Tôi lượn lờ trong ánh sáng nhập nhòe, băng qua bãi cỏ yên ắng phủ đầy sương, ô cửa sổ mờ đục của nhà kính. Âm thanh duy nhất vang lên là tiếng bước chân lạo xạo của tôi trên lối đi lát sỏi. Người ta đang giao bánh mì và nông sản buổi sớm ở Đại Điện, và tôi theo chân đoàn xe chở hàng ra khỏi cổng và hướng thẳng đến những con đường sỏi đá trong Thượng Trấn. Vẫn còn vài người đang chè chén với nhau và tận hưởng bình minh. Tôi nhìn thấy hai người mặc trang phục dạ hội đang ngáy khò trên ghế ở công viên. Một nhóm con gái cười đùa và nghịch nước ở vòi phun, váy xắn lên tận đầu gối. Một người đàn ông đội vòng hoa anh túc ngồi bệt trên vệ đường và vùi đầu vào tay, trong khi một cô gái đội vương miện bằng giấy vỗ vai ông ta. Tôi đi ngang qua họ lặng lẽ và tầm thường, một con nhỏ vô hình trong áo choàng nâu xám.
Tôi biết mình đang hành xử một cách ngu ngốc. Gián điệp của lão Tư Tế có thể đang theo dõi tôi, hay người của Hắc Y chẳng hạn. Tôi có thể bị tóm cổ lôi đi bất cứ lúc nào. Tôi không chắc tất cả những chuyện đó giờ có quan trọng không nữa. Tôi cần phải đi tiếp, cần lấp đầy lá phổi bằng không khí trong lành, cần giũ bỏ cảm giác về bàn tay của Hắc Y còn đọng lại trên da.
Tôi chạm vào vết sẹo trên vai. Dù đã qua một lớp vải, tôi vẫn có thể cảm được phần thịt non nhô lên. Trên tàu đánh cá voi, tôi đã hỏi Hắc Y tại sao anh ta lại để những con quái vật ấy cắn tôi. Tôi cứ nghĩ đấy là vì trả thù, để tôi luôn mang theo dấu ấn của anh ta. Có lẽ chuyện còn phức tạp hơn thế.
Ảo ảnh có thật không? Anh ta đã ở đó, hay anh ta chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng? Căn bệnh quái ác nào bên trong đã khiến tôi nằm mơ như thế?
Nhưng tôi không muốn nghĩ. Tôi chỉ muốn đi tiếp.
Tôi băng qua kênh, những chiếc thuyền nhỏ nhấp nhô trên mặt nước. Đâu đó bên dưới cầu, tôi nghe tiếng đàn accordion kêu vi vu.
Tôi băng ngang cổng thành đến những con đường chật hẹp và huyên náo của phố buôn bán. Dường như chúng còn đông đúc hơn trước. Người ta đứng kín mái hiên và ồ ạt đổ ra đường từ nhiều cánh cổng. Vài người chơi bài trên những chiếc bàn được dựng tạm từ hộp giấy.
Vài người khác tựa lên nhau mà ngủ. Một cặp đôi chậm rãi lắc lư theo điệu nhạc chỉ mình họ nghe được ở trước cửa quán rượu nọ.
Khi tôi đến được tường thành, tôi bảo bản thân phải dừng chân, phải quay lưng lại và về nhà. Tôi suýt bật cười. Tiểu Điện thật sự không phải nhà.
Những người như cô và ta không thể có cuộc sống bình thường.
Cuộc sống của tôi sẽ có lòng trung thành thay vì tình yêu, lời thề nguyện thay vì tình bạn. Tôi phải cân nhắc từng lựa chọn, suy nghĩ từng hành động, không tin tưởng vào ai. Một cuộc sống được điều khiển từ xa.
Tôi biết mình nên quay lại, nhưng tôi đi tiếp, và giây lát sau, tôi đã ở phía bên kia bức tường. Chỉ như vậy, tôi rời Os Alta.
