Điệp Viên Từ Ixraen Tới

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Viii. Hoạt Động Ở Bu-ê-nốt Ai-rét

❊ ❊ ❊

Tháng hai năm 1961, Ê-li Cô-hen tới Bu-ê-nốt Ai-rét, thủ đô Ác-hen-ti-na, bằng máy bay. Kể từ hôm ấy y thực không còn là y nữa. Mang hộ chiếu với cái tên Ca-man Ta-áp, con trai của A-min, y trở thành một dân di cư A-rập như trăm ngàn người A-rập khác đã chọn Bu-ê-nốt Ai-rét làm nơi thử thời vận của mình. Nhưng hộ chiếu của Ê-li tới Bu-ê-nốt Ai-rét là hộ chiếu của một nước Nam Mỹ có thị thực quá cảnh của Ác-hen-ti-na. Ê-li có cả vé máy bay đi Chi-lê. Lợi dụng thị thực quá cảnh đó, y dừng lại Bu-ê-nốt Ai-rét trong nhiều tháng. Theo chỉ thị của Ten A-víp, Ê-li sẽ ở lại đây để giới thiệu và thêm thắt cho vai trò giả của mình. Ê-li cũng phải tìm cách xoay lấy hộ chiếu Ác-hen-ti-na thật mang tên Ca-man A-min Ta-áp.

Khi máy bay hạ cánh xuống sân bay Bu-ê-nốt Ai-rét, không có ai đón Ê-li Cô-hen cả. Y phải tự mình hành động ngay khi vừa đặt chân lên đất Ác-hen-ti-na và không bắt liên lạc với nhân viên tình báo I-xra-en lúc đó có thể có mặt tại đây.

Quyết định cho Ê-li lên đường đã được cấp trên của y duyệt vào tháng chạp 1960. Căn cứ vào những kết quả rực rỡ qua những lần học tập và các khả năng của E-li từ ngày Đéc-vi-sơ biết y, các sếp của Cục tình báo I-xra-en quyết định:

1 – Ê-li được “cắm” vào Xy-ri lâu dài;

2 – Phải tạo ra một cái “vỏ bọc” có thể giúp cho y xâm nhập nội bộ chính phủ Xy-ri khi có thời cơ.

Khi có các quyết định này thì Ê-li Cô-hen cũng đã học tập xong. Suốt hai tháng trước ngày lên đường, y chuyên vào hai việc nặng nhọc không kém những việc trước kia. Một là nghiên cứu thật sâu nhân vật Ca-man A-min Ta-áp. Hai là phải hiểu biết một cách cơ bản về những nước mà y sẽ đến sinh sống, trước hết là Ác-hen-ti-na.

Đại khái đây là nhân mật mà Ê-li sẽ phải đóng theo đúng kế hoạch do Đéc-vi-sơ đã vẽ ra một cách tương đối tỉ mỉ:

Cha của Ca-man là A-min Ta-áp, mẹ là Xi-i-a, tên hồi con gái là I-bơ-ra-him. Hai người đã rời Xy-ri sang Li-băng kiếm cuộc sống sung sướng hơn. Con trai của ông bà này là Ca-man A-min Ta-áp đẻ tại Bi-ê-rút, thủ đô Li-băng, năm 1930 (so với ngày sinh thật của Ê-li Cô-hen thì kém sáu năm) Ca-man Ta-áp chỉ biết Đa-mát và Xy-ri qua lời bố mẹ kể cho nghe và những điều đã học ở nhà trường. Nhưng bố Ta-áp đã dạy y tình yêu tổ quốc Xy-ri. Trong nhiều năm, bố y đã là công dân nước Xy-ri và dặn con kiếm ăn ở nước ngoài khi nào giàu có thì trở về Xy-ri phục vụ Tổ quốc và chiến đấu bên cạnh các nhà quốc gia Xy-ri đang đấu tranh cho chính nghĩa.

Gia đình Ta-áp đã sinh sống tại A-lec-xăng-đơ-ri và đến năm 1947, người bố mở một cửa hiệu buôn tơ lụa nhỏ. Nhưng trước đó một năm, người em của ông ta đã di cư sang Ác-hen-ti-na và luôn luôn viết thư khuyên ông nên đi đến Bu-ê-nốt Ai-rét để cùng làm giàu. Năm 1947, bố Ta-áp đem cả gia đình sang Ác-hen-ti-na với người em, rồi cùng một người bạn nữa mở một hiệu buôn tơ lụa ở Bu-ê-nốt Ai-rét, phố Lơ-ga-đi. Nhưng chỉ vài năm cửa hiệu này vỡ nợ.

Năm 1956, mẹ Ca-man Ta-áp chết và nửa năm sau đến người bố. Ca-man Ta-áp sống với chú một thời gian nữa và đi làm cho một đại lý du lịch tên là “Ma-ra-đi”. Sau cùng Ca-man A-min Ta-áp trở thành ông chủ một công ty xuất nhập khẩu quan trọng.

Nhưng khi đến Bu-ê-nốt Ai-rét, Ê-li Cô-hen (tức Ta-áp) sẽ phải thêm thắt chi tiết để câu chuyện kinh doanh phát tài như thế nào cho có thể tin được.

Bản lý lịch do Cục tình báo I-xra-en dựng lên cho người dân di cư Xy-ri Ca-man A-min T-áp nói đúng ra rất giản dị và phần lớn phù hợp với vai trò thật của Ê-li: y chẳng biết gì về Đa-mát cũng như Bi-ê-rút nhưng thực tế đã sống tại A-léc-xăng-đơ-ri cả thời niên thiếu và biết rất rõ bãi cảng này.

Nhưng cái tiểu sử này bắt buộc Ê-li phải hiểu rõ cả Bu-ê-nốt Ai-rét. Nơi Ta-áp đã từng “sống” hồi mười bảy tuổi. Tập hồ sơ người ta trao cho Ê-li ở Ten A-vip để y học thuộc lòng có ghi rõ từng chân tơ kẽ tóc. Cục tình báo cũng có sáng kiến trao cho Ê-li một quyển ảnh trong đó có những bức ảnh ghép ghi lại đời sống của gia đình Ta-áp, có những bức ảnh của y ở Bu-ê-nốt Ai-rét, cùng với bố mẹ và chú y. Không có gì thiếu sót. Nhân vật giả Ca-man A-min Ta-áp được tô điểm thêm với những chi tiết phong phú, y như thật và rất cụ thể.

Ê-li Cô-hen nói tiếng Tây Ban Nha tàm tạm được nhưng so với những người đã từng sống nhiều năm ở Ác-hen-ti-na thì còn kém. Như vậy lại phải dành những tuần cuối cùng trước ngày đi để theo gấp một lớp học tiếng Tây Ban Nha.

