Triển Lãm Thuộc Địa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iv
Iv

❊ ❊ ❊

Trong suốt cuộc chiến tranh thế giới Gabriel luôn ở bên máy điện thoại. International Rubber Fund có trụ sở ở trong thành, lầu ba, số 8 Friday Street, ngay trung tâm của khu tài chính. Chúng tôi phần nào xâm nhập không khí của những chủ ngân hàng danh tiếng hơn chúng tôi nhiều. Họ hơn chúng tôi, những người buôn bán, vì họ mặc áo sơ mi kẻ nhạt hơn, và có cái bụng béo tròn hơn. Tuy vậy, chúng tôi cùng một nghề. Tiền bạc chỉ là nguyên liệu, không nên quên điều đó. Phải, cho đến cuối chiến tranh, tôi trực điện thoại trong một phòng rộng, từ đó ta không nhìn thấy gì ở ngoài hết, dù chỉ là một khúc rất nhỏ của sông Tamise… Tuy nhiên, chỉ cần nhắm mắt lại và dỏng tai lên là ta có thể du lịch đây đó, chúng tôi coi thế giới là bất kỳ chỗ nào có trồng cây cao su.

- Ông có nhựa cao su không? Bao nhiêu? Chất lượng thế nào?

Chúng tôi chẳng xem đến bản đồ nữa. Chúng tôi học thuộc nhanh tên các thành phố và các làng.

Hàng tuần, nhiều vị đại tướng đến thăm chúng tôi, có vị giận dữ, có vị nàn nỉ:

- Này các chàng trai các cậu không thể tích cực hơn hay sao, quân đội đang chờ đợi.

Một số khác thì hét lên:

- Các anh phải chịu trách nhiệm về chiến sự kéo dài, về số người chết. Chính anh, chính anh (họ giơ chiếc gậy nhỏ chỉ vào chúng tôi, họ vứt lên bàn hàng chồng ảnh chụp những xe cộ, những cánh đồng đầy máy bay, xe jeep, xe tải trơ bánh, bánh xe cắm vào đất: những thứ đã hóa đá.)

- Thế nào, đã sắp có lốp chưa? Các anh muốn cho bọn quốc xã thắng trận hay sao đấy?

Họ dọa chúng tôi đủ điều (họ dọa cả mi đấy, mi là người Pháp nên càng gay: tòa án quân sự với tội phá hoại). Nhưng, những vị cao cấp ấy cũng chẳng làm gì được chúng tôi, điện thoại là một kỹ thuật riêng biệt và cao su là cả một vũ trụ. Những bức ảnh đó đã làm cho các bạn đồng nghiệp trẻ của tôi hiểu được tầm quan trọng của việc chúng tôi làm. Thoạt đầu, họ không nhận thấy điều đó. Họ truyền lệnh đi cũng như họ mua bất cứ thứ gì: đồng, tungsten, … nhưng khi được nhìn thấy những đoàn quân bất động, không còn sinh lực, nằm liệt, họ đã ý thức được rằng chính cao su là động lực, là nguyên nhân chuyển động, nó là nguyên liệu cách ly với đất và đồng thời nối liền với đất.

Họ lắc đầu, những anh chàng John, James, Mark, Peter bé nhỏ. Họ nhắc lại: đúng thật, đúng thật, cao su mới quý làm sao, vai trò của nó quan trọng biết bao! Họ hỏi tôi như những đứa trẻ. Gabriel giải đáp như một người đàn ông. Anh lợi dụng những lúc rỗi rãi để giảng cho họ về kỹ thuật lốp cao su và nhắc lại những kỷ niệm xa xưa. Tất cả những lần liên lạc với Brésil (Alô Manaus, Santarem, Alô Porto Velho) anh đều có cảm tưởng như nói chuyện với thời niên thiếu của mình, với Clara người vợ trẻ của anh (em không rời anh đâu Gabriel…), với ông chủ khách sạn Pháp ở Belem, một chuyên gia ái tình, các bạn thân của anh ở Sở địa chính, những khách hàng quen ở quán cà phê Byron…

Tôi đã nhớ lại họ, từng người một; ở Brésil, con trai thường trùng tên với bố. Tôi rất quen biết xứ ấy. Ba mươi năm sau, hình như chẳng có gì thay đổi, rừng vẫn giữ nguyên, cả con người và vật.

Alô Aristiles, alô Eugenio, các bạn có khỏe không? Các bạn có nhớ tôi không? Tôi gọi từ Mỹ đây (tôi nói dối, vì những người vùng nhiệt đới vẫn mơ tới nước Mỹ hơn nước Anh). Họ nhắc lại: Mỹ, nước Mỹ. Họ tưởng như biết tôi từ lâu.

