, Đéc-vi-sơ lại cho Ê-li xem nhiều ảnh mà bọn này đã chụp khi y dừng trước quầy bán báo hoặc trước tủ kính của một cửa hiệu trên đường phố Ten A-víp. Người ta còn cho Ê-li xem cả phim quay được lúc y đang đi bách bộ trên các phố, trong khi Ê-li không sao phân biệt nổi những người theo dõi mình với các khách qua đường khác.

Chỉ trong vòng một tuần của đợt tập luyện, Ê-li cũng đã khám phá ra được những kẻ “bám đuôi”. Và từ lúc ấy, sự tập dượt trở thành một trò chơi. Càng ngày Ê-li càng dễ dàng phát hiện ra và tìm cách đánh lạch bọn chúng, ngay khi chúng tìm mọi cách bí mật chụp ảnh bằng được Ê-li bằng loại máy ảnh nhỏ xíu.

Vào cuối tháng đầu của đợt tập dượt gắt gao này, huấn liện viên đặt Ê-li vào một thử thách loại khác. Một sự thử thách ở Giê-ru-xa-lem.

Công việc bắt đầu bằng việc trao cho Ê-li một hộ chiếu quốc tịch Pháp mang tên Mác-xen Cô-en. Đó là hộ chiếu của một người Do Thái gốc Ai Cập, đi qua I-xra-en trước khi đi đến một nước châu Phi. Trong thời gian tập dượt, người ta chỉ đánh đổi tấm ảnh của người du lịch tạm thời này với ảnh của Ê-li Cô-hen. Cô Dây-ra, thư ký cơ quan tình báo ở Ten A-vip, trao hộ chiếu này cho Ê-li.

Những chỉ thị của huấn luyện viên rất rõ ràng: với hộ chiếu mang tên Mác-xen, Ê-li sẽ phải từ Ten A-víp tới Giê-ru-xa-len và trong thời gian tập dượt, y phải cư xử như là chủ nhân thật sự của hộ chiếu này. Nói cách khác, Ê-li phải mang căn cước nhà du lịch người Pháp gốc Ai Cập, mà người ta biết rằng, người này chỉ nói có tiếng Pháp và tiếng A-rập. Dưới căn cước này, y có nhiệm vụ phải gặp gỡ thật nhiều người do y chọn – nhà buôn, công nhân, công chức và có thể ngay cả các bộ trưởng – khả dĩ có thể cung cấp cho y nhiều tin tức về I-xra-en.

Việc này cũng không có gì khác cái mà người ta vẫn gọi là hoạt động nấp dưởi “vỏ bọc”.

Đéc-vi-sơ kết hợp hoạt động này với cuộc tập luyện vừa rồi ở Ten A-víp. Y bảo Ê-li: Trong thời gian lưu trú ở Giê-ru-xa-lem, anh sẽ bị rất nhiều nhân viên của Cục tình báo theo dõi và sự hoạt động sẽ được đánh giá rất cao nếu anh tránh khỏi sự cảnh giác của họ.

Xục đống với ý nghĩ là lần này, y sẽ phải sống ở Giê-ru-xa-lem như là một điệp viên hoạt động ở nước ngoài, Ê-li đã trở thành Mác-xen Cô-en, lên đường đi Giê-ru-xa-lem sau khi nói với vợ rằng y tới đây vì “công việc” và sẽ ở đây nhiều ngày.

Ê-li tới Giê-ru-xa-lem bằng xe lửa và ở trong một quán trọ. Rồi y lập tức làm bổn phận là dạo quanh thành phố một vòng và quan hệ với nhân dân theo ý của y.

Giê-ru-xa-lem có những khu phố nghèo nàn và những ngõ hẻm nhỏ bé, nằm dài trên biên giới Gióoc-đa-ni. Dãy thành lũy cổ kính ngăn cách thành phố thuộc I-xra-en với thành phố thuộc A-rập. Đây là lần thứ hai y đặt chân tới Giê-ru-xa-lem, từ khi đến I-xra-en. Những chòi bắn của quân đội A-rập trên các ụ súng của thành lũy này gợi cho E-li Cô-hen nỗi ám ảnh của một thành phố cũ ở phương Đông. Y có dịp a nhàn ngắm nghía thành phố và dần dần yêu mến tính chất khá đặc biệt và độc đáo của nó.