Khi huấn luyện xong, Ê-li còn phải làm đúng với vai trò của mình đến nỗi sinh ra nhiều khó khăn trong quan hệ với vợ mà tối nào y cũng gặp tại nhà. Ngay cả khi vợ và các bạn gọi y là Ê-li, y cũng không có phản ứng gì. Một hôm Ê-li bắt buộc phải nói với huấn luyện viên rằng: “Ở nhà, tôi hết sức cố quên rằng hiện nay tôi là Ca-man Ta-áp. Tôi cố giữ ý tứ trong quan hệ với vợ tôi, nhưng nào có phải dễ đâu. Ngay từ bây giờ, phần lớn thời gian của tôi, tôi phải ăn ở, cư xử như Ca-man Ta-áp. Trong điều kiện như thế, làm thế nào để trở lại là Ê-li Cô-hen, trong vài tiếng tại gia đình? Thật là gay go quá!”.

Về sau này Ê-li hết sức ngạc nhiên được nghe chính Na-đi-a nói rằng ngay từ thời kỳ trước khi y đi Ác-hen-ti-na cô đã biết rõ tất cả. Cô đã linh cảm rằng chồng cô có sự thay đổi gì sâu sắc lắm đây và việc nay mai đi ra nước ngoài mà chông cô đã nói cho biết, có nghĩa là một cuộc du lịch “ra ngoài bức màn bí mật nào đó”. Cũng như mọi phụ nữ I-xra-en khác trong hoàn cảnh tương tự, cô hình dung đó là một công tác bí mật với cơ quan an ninh I-xra-en và cũng không hỏi gì thừa cả.

Rõ ràng không phải là do sự tình cờ mà cấp trên của Ê-li lại đặt y vào Bu-ê-nốt Ai-rét. Việc lựa chọn này cốt tạo thuận lợi cho nhiệm vụ lây dài của Ca-man Ta-áp ở Xy-ri.

Thật vậy, Bu-ê-nốt Ai-rét là một trung tâm di cư A-rập quan trọng và có đến hàng vạn gia đình gốc Xy-ri. Cục tình báo I-xra-en mơ ước trong những người dân Xy-ri này có những người sẽ tạo điều kiện cho Ê-li những quan hệ chính trị mà y cần đến khi đã thu xếp xong nơi ăn chốn ở tại Đa-mát.

Như khắp mọi nơi trên thế giới, dân di cư người A-rập ở Bu-ê-nốt Ai-rét cũng bắt chước dân di cư của các nước khác tổ chức nhau lại thành những câu lạc bộ và hội quán kín. Ở Bu-ê-nốt Ai-rét, dân di cư gốc Xy-ri cũng thành lập những “hội đồng hương”, một tổ chức đại loại gần giống như các “hội ái hữu” Do Thái ở Mỹ hay ở châu Âu. Tổng số kiều dân gốc gác tứ xứ sống ở Bu-ê-nốt Ai-rét len tới gần nửa triệu, bên cạnh số dân A-rập ít ỏi, người ta còn thấy một đoàn dân di cư quan trọng người Do Thái, phần đông gốc Âu, nhưng trong số này cũng có một số dân Do Thái góc Á châu. Nhiều gia đình Do Thái bị xua đuổi khỏi các nước A-rập như là Xy-ri hoặc Ai Cập, hoặc phải bỏ những xứ này vì sợ những thủ đoạn phân biệt chống Do Thái, đều muốn sinh cơ lập nghiệp ở Nam Mỹ hơn là di cư về I-xra-en. Cho nên có những người A-rập và người Do Thái cùng ở một nước đến, cùng buôn bán như nhau hoặc làm những nghề tự do, đều giữ những quan hệ bạn bè như những người “đồng hương”. Sự hận thù chống Do Thái của những người A-rập Xy-đi hay Ai Cập cũng thường dịu bớt đi khi họ đều là dân di cư ở xa tổ quốc hàng vạn cây số.

Ngay Ác-hen-ti-na, một nước thu hút một lượng dân di cư khá lớn và đủ các gốc gác, vẫn không hoàn toàn đồng hóa nổi những người di dân A-rập và Do Thái và cả hai số dân nhỏ bé này đều giữ được bản chất dan tộc của họ, nhất là ở Bu-ê-nốt Ai-rét họ nói không thạo tiếng Tây Ban Nha và từ chối những phong tục Nam Mỹ. Pháp luật Ác-hen-ti-na đã toan đấu tranh với những tình trạng này để dễ dàng lôi cuốn và đồng hóa những người di cư mới nên hộ chiếu của chính phủ Ác-hen-ti-na cấp cũng chẳng ghi rõ quốc gia gốc và cả tôn giáo của người mang hộ chiếu nữa. Việc này thật là quý giá vô cùng cho mọi hạng người muốn bí mật rời bỏ xứ sở của mình và dưới một căn cước mới, biến vào cái nước Nam Mỹ này …

Qua đó người ta hiểu tại sao sự lựa chọn của Cục tình báo I-xra-en lại nắm vào Bu-ê-nốt Ai-rét. Tại thủ đô này Ê-li Cô-hen gặp nhiều may mắn. Một ngày nào đó y xuất hiện với một căn cước giả mạo sẽ không gây nên sự lo ngại nào trong các bạn “đồng hương” người Xy-ri của y.

Nhưng cục tình báo Ten A-víp cũng biết rằng bên cạnh những thuận lợi đồng hóa mà nhân viên của họ có được ở Bu-ê-nốt Ai-rét, thì ở đấy họ còn phải đối phó với bao nhiêu phức tạp và nguy hiểm của các cơ quan phản gián A-rập, nhất là với các phái viên bí mật của cơ quan phản gián Xy-ri. Ở tất cả các nước châu Mỹ la-tinh, các đại sứ quán A-rập đều giấu rất nhiều nhân viên. Hơn nữa, những đại sứ quán này còn duy trì những cơ quan đặc biệt tuyên truyền chống I-xra-en, cốt để đối phó với sự tuyên truyền thân I-xra-en đang tiến hành một cách rất hiệu nghiệm trong đám dân chúng Do Thái có uy tín ở gần khắp các thủ đô ở Nam Mỹ.

Một sự kiện xảy ra năm 1964 đã làm hoạt động của cơ quan phản gián A-rập ở Ác-hen-ti-na nổi tiếng và cho thấy, cuộc chiến tranh bí mật mà các cơ quan đặc biệt I-xra-en và A-rập đang tiến hành, đôi khi tác động ngay đến cả những nơi ở cách rất xa vùng Trung Đông.

