Đường Dịch sở dĩ chọn mấy đứa trẻ theo Hắc Tử tới làm đợt học sinh đầu tiên cho dân học, mà không chọn con em nông dân thuê đất ở Hồi Sơn, một là vì quá đông không dạy nổi; hai là cân nhắc đến phương diện kiểm soát.
Mấy đứa trẻ theo Hắc Tử tới, không nói gì khác, chắc chắn là một lòng một dạ với Đường Dịch, sau này không cần phải lo vấn đề có khống chế được hay không.
Con em nông dân thuê đất ở Hồi Sơn lại không giống như vậy, dù sao cũng không hoàn toàn trói buộc với Đường Dịch như đám Hắc Tử, sau này nếu nảy sinh dị tâm, thì tâm huyết mấy năm, thậm chí mười mấy năm của y coi như đổ sông đổ biển.
Đường Dịch nói rất rõ ràng với Vương Lý Chính, dân học không giống thư viện, trẻ con đào tạo ra cũng không phải để đi thi khoa cử.
Không ngờ, Vương Lý Chính nhăn cái mặt già nua nói: "Thiếu gia nghĩ xa quá rồi, chúng ta nào dám mơ tưởng bắt lũ trẻ thi đỗ tiến sĩ gì, chỉ mong nó biết chữ, sau này đừng giống như ta, đến cái sổ sách cũng tính không thông là được rồi."
Nói đoạn, Vương Lý Chính cúi người vái dài: "Thiếu gia là người tốt, xin hãy làm phúc, thu nhận đứa nhỏ nhà ta với ạ."
Thôi xong!
Đường Dịch không thể chối từ thêm được nữa.
"Vậy Vương thúc đưa đứa nhỏ đến đi, để ta xem thử."
Vương Lý Chính mở một "đầu xuôi" tốt, nông hộ ở thôn Hồi Sơn vừa nghe tin Lý Chính đưa 'Vương Cẩu Đản' nhà mình đến dân học để học chữ...
Thế còn ra thể thống gì nữa?
Cả buổi chiều, Đường Dịch không được yên ổn, bị đám người này vây kín, ai nấy đều cầm chút bạc lẻ trong nhà, đến cầu xin Đường Dịch thu nhận con cái nhà mình.
Đường Dịch không sợ người ta chơi bài ngang ngược, chỉ sợ kiểu vở kịch khổ nhục này, cuối cùng, đành để người ta thống kê lại trẻ con ở thôn Hồi Sơn, cứ trẻ từ tám đến mười tuổi là thu nhận tất.
Học sinh dân học từ bảy tám đứa, lập tức biến thành hai mươi bảy đứa!
Còn về học phí dân làng đưa tới, thứ Đường Dịch thiếu là thời gian và tinh lực, chứ thật sự không phải thiếu chút tiền đó của họ.
Huống hồ, khi y nhìn thấy hơn hai mươi đứa trẻ đó đứng trước mặt mình với ánh mắt mong chờ, Đường Dịch đến cả suy nghĩ sợ tốn sức, sợ mệt cũng chẳng còn.
Thời đại này, 'tri thức' xem như là hàng xa xỉ. Đừng nói đến bụng đầy kinh luân, ngay cả việc biết nhiều hơn người thường vài chữ, đối với bách tính mà nói, đều là việc lớn thay đổi vận mệnh!
Có thể thay đổi vận mệnh cả đời của nhiều đứa trẻ như vậy, cái cảm giác thành tựu đó... không thể diễn tả bằng lời.
Dân học khai giảng không long trọng như Quan Lan thư viện lúc ban đầu, thậm chí căn bản chẳng có nghi thức gì cả.
Đường Dịch phát cho mỗi học đồng bút mực và các dụng cụ, rồi phát 'sách giáo khoa' tự mình mày mò ra, thế là xong chuyện.
Thế nhưng, lúc lên lớp lại không giống như vậy. Ngoài hai mươi bảy học sinh ra, mấy chục nho sinh của Quan Lan thư viện vây quanh phòng học dân học kín mít từ trong ra ngoài, ngay cả đám hố người như Tiện Thuần Lễ, Tống Khải cũng đến xem trò cười của y.
Chẳng vì gì khác, họ chỉ muốn xem, bản thân Đường Tử Hạo còn chưa học thông suốt, thì dạy người khác kiểu gì...
Còn Phạm Trọng Yêm và mấy vị sư phụ đức cao vọng trọng, hiện đang ngồi ở hàng ghế cuối của phòng học, cũng chuyên tâm đến nghe Đường Dịch giảng học.
Đây là điều Đường Dịch đã bàn bạc với thầy lúc nhất quyết muốn mở dân học, Phạm Trọng Yêm bắt buộc phải nghe y giảng vài buổi, mới có thể quyết định có để y tiếp tục mở dân học hay không. Việc này không chỉ liên quan đến chuyện làm lỡ dở việc học hành chính quy của Đường Dịch, mà hơn thế, Phạm Trọng Yêm sợ y làm lỡ dở tương lai của con trẻ!
Lúc này, Đường Dịch đứng ở vị trí cao nhất của phòng học, trán lấm tấm mồ hôi hột.
Hai kiếp làm người cũng chưa từng dạy học cho ai bao giờ, bảo không căng thẳng là nói dối. Huống hồ, thầy và mấy vị sư phụ đều đang ngồi dưới kia kìa, giảng bài cho một đám đại nho, áp lực của Đường Dịch hơi lớn.