Nói thạo tiếng Pháp, Ê-li Cô-hen không gặp khó khăn gì khi chuyện trò với một vài khách trọ nơi y cùng ở. Y tự giới thiệu là khách “du lịch” ở miền Nam nước Pháp và hỏi họ ở quán cà phê hay tiệm ăn nào, có thể gặp gỡ thoải mái được các nhà doanh nghiệp hoặc với các công chức của chính phủ?

Thế là mới tới Giê-ru-xa-lem có hai ngày, Ê-li đã làm quen ngay ở tiệm cà phê “Viên-na” một công chức làm ở một Bộ quan trọng và ngay tối hôm đó, được mời tới ăn cơm tối ở nhà người này. Trong bữa cơm, Ê-li gặp viên giám đốc một ngân hàng nhỏ ở thủ đô. Khi nghe thấy nhà “du lịch Pháp” có ý định đến sinh sống ở I-xra-en và muốn chuyển về đó khoản vốn nhỏ, viên giám đốc liền hẹn gặp Ê-li ở văn phòng vào sáng hôm sau. Sáng hôm sau, cuộc trao đổi giữa Ê-li và viên giám đốc – cảm thấy có thể làm ăn được và định bụng muốn lợi dụng việc chuyển cái vốn ấy – kéo khá dài và kết quả. Thế là Ê-li biết tất cả những khó khăn về kinh tế và tài chính của I-xra-en, của sự “tai biến” sắp sửa đến gần do việc ngừng thanh toán những khoản bồi thường của Đức và việc giảm bớt những cuộc quyên góp tiền ở Mỹ cho I-xra-en. Ê-li đặt cơ man là câu hỏi và viêm giám đóc thì đem hết sức để cung cấp những lời giải đáp một cách vô cùng lễ độ và với thiện chí rõ rệt.

Không cần phải nói là sau đó, viên giám đốc ngân hàng trẻ tuối nọ tưng hửng như thế nào khi mất hút tin tức của khách hàng. Có thể giờ đây, đọc những dòng này, anh ta ắt phải tức giận lắm khi biết rằng người khách “du lịch” miền Nam nước Pháo không phải ai khác mà chính là Ê-li Cô-hen.

Tên gián điệp tập sự nhận thấy y bị theo dõi ở Giê-ru-xa-lem, đúng như Đéc-vi-sơ đã báo cho y biết trước. Sau này, y ngắm nghía những bức ảnh người ta chụp y cùng với những người khác ở tiệm cà phê Viên-na và viên công chức nọ. Trái lại, Ê-li đã giấu kín được cuộc gặp gỡ với viên giám đốc ngân hàng, và được huấn luyện viên của y khen ngợi.

Hoạt động ở “Giê-ru-xa-lem” kéo dài mười ngày. Ê-li Cô-hen dưới cái tên Mác-xen, còn làm quen được với một số đông đáng kể những nhà buôn, viên chức nhà nước và nhiều nhà trí thức ở thành phố đại học này. Dưới mắt cấp trên của y, tập hồ sơ y thu thập được quả là hoàn mỹ, Cục tình báo A-rập đáng ra phải thích tập hồ sơ này mới phải. Sau khi đọc tập hồ sơ, Đéc-vi-sơ thảo một báo cáo lên người phụ trách tổ chức “Mốt-xát” trong đó nhận xét rằng: “Ê-li Cô-hen khác người bởi một nhân cách biến đổi và những ý kiến độc đáo, y có đủ khả năng đặt quan hệ một cách nhanh chóng với người khác. Báo cáo này còn nói thêm – Ê-li Cô-hen có ý thức chủ động, có khiếu thông minh sáng tạo, có những phản xạ tinh thần mau lẹ và có sở trường về cách gây tín nhiệm với người xung quanh. Y nói thạo được nhiều thứ tiếng, điều này rất thuận lợi cho công tác, vì thế tôi tin rằng, y sẽ đạt kết quả trong nhiệm vụ được giao phó và y nhiệt thành mong muốn được giao nhiệm vụ. Hơn thế nữa, Ê-li lại là một gã cứng đầu cứng cổ, trong cái ý tốt của câu: “Cứng đầu để đạt mục đích””.

Cuộc thực tập ở Giê-ru-xa-lem chứng tỏ rằng Ê-li có thể thường xuyên mược căn cước của người khác và sinh hoạt y như người này. Tất nhiên là ăn ở như một người Do Thái, hoặc một người du lịch Do Thái gốc Pháp, giữa những người Do Thái ở Giê-ru-xa-lem rõ ràng thoải mái hơn là mược căn cước của một người A-rập và sinh hoạt như người A-rập ở Đa-mát hoặc ở Cai-rô.