- Phải, phải, alô, nói to lên!

- Tôi là Gabriel Orsenna, ông biết không, tôi là người đã bị vợ bỏ và đang buồn lắm.

- Phải! Bố tôi đã nói với tôi điều đó.

- Bây giờ ông làm gì?

- Buôn bán…

Ở những vùng này, không dùng tiền. Vậy mà tiền vẫn lưu chuyển. Đấy là điều kỳ diệu của vùng nhiệt đới, là viên đá triết học của họ: trao đổi càng nhanh, tiền càng nhiều. Đó là cách lấy lửa của người da đỏ.

- Ông có cao su không?

Phải hét lên trong máy, đường dây rất xấu. Lại phải gây ra một vài tiếng ồn làm nền: bật mở rađiô rất to, mở máy quay đĩa, thỉnh thoảng lại thêm mấy từ “bóng chày”, “Coca-Cola” … Chúng tôi đã làm như đang ở nước Mỹ. Và tất cả bọn họ đã bị lừa, cả những người dân Brésil, thận trọng nhất, đa nghi nhất.

Cuộc trao đổi có khi kéo dài mấy ngày liền:

- Phải, đường dây đã bị cắt. Thế nào, có cao su không?

- Thưa ngài Gabriel, Ngài biết đấy, cao su đã chết. Châu Á đã giết chết chúng tôi.

- Nhưng cây cao su thì vẫn còn chứ?

- Cố nhiên, cố nhiên.

- Hãy bắt đầu lại, bắt đầu lại. Người Nhật đã trả thù cho các anh. Họ đã xâm lược Châu Á. Châu Âu đang thiếu mủ cao su. Chúc may mắn, chúc may mắn. Tôi mua tất. Tôi sẽ gọi lại vào tháng tới. Phải, cũng vào giờ này. Brésil muôn năm! Chúng ta sẽ thu xếp việc chuyên chở.

Người đối thoại hạ giọng:

- Ông có chắc không? Có chắc không?

Ta hãy hình dung người dân xứ Amazone đang rung rẩy áp tai vào ống nghe, mắt đảo quanh xem có ai nhìn thấy không, có ai đoán ra và đánh cắp của anh cái tin tốt lành từ đầu thế kỷ đến nay mới có.

Anh ta thì thầm và thương lượng:

- Một tháng thì nhanh quá. Phải có thời gian, thưa ông Gabriel… phải mướn công nhân, phải tìm lại những con đường cũ. Tất cả đã chết, ông biết đấy …

- Quân đội đồng minh không chờ được.

- Hãy tin ở tôi, tôi sẽ xoay xở được. Nhưng thưa ông, vì tình cảm nồng hậu của bố tôi đối với ông, xin ông cho tôi được độc quyền cho vùng…

Thế rồi chỉ còn tiếng thì thầm. Một số người quên cả đặt máy xuống. Ta nghe thấy cả tiếng họ chạy trên sàn và cả những câu hỏi của phụ nữ: Ai đó? Không, chẳng có ai hết …

Chỉ cần bốn, năm cú điện thoại đi Belem, Santarem, là cơn sốt lại bắt đầu như bốn chục năm trước đây. Gabriel Orsenna có thể khẳng định điều đó một cách bình thản: anh đã làm xứ Amazon sống lại. Hàng ngàn, hàng trăm ngàn livro đã được tung ra trong chiến tranh 1939-1945. Giai đoạn này đáng kể đây chứ?

Tôi rất thích khi phiên tôi trực máy, đúng vào ngày Chủ Nhật hay buổi tối, tôi đứng giữa đám máy. Mỗi lần có người gọi, tôi lại thấy mình ở dưới đám cây, như trước kia, trên bờ sông màu vàng đỏ. Nhiều đồng nghiệp của tôi không thể hiểu được, dù có nghe tôi nói nhiều lần, vì họ không có kỷ niệm nào cả… Tôi không biết bây giờ họ phải làm gì, có lẽ không bao giờ họ dám thú nhận với con cái họ về cách họ đã tham gia chiến tranh trong ngành cao su…

Chúng tôi điều tra tất cả mọi nơi. Một cách ngẫu nhiên thôi. Chúng tôi bị thôi thúc bởi nhu cầu ngày càng cấp bách. Người ta đang chuẩn bị một cuộc đổ bộ. Làm sao mà đổ bộ được khi thiếu lốp xe.