"Dạy mấy đứa nhỏ biết chữ loại chuyện này, chắc là không khó đâu nhỉ?" Đường Dịch tự an ủi mình như vậy.
Hít sâu một hơi, "Mọi người mở trang đầu tiên của 《 Mông Học 》 ra."
Được rồi, thực ra chính là 《 Sách giáo khoa Ngữ văn 》, Đường Dịch đổi cho một cái tên phù hợp với Đại Tống.
Thấy đám trẻ con bên dưới mang gương mặt ngây thơ và phấn khích lật mở cuốn sách trước mặt, Đường Dịch cũng không nói thêm một câu nào, cầm lấy một viên 'phấn trắng' quay người đi đến trước tấm bảng đen bắt đầu viết.
Bảng đen là thứ Đường Dịch nhờ người chế tạo đặc biệt, lúc đầu chẳng ai biết đây là cái gì. Bây giờ thấy Đường Dịch viết viết vẽ vẽ trên đó, mới chợt vỡ lẽ, hóa ra đây là một loại 'giáo cụ'.
Tuy nhiên, không thể không nói, đối với người Tống vốn đã quen với cách thức truyền thụ "thầy đứng trên bục giảng dùng miệng nói, trò ngồi dưới lớp dùng tai nghe", thì phương pháp dạy học trực quan, sinh động có cả hình ảnh lẫn văn tự này quả là khá mới mẻ.
Còn 'phấn' là do đá vôi tự nhiên gọt giũa mà thành, viết chữ trắng trên bảng đen, vô cùng nổi bật.
Phạm Trọng Yêm không có sách giáo khoa trong tay lũ trẻ, cũng không biết thứ Đường Dịch mày mò ra là 《 Mông Học 》 gì. Nhưng, dùng suy đoán cũng có thể biết, chẳng qua là mấy thứ như 《 Thiên Tự Văn 》, 《 Bách Gia Tính 》 mà thôi.
Vì vậy ngẩng đầu nhìn Đường Dịch viết chữ trên bảng đen, muốn xem rốt cuộc y định dạy thế nào.
Chỉ là...
Chỉ là, thằng nhóc này đang vẽ bùa chú gì thế kia?
Đường Dịch viết một lúc lâu, đại thần Phạm Trọng Yêm lại chẳng nhận ra lấy một chữ nào. Ngược lại Đỗ Diễn kiến thức sâu rộng, khẽ nói với Phạm Trọng Yêm: "Giống như một loại văn tự của nước Đại Thực."
"Văn Đại Thực?" Phạm Trọng Yêm càng mơ hồ hơn.
Đám học đồng này ngay cả chữ Hán còn chưa biết, Đường Dịch viết văn Đại Thực làm gì?
Thực ra chẳng phải văn Đại Thực.
Cái gọi là văn Đại Thực, chính là văn tự Ả Rập mà đế quốc Ả Rập cùng thời đại với Đại Tống sử dụng.
Đường Dịch không biết chữ Ả Rập nào cả, nhưng Đỗ Diễn nói cũng không sai, thứ y đang viết, quả thực là các chữ cái Latinh mà người Đại Thực truyền vào Trung Nguyên.
Chữ cái Latinh sớm nhất do người La Mã phát triển từ bảng chữ cái Ai Cập, dần dần truyền khắp châu Âu. Đời Đường được người Ả Rập truyền vào Trung Nguyên, nên Đỗ Diễn mới tưởng đó là văn Đại Thực.
Hiện nay ở Khai Phong cũng có thể tìm thấy thương nhân Đại Thực biết loại văn tự này, chỉ là chữ cái Latinh chỉ lưu truyền trong số ít thương nhân Đại Thực, không được người Tống biết đến rộng rãi.
Vậy tại sao Đường Dịch lại lôi nó ra?
Vì muốn nhàn việc!
Bảng chữ cái Latinh là thứ văn tự được ứng dụng rộng rãi nhất hậu thế, bao gồm cả trong tiếng Hán cũng có ứng dụng, đó chính là bính âm Hán ngữ.
Mở dân học, vấn đề hàng đầu đương nhiên là dạy bọn trẻ biết chữ. Mà muốn biết chữ, tất nhiên không thể tách rời vấn đề chú âm.
Đường Dịch vốn đã quen với phương pháp chú âm bằng bính âm ở hậu thế, đối với "phương pháp phản thiết chú âm" mà Đại Tống sử dụng thì căm ghét tột độ, thực sự là quá sức phiền phức, quá sức khó khăn!
Phương pháp phản thiết, nói trắng ra chính là dùng hai chữ để chú âm cho một chữ, lấy phụ âm của chữ thứ nhất, kết hợp với nguyên âm của chữ thứ hai, đọc ra âm tiết của chữ mới.
Ví dụ như: 'Chi Hốt' là 'Chư'.
Chính là lấy phụ âm 'zh' của chữ 'Chi', và nguyên âm 'u' của chữ 'Hốt' kết hợp lại để ra âm đọc của chữ 'Chư'.
Không những rườm rà, mà còn rất dễ sai sót.
Thế nên, Đường Dịch không chút do dự lựa chọn dạy bọn trẻ "phương pháp chú âm bằng bính âm", một cách thức đơn giản hơn nhiều.
Thế nhưng, các bạn hiểu mà, đừng xoắn xuýt.
Tôi nhát gan, không chịu nổi sự tra tấn của mấy người quá chú trọng chi tiết đâu. (Còn tiếp.)