Ngày 17 tháng Giêng năm 1964, hồi 10 giờ 37 phút, một máy bay mang màu cờ của không quân Ai Cập hạ cánh xuống một sân bay quân sự ở phía nam I-xra-en. Từ chiếc máy bay này xuất hiện một phi công mang quân hàm đại úy.

“Tôi bỏ hàng ngũ không quân Ai Cập. Tôi xin được quyền cư trú ở I-xra-en”, viên đại úy này khai với các phi công I-xra-en khi vừa xuống tới đất.

Buổi sáng ngày 17 tháng Giêng, đại úy Ma-mút Hin-mi, 36 tuổi bay từ sân bay quân sự Bin-bét, ở phía trên kênh Xuy-ê ở Ai Cập. Với tư cách là huấn luyện viên Hin-mi đổ đầy nhiên liệu vào máy bay, lấy cớ là bay tập, bay qua bãi sa mạc Xi-ani để hạ cánh xuống sân bay I-xra-en đầu tiên phát hiện ra máy bay của hắn. Nhiều máy bay loại Mig của không quân Ai Cập bay lên đuổi bắt, nhưng hắn ta cũng tránh thoát và vượt biên giới I-xra-en, an toàn. Tất cả những hành động này chỉ mất 1 giờ 15 phút.

Việc bỏ trốn của đại úy Hin-mi bằng máy bay là sự thất bại về tâm lý và đạo đức đối với Ai Cập.

Hôm đại úy Hin-mi bổ trốn, các nhà chức trách Ai Cập thề sẽ trừng phạt Hin-mi. Rồi lời thề được thực hiện còn sớm hơn cả Ai Cập dám mong muốn lúc đầu. Cuộc trừng phạt thật đáng sợ.

Ma-mút Hin-mi ở I-xra-en được sáu tháng, được các đồng nghiệp I-xra-en chiều chuộng mời tiệc tùng, chè chén lu bu, nhiều lần y được ngồi ăn một bàn với tướng E-de Oét-đơ-man, Tổng chỉ huy không quân I-xra-en. Trong vòng sáu tháng, y ngỏ ý muốn bí mất sang Ác-hen-ti-na và đề nghị nhà cầm quyền I-xra-en giúp đỡ.

Các nhà chức trách không phản đối ý định của Hin-mi. Người ta xoay xở giấy tờ căn cước cần thiết cho hắn ta và không những thế còn kiếm cho hắn một việc làm ở Ác-hen-ti-na, một chân lái máy bay dân dụng về nông nghiệp ở ngoại ô Bu-ê-nốt Ai-rét, lương tháng trung bình gần một nghìn đô-la, quá đủ cho một anh chưa vợ như hắn.

Tháng 6 năm 1964, Hin-mi mang một căn cước giả rời I-xra-en bằng đường hàng không. Trên đường đi Ác-hen-ti-na và ngay khi tới Bu-ê-nốt Ai-rét, hắn đã mắc phải hai sai lầm không sao sửa được, mặc dù đã nhiều lần được Cục tình báo I-xra-en nhắc nhở.

Máy bay vừa hạ cánh xuống sân bay một thủ đô châu Âu, Hin-mi vội vã chạy vào phòng quá cảnh bỏ một bưu thếp gửi cho mẹ già ở Cai-rô. Do hành động không suy nghĩ này mà Cục tình báo Ai Cập chả có khó khăn gì cũng biết là Hin-mi đã đi khỏi I-xra-en.

Tại Bu-ê-nốt Ai-rét, Hin-mi phải ở lại thủ đô vài ngày và ở một khách sạn. Hôm sau, hắn quyết định sẽ chén cho đã một bữa cơm Á tại một nhà hàng ăn A-rập ở Bu-ê-nốt Ai-rét. Ở đây, y làm quen một gái điếm gốc Ai Cập. Đáng lẽ ra thì phải cảnh giác với ả này, nhưng y đã mắc sai lầm ác nghiệt là đêm ấy đã nói tuốt với ả gái điềm tung tích thật của hắn và việc hắn bí mật trốn khỏi I-xra-en.

Hin-mi không bao giờ trở lại khách sạn nữa, ở đấy, chỉ còn hành lý và giấy tờ căn cước của hắn.

Ít hôm sau, vào đầu tháng bảy, ông Lơ-vi E-xcôn, thủ tướng I-xra-en tới Pa-ri để gặp tổng thống Đờ Gôn. Máy bay hạ cánh xuống sân bay Oóc-li chừng vài phút, khi ông ta còn ngồi ở trong một căn nhà gỗ kiến trúc theo kiểu nông thôn Nga nổi tiếng dành cho khách danh tiếng, người ta trao cho ông một bức điện của Cục tình báo I-xra-en: Hin-mi mất tích! Không nghi ngờ gì nữa, hắn đã bị Cục công tác đặc biệt Ai Cập ở Ác-hen-ti-na tóm cổ. E-xcôn lập tức ra lệnh điều tra xem có phải do những cơ quan có thẩm quyền được giao cho lo việc của Hin-mi đã mắc sai lầm hay có sơ xuất không.

Kết quả của cuộc điều tra được đưa lên thủ tướng E-xcôn đã khẳng định, cục tình báo I-xra-en không có sơ suất gì và riêng mình Hin-mi phải chịu trách nhiệm về số phận đáng buồn của hắn. Bản báo cáo nêu thêm: Có lẽ cũng bổ ích khi phải ghi nhận rằng, Cục tình báo Ai Cập đã hành động với sự mau lẹ và hiệu quả nhất. Ngay cái đêm ngẫu nhiên với nàng – “khách trọ Ai Cập”, Hin-mi đã bị các nhân viên tình báo Ai Cập tóm cổ và nhốt trong nhà của đại sứ quán Cộng hòa A-rập Thống nhất ở Bu-ê-nốt Ai-rét.

Vụ giải tên đào ngũ về Ai Cập kéo dài trong mười ngày. Hin-mi được đưa về A-léc-xăng-đơ-ri trên một tàu biển Ai Cập đậu ở một bến tàu Ác-hen-ti-na. Hai tháng sau, thế giới được tin Hin-mi đã bị đem ra xét xử bí mật trước tòa án quân sự, bị kết tội đào ngũ và phản quốc. Hặn bị kết án tử hình và bị giết ở Cai-rô.

Người I-xra-en đã biết rõ sự có mặt và hoạt động của các cơ quan phản gián Ai Cập ở Ác-hen-ti-na. Rõ ràng vì thế nên người ta lo lắng hết mức về việc lên đường của Ê-li Cô-hen và chú ý tỉ mỉ tới việc thi hành kế hoạch hành trình của y, trong đó có dừng chân ở châu Âu.