Vậy là tôi đã gọi Trinidad.

Một vị rất lịch sự, đáp lời tôi với giọng người da đỏ. Ông ta tưởng nhầm là tôi hỏi về ngày hội hóa trang.

- Không còn phòng nào cả. Một cái đệm cũng không có, ông có thể ngủ ở ghế sau xe hơi. Xe De Soto? Hay xe Pontiac? Dù sao thì ông cũng sẽ không ngủ được đâu…

Tôi nghe thấy tiếng ông ta hét trong máy: xin các vị hãy yên lặng cho, tôi đang nói chuyện với nước Mỹ.

Có một dàn nhạc đang chơi. Một thứ âm nhạc đinh tai nhức óc, nó có thể làm người bại liệt phải cử động, nó có thể dùng thử xem ai đó đã chết hẳn chưa, còn tốt hơn chiếc gương nhỏ đặt trước mũi. Khi con người không còn phản ứng gì với nhịp điệu đó thì người ấy đã chết. Khi nhìn thấy tôi đánh nhịp, uốn éo, các đồng nghiệp trẻ của tôi bèn giật lấy ống nghe rồi họ cũng uốn éo, dù có tiếng lép bép trong máy, dù có tiếng các cô điện thoại viên hét lên: các anh đã nói xong chưa? Đã xong chưa? Có lẽ chúng tôi sẽ đứng nhảy múa suốt đêm hội hóa trang, xúm quanh bàn điện thoại như một đám đông cầu thủ bóng bầu dục bỗng nhiên bị những nhịp đập Caraїbes lôi cuốn… Nhưng nhiều máy điện thoại khác đang réo chuông. Quân đội đồng minh đang đợi chúng tôi. Gabriel buộc phải ngừng buổi hòa nhạc và sau đó phải nghiêm trị mỗi khi anh nhận thấy ở một cộng tác viên nào đó, một cái nhìn mơ màng, một cái uốn mình, một nụ cười sảng khoái; tất cả dấu hiệu của một người môi giới đang nửa tỉnh nửa mê.

- John?

- Vâng, thưa thủ trưởng…

Và John ngắt máy rồi thở dài. Tôi đi vòng quanh họ, tôi dỏng tay nghe: cấm các anh, hiểu chưa? Cấm gọi Trinidad. Nghe tiếng nhạc là tôi trừng phạt liền. Chúng ta đang chiến tranh. Họ hứa chấp hành, nhưng không giữ được. Rồi lần lượt họ thoái chí, Trinidad, Sainte-Lucie, Saint-Vincent ở đó, hội hóa trang kéo dài.

Phải kể thêm cả những ngày chuẩn bị, ngày diễn tập, bốn ngày hội và sau đó là sức ì, rồi những ngón tay, cứ tiếp tục chơi đàn trong hàng tuần, sau đó mới bất đắc dĩ phải dừng lại…

Trong các hòn đảo, không ai còn nghĩ đến cao su…

- Các ông hãy gọi lại sau, - họ nói. – Vào tháng sáu hay tháng Bảy.

Gabriel chỉ cho phép giải trí sau những lúc báo động, sau những giờ chờ đợi ở ga xe điện ngầm, trên các bến tàu hay trên thang máy, trong khi ở trước mặt bom nổ và nhà sụp. Khi các cộng sự trẻ của anh ra đến ngoài trời thì lập tức họ chạy đến Friday Street, leo bốn bậc thang một, tranh nhau máy điện thoại, và gọi Grenade hay Saint – Barthélemy.

- Các anh có cây cao su không?

- Có việc gì đấy? Các anh muốn gì? – Người đối thoại trả lời, giọng lại rất lạ lùng.

Màu trắng của cát làm chói mắt, màu xanh của biển êm dịu, một con thuyền đáy phẳng kéo lên bờ biển, tiếng sóng vỗ ầm ầm trên các tảng san hô. Trong những lúc đó có thể nghĩ đến chiến tranh được không? Và cảm giác đó (coi như cuộc chiến tranh không có thực) giống như một ngày nghỉ, một buổi sang ngủ muộn.

Gabriel đã lấy mối tình song đôi và vô vọng của mình mà thề rằng; máy điện thoại đều sặc mùi rượu rhum vì đã liên lạc với vùng ấy quá nhiều.

Tôi có ý định gửi một tặng phẩm sau chiến tranh. Tôi sẽ mời ông Loius hay bà Marguerite đến Londres. Tôi sẽ đưa họ xuống xe điện ngầm vào ban ngày ở ga Leiscester Square hay Baker Street. Tôi sẽ nói với họ: vì các người yêu mến Đế quốc Anh, các người hãy xem đi.