Sau cuộc thực tập ở Giê-ru-xa-lem, Đéc-vi-sơ đi tới kết luận, người ta có thể, khi có thời cơ, ném Ê-li Cô-hen vào một thủ đô A-rập, không phải dưới một căn cước Tây Ban Nha hoặc Nam Mỹ như dự kiến lúc đầu, mà ngay dưới căn cước một người A-rập. Dáng dấp Ê-li và giọng nói A-rập hoàn hảo, theo ý kiến của Đéc-vi-sơ, hoàn toàn có đủ khả năng bố trí như vậy mà rất ít bị rủi ro.

Từ lúc còn ít tuổi, Ê-li vốn có một trí nhớ tuyện vời nên đã không gặp một khó khăn nào trong những cuộc thực tập “ghi vào trí nhớ” liên tục và ngày càng khó nhọc. Những cuộc tập luyện này phần nhiều ở trên căn gác nhỏ của Đéc-vi-sơ ở phó A-len-by. Hàng nhiều giờ liền, Đéc-vi-sơ đặt một số đồ vật đủ các loại lên trên bàn, đậy kín một lúc rồi bảo Ê-li vẽ lại những vật mà y chỉ mới nhìn thoáng qua hoặc trả lời những câu hỏi về chi tiết của vật này hay vật nọ. Chặng thứ hai Đéc-vi-sơ bày cho Ê-li xem những mô hình nhỏ các loại vũ khí khác nhau, từ khẩu súng lục đến súng trường, cho đén các loại xe bọc thép và máy bay siêu âm. Tới giai đoạn thứ ba, người ta chiếu ảnh những loại khí cụ thật hiện có trong quân đội A-rập, xe tăng T-54, máy bay Mig 15, Mig 17, Mig 19 và có cả loại Mig 21.

Đéc-vi-sơ nói với Ê-li:“Các nước A-rập hiện chưa có tất cả các loại vũ khí này, nhưng cũng không lâu đâu”. Hai năm sau, việc này đúng là đến thật.

Các cuộc tập luyện này diễn đi diễn lại trong nhiều ngày và nhiều tuần. Đéc-vi-sơ giải thích luôn miệng cho học trò của ông ta rằng, trí nhớ bằng quan sát không thể lầm lẫn là cần thiết, phải nhớ như in vào óc gần như tự động, tất cả các loại vũ khí của A-rập và ở đất địch càng ít ghi chép càng tốt. Những bản ghi chép và hồ sơ là cần thiết ở Tổng hành dinh. Còn anh, anh chỉ cần có trí nhớ của anh thôi!

Tháng 9 năm 1960, Ê-li Cô-hen được nghỉ phép lần đầu tiên. Kỳ nghỉ phép này, đúng vào ngày Tết năm mới Do Thái (Rosh - Hashana) thực té cũng là dịp đầu tiên Ê-li làm tròn vai trò làm cha với cô bé Xô-phi mới ra đời.

Cũng trong thời kỳ này đã xảy ra một câu chuyện tuy không quan trọng nhưng biểu lộ tình trạng tinh thần của Ê-li. Một trong mấy em trai của Ê-li Cô-hen là E-phra-im, sinh sống tại trại Rơ-vi-vim, trong vùng Nê-ghép, có nhớ lại rằng, Ê-li đến thăm anh ta vào cuối mùa hè năm 1960. Cả hai anh em đến nhà một tay chơi vô tuyến điện trong trại. Khi anh chàng này bắt được liên lạc với một tay chơi thông tin vô tuyến tài tử khác ở một nơi nào đó ngoài biên giới I-xra-en, Ê-li liền giằng lấy chiếc mi-crô và trước sự kinh ngạc của bạn bè, kêu tướng lên: “Tôi mới bị tống cổ ra khỏi A-rập như trăm ngàn người Do Thái khác. Còn rất nhiều người Do Thái hãy còn ở Ai Cập và tất cả đều bị ngược đãi”.

Người em của Ê-li giằng lại chiếc mi-crô ở trong tay y và giận giữ nói: “Anh không điên chứ? Ai xui anh làm như thế?”.

“Mọi người cần phải thấy rõ sự thật. Không có một ai làm gì để giúp đỡ chúng ta cả” – Ê-li chua chát đáp lại.

N TRANH (The Spy Game in the Middle East) ebook©MotSAch —★— TVE-4u©Vnmilitaryhistory Nhà xuất bản Công an nhân dân
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Y. Ben Porat, Uri Dan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.