Thành phố dựng bằng lều đã lớn hơn. Có hàng trăm người cắm trại bên ngoài thành, có khi đến hàng ngàn. Không khó để tìm ra những người hành hương - tôi ngạc nhiên khi thấy dân số của họ tăng lên thế nào. Họ tập trung quanh một căn lều lớn màu trắng, tất cả đều quay mặt về hướng đông, ngóng chờ mặt trời mọc buổi sáng.
Âm thanh ấy khởi sự như một tiếng rì rầm lao xao đảo lượn giữa không trung như tiếng chim vỗ cánh, rồi hạ thấp thành một giọng ậm ừ trầm ổn trong lúc vầng thái dương ló dạng khỏi chân trời và thắp sáng khoảng không màu xanh nhạt. Chỉ lúc đó tôi mới nghe rõ từng từ.
Sankta. Sankta Alina. Sankta. Sankta Alina.
Đoàn người hành hương dõi theo rạng đông dần hé mở, và tôi dõi theo họ, vô phương rời khỏi hy vọng và chờ mong của họ. Khuôn mặt họ hân hoan, và khi những tia nắng đầu tiên chiếu rọi trên họ, một vài người bắt đầu nức nở.
Tiếng ca tụng dâng cao và tăng lên nhiều hơn, cứ lên rồi xuống, tạo thành tràng rền rĩ khiến tôi nổi da gà: Giống như một con sông vỡ òa, hay đàn ong vỡ tổ.
Sankta. Sankta Alina. Con gái của Ravka.
Tôi nhắm mắt lại trong lúc mặt trời tỏa rạng trên da, mong sao bản thân sẽ cảm thấy gì đó, bất kì điều gì.
Sankta Alina. Con gái của Keramzin.
Họ nâng tay lên trời, giọng nói trở nên mê loạn, giờ họ đang gào thét, khóc than. Những khuôn mặt già cỗi, những người trẻ tuổi, bệnh tật và ốm yếu, khỏe khoắn và mạnh mẽ. Tất cả đều là người lạ.
Tôi nhìn xung quanh. Đây không phải hy vọng, tôi nghĩ. Đây là sự điên rồ. Là đói khát, cưỡng cầu, tuyệt vọng. Tôi tưởng như mình đang đi trong cơn mê. Tại sao tôi lại đến đây? Ở giữa những người này tôi còn cô độc hơn lúc còn ở giữa bốn bức tường cung điện. Họ không có gì để cho tôi, và tôi không có gì để trao tặng họ.
Chân tôi nhức nhối, và tôi nhận ra mình kiệt sức chừng nào. Tôi quay lại và bắt đầu len lỏi qua đám đông, hướng về phía cổng thành, trong lúc tràng tụng kinh đã thành tiếng hét vang chói tai.
Sankta, họ gào to. Sol Koroleva. Rebe Dva Stolba.
Con gái Cối Xay Gió. Tôi đã nghe qua tên gọi đó, trên đường về Os Alta, một thung lũng được đặt tên theo kiến trúc suy tàn thuở xưa, tổ ấm cho một nhóm người định cư ít ỏi, vô danh trên biên giới phía nam. Mal đã được sinh ra gần đó, nhưng chúng tôi chưa bao giờ có dịp về thăm. Mà về để làm gì? Chút tàn dư về gia đình mà chúng tôi có đã bị chôn vùi và thiêu rụi từ lâu.
Sankta Alina.
Tôi lại nghĩ đến những kỷ niệm hiếm hoi trước khi ở Keramzin, món củ cải đường xắt mỏng, ngón tay tôi nhuộm đỏ vì nước củ cải. Tôi nhớ con đường bụi bặm, nhìn từ bờ vai rộng của ai đó, những chiếc đuôi bò phe phẩy, bóng của chúng tôi in trên đất. Bàn tay hướng về cối xay gió đổ nát, hai guồng quay nhỏ hẹp như hai ngón tay, giờ chỉ còn khuôn trục tàn tạ theo mưa gió và thời gian. Đấy là tất cả những gì còn lại trong ký ức. Phần còn lại là Keramzin. Phần còn lại là Mal.