Tôi hiểu biết họ. Họ sẽ mở to mắt. Họ sẽ nói: Này Gabriel, thật quá đáng, anh đã phóng đại. Nhưng họ sẽ vui thích và ngạc nhiên như những đứa trẻ trước cây Noel. Họ sẽ vỗ tay, dù đã nhiều tuổi. Tôi sẽ mượn một nhà chuyên môn để phục vụ họ, một cựu dân thuộc địa, anh này sẽ giúp họ đi tìm những người Tamoul hay Sikh, hay Mau-Mau, hay Zoulou. Phải sống trọn đời ở vùng nhiệt đới mới phân biệt được các dân tộc có màu da màu xám, thí dụ, phân biệt một người da đỏ ở Madras với một người da đỏ ở West Indies…

Hàng ngày, tôi đã gặp tất cả bọn họ, cả nam và nữ, có đủ màu da. Họ đứng bất động trên bến cảng và chờ đợi một con tàu nào đó. Hoặc là người ta thấy họ bị mang đi, bị lèn chặt, bị cánh cửa đè bẹp, đứng ngây người sau tấm kính. Họ thuộc đủ loại người, đủ các cỡ, họ giống như một bó người, một thứ bị đóng hộp, sẵn sang để chuyển đi như một lô hàng.

Trong những năm 43-44, tôi đã ở trong xe điện ngầm Londres, những thời gian dài bất tận. Tôi nghe thấy những kẻ thù cùa Gabriel nhạo báng: ồ, ồ! Hắn ta chui tọt xuống đất, hắn run sợ trước những trận ném bom. Chẳng đúng chút nào! Bỗng nhiên, Gabriel có ý định đi theo một người da đen to lớn, đi theo bước chân anh ta trong các hành lang, đổi xe ở Green Pork, ở Charing Cross và đi theo anh ta xuống Colliers Wood, Gabriel chỉ dừng lại ở bậc thang cuối cùng trước khi ra ngoài trời. Khi đó, anh da đen to lớn bỏ đi ngay về với xứ sở của anh và Gabriel đã hiểu: Colliers Wood chỉ là một tên quy ước do những nhân viên phản gián đặt ra. Ở phía trên của ga Colliers Wood là Kenya. Tương tự như trên, Trinnidad (có tên quy ước là Ealing Broadway), Belize (West Ruilip), Rangoom là Dagen-ham East, làm như một thứ để đảm bảo cho trật tự chung…

Vì vậy, ở Londres các cung đường giữa hai chỗ đỗ đều khá dài, dẫu sao cũng cần phải mất thời gian.

Nhờ có xe điện ngầm, Londres vẫn là trọng tâm của thế giới. Đề phòng mọi hiểm họa, nước Anh đã đào những đường hầm dài như thế đó. Một đất nước biết lo xa và cương nghị như vậy có thể nào lại thua trận?

Phải cảm ơn cô Fitzpatrick; theo lời cô nói thì cô là người da nâu, theo giọng nói thì cô khoảng ba mươi tuổi. Cô là điện thoại viên ở bưu điện trung ương, phụ trách đường dây dài, rất duyên dáng và có đủ loại huân chương trên ngực.

Nếu không có cô thì không thể liên lạc với bốn phương trời cao su của Châu Mỹ nhiệt đới. Khi phải chờ đợi hàng ngày hàng giờ để nhận hàng thì nhầm lẫn là thường xuyên. Có lúc nhầm ông bán thịt ở Sacramento với nhà buôn ở Santarem. Lại mất biết bao thời gian để sửa chữa những nhầm lẫn. Lại còn những nhiễu loạn của đường dây, và những lần cắt điện đột ngột vào lúc quan trọng nhất. Nếu như không có cô thì làm sao có thể ghi được ngày giao hàng, tên cảng, cờ của tàu chở hàng (người ta thay cờ từng tháng một để đánh lạc hướng quân địch)? Biết làm sao?

- Cô có thể cho tôi số 8 ở Obidos?

- Xin đừng bỏ máy.