Khi mọi việc đâu vào đấy, đến ngày khởi hành, E-li từ biệt vợ, con gái là Xô-phi và gia đình, hẹn chẳng bao lâu nữa sẽ trở lại sau khi làm xong công việc ở nước ngoài cho một “hãng buôn”. Hắn hứa sẽ luôn luôn thư từ và đã giữ lời hứa (Na-đi-a thực tế có nhận được thư từ tin tức của chồng, không phải từ Ác-hen-ti-na mà mỗi lần thư đều gửi từ châu Âu đến).

E-li Cô-hen sang sân bay Ly-da trong một chiếc xe nhỏ không có biển số của Cục tình báo do một thanh niên tên là Ghi-đê-ông lái. Một va-li tàng tàng, một hộ chiếu làm đúng tên thật và một phong bì trong có 500 đô-la do Ghi-đê-ông trao, Ê-li qua hải quan không phải kiểm soát và lên máy bay của công ty “En-An”. Theo chỉ thị của Đéc-vi-sơ, E-li sau khi tới Duy-rích (Thụy Sĩ) sẽ đáp chuyến xe buýt đưa hắn từ sân bay đến chỗ đỗ cuối cùng của thành phốỞ đó, một điệp viên mà hắn không biết mặt, biết tên sẽ lo liệu cho hắn.

Ở Thụy Sĩ mọi việc đều diễn ra một cách tuyệt đối như vậy. Vừa ở trên máy bau xuống, E-li đáp chuyến xe khách tới nơi đỗ cuối cùng của thành phố trông sang Ba-nốp-xtrát. Ở đó, một người tuổi trung niên, ăn mặc lịch sự và nói tiếng Hê-bơ-rơ giọng lơ lớ Đức, tiến tới tự giới thiệu: “Tôi là Xa-linh-gơ, I-xra-en Xa-linh-gơ, y vừa nói và vừa chìa tay bắt tay hắn. Rồi Xa-linh-gơ lái xe dẫn Ê-li đến khách sạn, ở gần hồ Duy-rích.

E-li Cô-hen ở Duy-rich ba ngày, và hàng ngày gặp Xa-linh-gơ, liên lạc viên thường trực của Cục tình báo I-xra-en ở châu Âu. Ẩn dưới “vỏ bọc” chắc chắn là Giám đốc một hãng xuất nhập khẩu loại lớn. Xa-linh-gơ có nhiệm vụ truyền lại cho Ê-li chút ít giáo huấn sơ đẳng về thương mại. Ở Bu-ê-nốt Ai-rét, Ca-man A-min Ta-áp đứng đầu một hãng vận tải đường thủy và hàng không, mà đại diện ở châu Âu và đặc biệt là ở Duy-rích, chính là Xa-linh-gơ. Vì thế, ít nhất trên lý thuyết thôi anh chàng Ca-man Ta-áp cũng phải hiểu biết công việc này làm ăn ra sao, phải học qua ít kỹ thuật về hoạt động của ngành và ít nhất là phải sử dụng được ít danh từ đặc biệt thường dùng trong loại công ty như thế này.

Xa-linh-gơ trao cho Ê-li một quyển “séc” của ngân hàng có tiếng ở Duy-rích mà hắn đã cẩn thận mở một tài khoản ở đây đứng tên Ca-man Ta-áp. “Tất cả các doanh nghiệp ở Nam Mỹ đều có tài khoản ở Thụy Sĩ”. Xa-linh-gơ giải thích.

Ngày thứ ba là ngày cuối cùng, hai người cùng đi quanh các cửa hàng bán quần áo nam ở Ba-nốp-xtrát và Ê-li mua một túi đủ các quần áo mang nhãn hiệu Thụy Sĩ, từ tá mùi soa và vài cái ca-vát đến bộ com-lê, áo ba-đờ-xuy và hai đôi giày.

Sau cùng Ê-li trao lại cho Xa-linh-gơ các giấy tờ căn cước của I-xra-en và các quần áo cũ may theo kiểu I-xra-en, không giữ lại thứ gì có thể để lộ dấu vết của xứ sở gốc của hắn. Mang hộ chiếu Nam Mỹ với tên Ta-áp, một vé máy bay đi Bu-ê-nốt Ai-rét, Ê-li sửa soạn lại va-ly toàn quần áo mua ở Duy-rích và sau khi nhận của Xa-linh-gơ số của một hòm thư mà ở đó, có thể gửi thư từ cho Na-dia, hắn đi ra sân bay một mình.

Ba ngày sau khi tới Duy-rích, E-li Cô-hen đã chính thức trở thành Ca-man A-min Ta-áp đáp máy bay từ Duy-rích đi Pa-ri, ở lại sân bay Oóc-li vài tiếng đồng hồ không gặp ai, rồi sau cùng đáp máy bay đi Ac-hen-ti-na.

Sau này Ê-li kể lại với Đéc-vi-sơ “Trong suốt cả chuyến bay dài dằng dặc này, tôi không thể nghĩ đến việc gì ngoài vụ bắt tên Ếch-sơ-man.

Được Cục tình báo I-xra-en tuyển dụng vào thời kỳ bắt cóc tên A-đôn-phơ Ếch-sơ-man (Đồ tể Do thái-Tội phạm chiến tranh), trước khi đi Ten A-víp ít ngày, y được mời dự một buổi họp của bọn điệp viêp Cục tình báo mới tuyển dụng. Trong buổi họp, người ta nói lại với bọn này tình hình diễn biến xác thực và chi tiết vụ bắt có diễn ra ở Bu-ê-nốt Ai-rét trước đó ít lâu. Như vậy Co-hen từ nguồn tin đầu tiên đã biết mọi chi tiết của vụ này, những chi tiết chưa từng được công bố ở I-xra-en và trên thế giới. Bay dọc bờ biển Ac-hen-ti-na đến Bu-ê-nốt Ai-rét. Ê-li nhớ lại những chi tiết của vụ bắt cócY có cảm tưởng đang đi ngược lại con đường của Ếch-sơ-man, bị nhân viên tình báo I-xra-en bao vây, trên máy bay của hãng “En-An” từ Bu-ê-nốt Ai-rét đi Ly-da.

“Câu chuyện của vụ bắt cóc này đã tiếp thêm can đảm cho tôi – Ê-li nói với Đéc-vi-sơ. Do có vụ này, tôi thấy rằng Cục tình báo của ta có thể làm được những việc khó hơn. Việc này làm cho cho tôi thêm tin tưởng, lúc tôi bay tới phía thù nghịch…”

Ngay ở sân bay Bu-ê-nốt Ai-rét, hắn còn để ý tới những chiếc máy bay trên sân, cố bày lại trong trí tưởng tượng chuyến bay của hãng En-An mang theo trong khoang “kiện hàng-quí giá” của Cục tình báo I-xra-en.

Đặt chân lên Bu-ê-nốt Ai-rét, sau khi xuất trình hộ chiếu, Ê-li xách một va-li nhỏ, vượt qua hàng rào chính và đi về phòng thông tin du lịch. Người ta chỉ cho hắn một khách sạn ở thành phố, ở đây hắn thuê được buồng ở dễ dàng.

Không có ai chờ hắn ở sân bay cả. Một chiếc xe tắc xi chở hắn tới trước một khách sạn loại vừa, ở đại lộ trung tâm Bu-ê-nốt Ai-rét là Nu-ê-vô-đen Giu-li-ô (đại lộ ngày 9 tháng 7). Hắn thê một phòng có buồng tắm trong thời gian một tuần lễ.

Đây là một đường phố lớn do Tổng thống Pê-rông xây dựng theo kiến trúc:Săng Ê-li-dê” của Pa-ri. Ca-man A-min Ta-áp đi chơi bộ chuyến đầu tiên, cố gắng tìm hiểu tình hình của thành phố lớn này, là nơi hắn có nhiệm vụ phải tự tạo lấy thanh thế và sau cùng mở một con đường dẫn y đi Xy-ri.

Mãi sáng hôm sau, Ê-li mới có một cuộc gặp gỡ thứ nhất tối mật với một liên lạc viên địa phương. Ở Duy-rích, Xa-linh-gơ đã dặn y sau hốm đến phải có mặt ở quán cà phê Cô-rin-tát ở đại lộ Mồng 9 tháng 7, hồi 11 giờ sáng. Xa-linh-gơ cũng cẩn thận nhắc đi nhắc lại rằng, việc tiếp xúc này, tuy cần thiết nhưng phải hết sức nhanh chóng, tránh sự theo dõi có thể có của cơ quan phản gián Ai Cập và Xy-ri.

Ê-li tới hiệu cà phê Cô-rin-tát trước 11 giờ. Ngồi chưa nóng chỗ và uống xong tách cà phê thì một người trach sáu lăm tuổi, tóc bạc phơ đẹp như cước, lại gần hắn, tự giới thiệu tên là “A-bơ-ra-ham” và bắt tay hắn giống như Xa-linh-gơ ở Duy-rích. Lão già này nhận ra Ê-li nhờ một tấm ảnh do Cục tình báo Ten A-víp đưa cho.

Cuộc trao đổi giữa hai người ngắn gọn, họ nói với nhau bằng tiếng Tây ban nha. Đông đảo khách hàng của tiệm lớn này không biết rằng, ngay trước mặt họ đang bắt đầu một trong những hoạt động lớn nhất của thế kỷ này.

Sau vài lời trao đổi chúc mừng, A-bơ-ra-ham đưa cho Ê-li một tờ báo, trên lề đã ghi một địa chỉ, giải thích cho Ê-li là phải tìm đến địa chỉ này, ở đây có thể thuê một căn nhà có đồ đạc sẵn khá sang trọng. Rồi ông ta dặn miệng với Ê-li địa chỉ một giáo sư dậy tiếng Tây Ban Nha và nói thẳng: Anh nói dậy tiếng Tây Ban Nha còn tồi lắm và cần học thêm ít bài học nữa.

A-bơ-ra-ham hẹn, thật họa hoằn ông ta mới gặp Ê-li và trong trường hợp khẩn cấp, sẽ cho y một số điện thoại để có thể gặp ông ta được.

Ê-li Co-hen còn phải thuộc lòng địa chỉ và số điện thoại của hãng giao dịch vận chuyển đường biển và đường không mà ở đây, người ta sẽ trả lời y vào bất kỳ lúc nào vì rằng “Ông Ta-áp là chủ nhân và là Tổng giám đốc của hãng”. A-bơ-ra-ham còn hứa với Ê-li ngày mai sẽ kiếm cho y một số danh thiếp và giấy có tiêu đề cần dùng.

A-bơ-ra-ham cho biết, trong hạn ba tháng, sẽ tìm cho người điệp viên I-xra-en một hộ chiếu Ác-hen-ti-na mang tên Ta-áp. Và để kết thúc, A-bơ-ra-ham trao cho Ê-li một mảnh giấy nhỏ trên có ghi những nhân vật A-rập sống ở Bu-ê-nốt Ai-rét, địa chỉ của họ và những chỉ dẫn cần thiết về “Câu lạc bộ Hồi giáo” ở thủ đô và các tiệm ăn A-rập, nơi gặp gỡ ưa thích của dân di cư Xy-ri và Li-băng.

“Hãy quan hệ thật nhanh với những nơi này và anh sẽ có những thư giới thiệu và gửi gắm với Đa-mát” A-bơ-ra-ham nói thêm. Sau khi bắt tay Ê-li, y đi khỏi bàn. Cả cuộc trao đổi giữa hai người không đầy mười lăm phút. Rồi như chợ nhớ tới điều gì, A-bơ-ra-ham quay lại, ghé sát vào tai Ê-li nói bằng tiếng Hê-bơ-rơ với nụ cười trên môi: Bê-hát-xla-ba (nghĩa là thành công).

Từ ngày ấy, vận may đã dẫn y từ thành công này đến thành công khác. Ngay trong tháng 2 năm 1961, Ê-li đã làm quen với một nhân vật quan trọng, người này chẳng biết y là ai, đã mở đường cho y đi Đa-mát.

Mới đến Bu-ê-nốt Ai-rét được một tuần, Ê-li Cô-hen tức Ca-min Ta-áp đã trở thành khách quen của “Câu lạc bộ Hồi giáo” do A-bơ-ra-ham giới thiệu. Hàng ngày y tới đây đọc các báo xuất bản ở Cai-rô và Đa-mát mà Câu lạc bộ dành cho khách và dễ dàng trở thành một thành viên của Câu lạc bộ. Y chuyện trò trao đổi, tất nhiên là bằng tiểng Ả-rập với cánh di cư Li-băng và Xy-ri trẻ tuổi luôn luôn chơi Sét-bét (một loại cờ đô-mi-nô) với họ, và cùng bọn họ ăn cơm tối thật khuya, như vẫn thường như thế ở Bu-ê-nốt Ai-rét. Ta-áp nói ít thôi, nhưng thỉnh thoảng kín đáo để lộ một chi tiết nào đó về địa vị và cuộc đời của y, thỉnh thoảng lại nói cho cánh thanh niên này biết y là nhà buôn, đã gom góp được một số vốn nhỏ và điều ước mong quí giá của y là trở về xứ sở của cha mẹ để tham gia những hoạt động chung. Họ tranh luận tới đêm khuya những vấn đề lúc bấy giờ đang chấn động Xy-ri.