Tính nết cô ấy cũng giống như đoàn xe mô tô đi mở đường cho đoàn xe đón rước. Cô thích mở đường trong những trường hợp ách tắc tồi tệ nhất. Khi nhiệm vụ đã xong, người ta nghe thấy cô đuổi khéo những đối thủ của chúng tôi: ông nói dài dòng quá, xin gọi lại ngày mai, còn ông thì hãy gượm đã, đường dây đang bị ách tắc, bây giờ không thể liên hệ với nước ngoài được, thời buổi chiến tranh mà, thưa ông… xin ông khiếu nại với số 1004… Và cô cũng thường nặng lời với các đồng nghiệp xứ nhiệt đới!

- Ông có biết rằng không trả lời nước Anh vĩ đại là thế nào không? Tôi biết tên ông, tôi sẽ báo cho Tổ chức quốc tế biết.

- Ấy chớ, tôi xin cô, - người đối thoại bị đe dọa năn nỉ, - ông Pereira chắc đang ở bờ sông, tôi sẽ đi tìm ông ấy.

- Có thế chứ, ông hãy chạy nhanh lên, khối thịnh vượng chung còn nhiều việc phải làm.

Tôi lợi dụng những phút phải chờ đợi để làm quen với cô Fitzpatrick.

- Ông thấy đấy, - cô nói, - tôi đã chọn nghề này để giao tiếp.

Cô nói nhỏ để các đồng nghiệp không nghe thấy. Tôi cũng nói nhỏ vì có những anh chàng bảnh bao đứng gần.

- Cô chưa lập gia đình ư?

- Một điện thoại viên chính cống thì không có thời gian biểu.

Tôi muốn nghe cô ấy nói về cuộc đời của cô, về sự hăng say nghề nghiệp của cô (bạn biết đấy, Gabriel là một người thích sưu tầm những thiên hướng). Cô kể cho tôi nghe về chiếc máy đầu tiên của cô, một máy treo tường, có tay quay màu đen ở ngôi nhà của bố mẹ cô (Buxton, Derbyshire), có khi cô đang thỏ thẻ với tôi: “tôi không biết là có cần phải kể với ông điều ấy không” thì ông Pereira đã từ sông Amazona quay về, ông thở hổn hển:

- Tôi đã nối cho ông số 8 ở Orbidos.

Tôi nghe tiếng tắt máy.

Cô Fitzpatrick là nữ điện thoại viên duy nhất trên thế giới này không hề nghe lỏm. Tôi ngủ rất ít, cô nói, vì đã phải nghe quá nhiều. Tôi tưởng tượng ra phòng ở nhỏ bé của cô ở Paddington, với vô số những vật mỏng manh đặt trên những chiếc thảm nhỏ… các đồ vật cũng giống như những giọng nói, nhưng được thuần hóa cũng giống như chó mèo… cô ấy không bao giờ muốn tin những chuyện cao su của tôi.

- Ông là người rất ngây thơ, ông Orsenna ạ…

Cô Fitzpatrick là người lãng mạn. Cô ấy tin rằng tôi đang tìm người vợ chưa cưới đang chạy trốn và tôi đã đi từ đảo này sang đảo khác, từ rừng này sang rừng khác. Sau cùng, cô khuyên tôi nên gọi điện cho Carthagène hay Curacao, vì cô bạn của ông có thể đã tới chỗ đó. Tôi biết rằng những nơi này không hề có cao su, nhưng tôi cũng làm theo lời gợi ý ấy vì tôi không muốn làm phật lòng một tâm hồn đẹp đẽ. Do đó, tôi đã gọi tất cả các số từ Bắc chí Nam, từ Đông sang Tây, từ Miami đến Sao Luis Maranho, từ Carthagène đến Bâton-Rouge.

- Ông sẽ tìm thấy cô ấy đấy, ông Orsenna ạ. Một tình yêu mãnh liệt như ông, cuối cùng sẽ thắng.

Ngày đổ bộ, tôi đề nghị với cô đi với chúng tôi, tôi mang theo hai chai leoville. Cô đã không đến, chúng tôi đã tính đến việc chờ cô ở lối ra nhà bưu điện trung ương nhưng làm sao mà nhận ra cô được? Các nữ điện thoại viên đi ra hàng chục cô một lúc. Khi đó, đang là mốt tóc màu nâu đỏ. Trong các phố Londres cứ hai phụ nữ thì một người có màu tóc không hung, không nâu và cũng không đỏ.

cắt cổ bà, chia nhau thịt. Đây là suất để phần anh.” Tôi đã sưu tầm lại được câu chuyện đó. Nó nằm trong cuốn Ngữ pháp tiếng Tamachek, do Louis - Joseph Hanoteau biên soạn, ông là một vị tướng và người uyên bác, sinh và mất ở Decize (1814-1
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Erik Orsenna

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.