Một hôm, có một người đàn ông tuổi trạc năm mươi rất nổi tiếng trong chính giới A-rập ở Ác-hen-ti-na tên là Áp-da-la La-típ A-lê-san đến ngồi vào bàn cờ Sét-bét của Ta-áp.

Điểm một bộ ria mép khá đẹp nhưng đầu chẳng còn sợi tóc nào, thấp bé và bụng phệ. A-lê-san là chủ bút có quyền thế của tờ tuần báo A-rập quan trọng ở Bu-ê-nốt Ai-rét, tờ An A-a-lam A-ra-bi (Thế giới A-rập). Ngay khi đến Câu lạc bộ lần thứ hai, Ca-min Ta-áp đã chú ý đến A-lê-san và chờ có dịp thuận lợi là làm quen. Ván cờ Sét-bét lúc này có tác dụng tuyệt diệu. Đi xong vài nước, Ta-áp mở đầu với A-lê-san bằng câu chuyện dài về tình hình chính trị ở Xy-ri, Ta-áp nói với người chủ bút của tờ tuần báo là hắn quá chịu đựng với cuộc sống “tha hương”, hắn cảm thấy mình là dân Xy-ri hơn là dân Ác-hen-ti-na, và rất nhớ quê hương xứ sở. Tóm lại, Ta-áp nói rất thật và hết sức tự nhiên “Tôi có ý định nay mai đi Đa-mát”. A-lê-san nghe chàng thanh niên nói một cách thích thú và mời Ta-áp tới thăm tòa soạn để tiếp tục cuộc mạn đàm. Ta-áp hoan hỉ nhận lời và lập tức hẹn gặp nhau vào ngày 23 tháng hai năm 1961.

Đó là ngày đánh dấu sự thành công của Ta-áp về sự mau lẹ mà y biết sẽ dẫn vào các chính giới có quyền thế ở Bu-ê-nốt Ai-rét. Chưa dầy hai tuần lễ sau khi tới Ác-hen-ti-na, một xứ sở xa lạ và hoàn toàn mới mẻ. Ca-min Ta-áp đã chễm chệ ngồi trong chiếc ghế bành sang trọng trước mặt người chủ bút tuần báo A-rập của thủ đô.

Cuộc mạn đàm kéo dài đến hơn hai tiếng đồng hồ. Nhà viết báo hỏi chàng thanh niên A-rập hàng tràng câu hỏi về đời sống và gia đình của y và Ta-áp cũng kể cho nhà báo hàng lô chuyện thật phong phú về thời niên thiếu của y, về A-lec-xăng-đơ-ri về việc di cư của cha mẹ y và các hoạt động kinh doanh ở thủ đô Ác-hen-ti-na.

Qua vài nhận xét về A-lê-san, Ta-áp biết rằng A-lê-san mong thấy một Đảng “BAATH” ở Xy-ri (Đảng Xã hội Phục hưng A-rập) nắm chính quyền trong nước. A-lê-san nói cho Ta-áp biết rằng ông tán thành chính sách hợp tác giữa Xy-ri và Ai Cập nhưng chống lại sự thống trị của Ai Cập đối với “Tỉnh Xy-ri” và sự bóc lột của chính quyền Nát-xe đang tiến hành ở Xy-ri.

Ta-áp liền có nhận xét như sau: “Tôi sẽ sẵn sàng đi Xy-ri ngay hôm nay để hiến dâng phần mình cho nỗ lực quốc gia. Nhưng tôi sẽ lo không được đón tiếp cẩn thận. Tôi không quen biết ai ở Đa-mát cả, tôi sợ mất cả thì giờ và thiện chí của tôi”.

A-lê-san đáp: “ Ngày nào anh định đi Đa-mát, hãy báo cho tôi và chớ có ngại việc gì cả. Không lo gì cả, tôi sẽ giới thiệu anh với tất cả các bạn của tôi. Trong khi chờ đợi, khi nào anh muốn, cứ đến gặp tôi. Tôi thích anh lắm, tôi là bạn anh”.

Trước khi chia tay, A-lê-san hỏi xin địa chỉ của Ta-áp để gửi cho y báo hàng tuần của ông ta. Ta-áp liền cho ngay địa chỉ nhà hắn vừa thuê xong ở Bu-ê-nốt Ai-rét: Phố Ta-ca-ra số 1485. Ta-áp còn cho A-lê-san một danh thiếp trên có ghi tên và địa chỉ của hãng vận tải. Y có cảm giác đã tranh thủ được tín nhiệm của nhà báo A-rập và cảm giác ấy là có cơ sở hơn là phỏng đoán. Chứng cớ hiển nhiên và công khai chỉ đước nêu lên bốn năm sau, lúc mà Ê-li Cô-hen bị xử tử ở Đa-mát. Áp-da-la La-típ A-lê-san hồi đó có gửi một bức thư ngỏ cho tờ báo hàng ngày “En Hay-át” ở Bêy-rút, một tờ báo quan trọng nhất ở Trung Đông, tự bào chữa trước những lời tố cáo của Xy-ri là ông ta có tội đã giúp đỡ tích cực cho tên gián điệp I-xra-en.

Bức thư đó như sau:

“Có một hôm, tôi tiếp một thanh niên trạc 30 tuổi, tự giới thiệu là Ca-man A-min Ta-áp. Hắn kể với tôi rằng hắn đã sống ở Ai Cập khi còn trẻ. Sau đó, tôi có dịp hay gặp hắn trong những cuộc chiêu đãi, tiệc tùng ở các sứ quán A-rập và ở Câu lạc bộ đạo Hồi mà tất cả thanh niên A-rập ở Bu-ê-nốt Ai-rét thường lui tới. Chúng tôi có trao đổi với nhau nhiều lần. Nói chung hắn lầm lì. Tôi có ấn tượng hắn là một thanh niên đứng đắn và chín chắn. Hắn rất chú ý đến các vấn đề của các nước A-rập và đã xin tôi các tờ báo A-rập sau khi tôi đã xem xong.

A-lê-san viết tiếp: “Một hôm hắn bảo với tôi rằng hắn sẽ về Xy-ri. Đúng, hồi đó tôi có cho hắn mấy bức thư giới thiệu. Nhưng không phải tôi là người phái hắn sang Xy-ri để do thám cho I-xra-en. Chính những bạn thân, các Tổng lãnh sự của các nước A-rập đã thị thực và tạo điều kiện cho hắn xâm nhập Đa-mát. Sau đó, nếu hắn đánh lừa được tất cả các cơ quan mật vụ của A-rập trong bốn năm trời thì có nên kết tội tôi là người không biết lý lịch thật của hắn trong mấy lần tôi nói chuyện với hắn hay không?”

Ngay bản thân Ê-li cũng không biết trước thời gian y gặp A-lê-san, y đã gây được lòng tin đối với ông ta đến mức cao độ như bức thư kể trên. Nhưng sự tiên đoán đã cho biết là y thủ vai Ca-man Ta-áp thành công và nhân vật Ê-li Cô-hen ngày nay hoàn toàn tan ra mây khói.. Y cũng hiểu rằng, và đây là điều quan trọng sống còn, A-bơ-ra-ham, người liên lạc viên đã chăm sóc một cách có hiệu quả, vẽ mọi chi tiết cho cái “vỏ bọc” của y, cung cấp cho y mọi lập chứng cần thiết, đề phòng trường hợp có sự điều tra bất ngờ của bạn bè mới quen về gốc rễ, quá khứ của gia đình y. Mỗi bước đi, Ê-li cảm thấy hiệu quả từ những thế lực của A-bơ-ra-ham. Vấn đề biết mình được hỗ trợ trong nhiệm vụ và biết mình được bảo vệ có tác dụng tăng gấp đôi lòng tin tưởng của tên gián điệp.

Thỉnh thoảng A-bơ-ra-ham lại cung cấp tiền nong cho Ta-áp để tiêu dùng cần thiết và cho sinh hoạt, vì do tính chất của vai trò mà y đang đóng khá cao. Y không hề đặt vấn đề này với Cục tình báo Ten A-víp và y thì ăn tiêu không bao giờ quá số tiền được phép chi.

Áp-da-la La-típ A-lê-san đã không thêm thắt gì trong bức thư đề năm 1965. Ca-man Ta-áp không chịu dừng lại ở chỗ chỉ có quan hệ với viên chủ bút tờ tạp chí A-rập ở Bu-ê-nốt Ai-rét mà thôi. Chỉ trong vòng vài tuần lễ, y đã trở thành một quan khách quen thuộc của mọi buổi chiêu đãi ngoại giao tại các sứ quán A-rập ở thủ đô. Người ta thấy y trong mọi cuộc lễ lạt A-rập phần nhiều do “Câu lạc bộ Hồi giáo” tổ chức. Người ta gặp gỡ y trong các tiệc đứng ở các sứ quán Xy-ri, Ai-cập và Li-băng. Trong vòng mấy tuần lễ này, có thể nói Ta-áp đã trở thành một nhân tố thụ động nhưng kiên trì của cái quang cảnh nửa xã giao, nửa chính trị, trong số vài trăm người không thay đổi mà người ta thường gặp tại các buổi chiêu đãi ngoại giao dù là ở Bu-ê-nốt Ai-rét, ở Oa-sinh-tơn hay ở Pa-ri. Việc này đương nhiên chả có gì là lạ cả và ai đã quen thuộc với chốn quyền cao này, căn bản đều biết rằng chẳng có gì dễ dàng hơn là muốn trở thành khách quen của các buổi chiêu đãi xã giao. Chỉ cốt là mình muốn, chịu hiểu những nơi này và có đủ can đảm cần thiết để đến nơi định đến cho đúng giờ. Những người khác, khách và chủ có thói quen thấy một người nào đó trong buổi chiêu đãi, chẳng bao giờ đặt vấn đề hỏi gốc gác và lý do sự có mặt của người này. Việc có mặt của Ta-áp ở tất cả các sứ quán A-rập cũng không vượt ra ngoài sự bình thường. Đã nhập vào nơi này rồi, liệu y có thể tiếp tục giữ vai trò của Ca-man Ta-áp, không nứt rạn gì, và dưới cái căn cước này mà mở rộng thêm vòng quan hệ cá nhân để từ đó có thể lợi dụng được khi cần?

Có một hôm, Ta-áp gặp ở sứ quán Xy-ri một người, bốn năm sau sẽ quyết định xử tử y, tướng A-min En Ha-phê. Tướng Ha-phê đẹp trai, tóc đốm hoa râm, với một chùm tóc luôn luôn lòa xòa trước trán, có dáng người Nam Mỹ hơn là Xy-ri, lúc bấy giờ là Tùy viên quân sự của Đại sứ quán Xy-ri ở Bu-ê-nốt Ai-rét. Trong một buổi chiêu đãi ở sứ quán, Áp-da-la A-lê-san đã giới thiệu Ta-áp với tướng Ha-phê. Ông tùy viên quân sự oai vệ, dưới bộ quân phục bóng bẩy, đang bàn chuyện chính sự với A-lê-san và Ta-áp. Ha-phê nhắc đi nhắc lại nhiều lần với niềm tin tưởng về tương lai của Đảng BAATH của ông ta. Ông quả quyết với hai người rằng: ‘Đây là Đảng duy nhất ở Xy-ri có khả năng đem lại vinh quang cho đất nước chúng ta. Cuối năm nay tôi sẽ hết nhiệm vụ ở Ac-hen-ti-na. Trở về Xy-ri tôi sẽ chuyển hoạt động chính trị trong Đảng”.

Vị quân nhân Xy-ri lịch sự này có lẽ chưa biết rằng chẳng bao lâu nữa, Đảng BAATH sẽ đặt ông cho chức vụ cao nhất của nước ông, Tổng thống nước Cộng hòa Xy-ri.

Ta-áp chăm chú lắng nghe như nuốt từng lời của Ha-phê và chỉ nhận xét như thế này: “Thưa tướng quân, nếu tôi mà ở Đa-mát, tôi cũng sẽ làm giống như ngài..”

“Thế anh còn chờ gì mà chưa về đấy?..” Ha-phê đáp lại như một mệnh lệnh và quay mặt đi để nói chuyện với người khác.

Trong một bản báo cáo sau này gửi lên cấp trên, Ê-li Cô-hen ghi rằng, tướng Ha-phê không chút nghi ngờ gì về câu nói ngắn của y vì nhiều lần gặp lại y ở các dịp khác, ông đề nhay nháy mắt và hỏi: “Thế nào, định để chuyến đi Xy-ri đến bao giờ thế?”.

Họa hoằn Ê-li mới có dịp gặp A-bơ-ra-ham, mỗi lần ở một nơi khác nhau và mỗi lần lại giữ bí mật tuyệt đối. Y trao cho A-bơ-ra-ham những báo cáo chi tiết về các mối quan hệ trong các chính giới A-rập, mở rộng từ tuần lễ này tới tuần lễ khác. A-bơ-ra-ham có vẻ hài lòng. Trong vòng ba tháng, như đã hứa, y trao cho Ê-li một hộ chiếu và một thẻ căn cước Ác-hen-ti-na mang tên là Ca-man A-min Ta-áp.

Tháng 5 năm 1961, A-bơ-ra-ham truyền đạt lại cho Ca-min Ta-áp một chỉ thị mới của Ten A-víp: ‘Phải báo cho bạn bè biết là anh định nay mai sẽ đi thăm các nước A-rập và có ý định sẽ thăm Đa-mát để tìm hiểu tại chỗ những khả năng sinh sống hẳn ở đây”.

Ta-áp chấp hành ngay. Y đi tìm bạn bè để xin thư giới thiệu. Ngày 13 tháng 5 năm 1961, Ta-áp đến văn phòng A-lê-san báo cho ông ta biết là mình quyết định đi và xin thư giới thiệu. A-lê-san đã giữ lời hứa, ông hoan hỉ đưa cho Ta-áp xem bức thư vừa viết cho con trai ở Đa-mát và ghi thêm vào bức thư vài chữ giới thiệu ông bạn Ca-man Ta-áp. Ngoài ra, A-lê-san còn đưa cho Ta-áp một bức thư giới thiệu khác gửi con trai tên là Ca-man Hát-xan và ba bức thư như thế, một bức cho Ha-bíp Ha-ríp là một nhà buôn, bạn của A-lê-san, là người có tiếng ở Đa-mát, một bức thư khác gửi cho người em họ ở A-lec-xăng-đơ-ri và bức thứ ba cho một tay chủ ngân hàng có tiếng ở Bi-ê-rút.

Với kiểu này, Ta-áp có cả một lô những thư từ của bạn bè A-rập ở Bu-ê-nốt Ai-rét, phần đông nhờ hắn gửi cho gia đình ở Li-băng và Xy-ri. Ta-áp thận trọng kể với mọi người rằng, hắn sẽ đi tham quan nhiều thủ đô A-rập, nhưng không quên nói thêm, y sẽ dừng lại châu Âu một thời gian.

Ta-áp xin được một thị thức Ai Cập ở Đại sứ quán Cộng hòa A-rập thống nhất ở Bu-ê-nốt Ai-rét không khó khăn gì. Cả lãnh sự quán Li-băng cũng cấp cho y một thị thực giá trị trong sáu tháng. Như vậy là Ca-man Ta-áp sẵn sàng lên đường mà nơi dừng chân cuối cùng là Đa-mát. Sáu tháng trôi qua kể từ ngày y tới Ác-hen-ti-na, vai trò mới của y thế là đã tác thành vĩnh viễn.

Cuối tháng tám năm 1961, Ta-áp đáp máy bay đi từ Bu-ê-nốt Ai-rét đi Duy-rích, lần này y đi qua Luân-đôn, nhưng không ở lại. Làm đúng chỉ thị nhận qua A-bơ-ra-ham, y chỉ ở lại Duy-rích trong thời gian đổi máy bay. Khi kiểm soát hộ chiếu và hải quan xong, y nhận ra một người quen cũ: I-xra-en Xa-linh-gơ, liên lạc viên của y ở châu Âu.

Trong suốt thời gian Ê-li ở lại Ác-hen-ti-na, Xa-linh-gơ đều nhận gửi thư từ của y cho Na-đi-a ở I-xra-en qua một hòm thư bí mật ở Duy-rích, mỗi lần Xa-linh-gơ đều cẩn thận gửi từ một thành phố khác nhau ở châu Âu. Thư Ê-li viết cho vợ đều ngắn gọn và chỉ nói đến “công việc làm ăn” mà y đang làm ở châu Âu. Trong khi chồng đi vắng, Na-đi-a đều đặn tiếp nhận lương hàng tháng của chồng do một hãng buôn tưởng tượng trả cho.

Xa-linh-gơ được nghe chính Ê-li Cô-hen kể lại tình tiết về nhiệm vụ mà y đã hoàn thành ở Ác-hen-ti-na. Nhiều lần Ê-li nói, y sẵn sàng đi Đa-mát và có thể vui vẻ lên đường ngay ngày hôm nay. Xa-linh-gơ cho y biết chỉ thị cuối cùng của Ten A-víp: “Ê-li sẽ chỉ đi Đa-mát trong vài tháng nữa”. Trong lúc này, ở Ten A-víp y còn phải trải qua một đợt huấn luyện mới và là đợt cuối cùng.

Xa-linh-gơ nhận từ tay Ê-li những giấy tờ căn cước mang tên Ta-áp, những thư giới thiệu với các thủ đô A-rập và cả túi quần áo mà y sắm được ở Ác-hen-ti-na. Ê-li nhận lại của Xa-linh-gơ những giấy tờ căn cước I-xra-en, quần áo cũ gửi Xa-linh-gơ khi ở Duy-rích. Còn lại ít thì giờ rỗi rãi ở Duy-rích, y đi mua nhiều quà cho vợ, con gái và gia đình. Sau cùng y đáp một máy bay I-xra-en đi Ten A-víp.

Ở Ly-da từ trên máy bay xuống, vẫn cái xe tải nhỏ của cơ quan “Môt-xát” và gã lái xe Ghi-đê-ông đưa Ê-li Cô-hen về Bát Y-am.

Ê-li trở về nhà cũng đột ngột như lúc ở nhà đi. Khỏi cần phải nói đến sự vui mừng của vợ con và gia đình khi gặp lại y sau sáu tháng ròng vắng nhà, cũng như khi Ê-li Cô-hen nghe thấy con gái là Xô-phi nói tiếng Hê-bơ-rơ “ab-ba”, nghĩa là “bố ơi”.

Y kể lại chuyện châu Âu cho mọi người trong nhà nghe nhưng không hề đả động đến thời gian ở Nam Mỹ.

Ngay cả Đéc-vi-sơ cũng không hề gây phiền hà gì. Trong suốt tuần lễ đầu tháng chín, Ê-li hoàn toàn vui thú với gia đình ở I-xra-en.

N TRANH (The Spy Game in the Middle East) ebook©MotSAch —★— TVE-4u©Vnmilitaryhistory Nhà xuất bản Công an nhân dân
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Y. Ben Porat, Uri Dan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.