Sankta Alina.
Tôi chen lấn qua dòng người đông đúc, thít chặt khăn choàng quanh tai hơn để ngăn tiếng ồn. Một bà lão hành hương đến trước mặt tôi, và tôi suýt xô ngã bà. Tôi đưa tay giữ bà lại, và bà bám lấy tôi, lảo đảo giữ thăng bằng.
“Thứ lỗi cho cháu, babya,” tôi nói một cách trịnh trọng. Đừng bao giờ bảo rằng Ana Kuya không dạy chúng tôi lễ phép. Tôi nhẹ nhàng đỡ bà đứng vững. “Bà có sao không?”
Nhưng bà ấy không nhìn mặt tôi - bà ấy đang nhìn chằm chằm vào cổ tôi. Tôi đưa tay lên cổ. Đã quá trễ. Khăn choàng đã tuột xuống.
“Sankta,” bà lão rên rỉ. “Sankta!” Bà ấy quỳ xuống và xiết tay tôi, áp nó lên gò má nhăn nheo của mình. “Sankta Alina!”
Đột nhiên những bàn tay từ đâu quấn lấy tôi, họ túm lấy tay và mép áo choàng của tôi.
“Làm ơn,” tôi nói, cố thoát khỏi họ.
Sankta Alina Lẩm bẩm, thì thầm, gào khóc, kêu la. Tên tôi nghe thật lạ lẫm, như lời nguyện cầu, như câu thần chú để đẩy lùi bóng đêm.
Họ xúm lại xung quanh tôi, gần hơn, gần hơn nữa, họ xô đẩy nhau để tiếp cận tôi, vươn tay sờ tóc tôi, da tôi. Tôi nghe tiếng xé vải và nhận ra đấy là áo choàng của mình.
Sankta. Sankta Alina.
Những thân người áp lại gần hơn, lôi kéo và chen lấn, họ quát tháo nhau, người nào cũng muốn lại gần hơn. Chân tôi bị nhấc khỏi mặt đất. Tôi thét lên khi một nhúm tóc bị giật khỏi da đầu. Họ sẽ xé xác tôi.
Cứ để họ làm thế tôi đột nhiên vỡ lẽ. Mọi thứ sẽ chấm dứt dễ dàng như vậy. Không còn sợ hãi, không còn trách nhiệm, không còn ác mộng về con tàu vỡ nát hay trẻ con bị nuốt chửng bởi Vực Tối, không còn ảo ảnh. Tôi có thể được giải phóng khỏi chiếc vòng cổ, khỏi xiềng xích trên tay, khỏi gánh nặng nhọc nhằn bởi hy vọng của họ. Cứ để họ làm thế.
Tôi nhắm mắt lại. Đây sẽ là kết thúc của tôi. Họ có thể cho tôi một trang trong cuốn Istorii Sanktya và vẽ vòng hào quang trên đầu tôi. Alina Tâm Bệnh, Alina Nhỏ Mọn, Alina Điên Khùng, Con gái của Dva Stolba, buổi sáng nọ bị xé xác trong bóng tối tường thành. Họ có thể rao bán xương cốt tôi bên lề đường.
Người nào đó ré lên. Tôi nghe tiếng hét giận dữ. Hai bàn tay to lớn tóm lấy tôi, và tôi được nhấc bổng lên.
Tôi mở mắt và nhìn thấy khuôn mặt nghiêm khắc của Tolya. Anh ta đang ôm tôi.
Tamar ở bên cạnh, lòng bàn tay ngửa lên, đánh thành hình vòng cung chậm rãi.
“Lùi lại,” cô ấy cảnh cáo đám đông. Tôi thấy vài người hành hương gà gật chớp mắt, một số họ chỉ đơn giản ngồi xuống. Cô ấy đang làm chậm nhịp tim của họ, cố làm họ bình tĩnh, nhưng có quá nhiều người. Một gã đàn ông nhào tới phía trước. Nhanh như chớp, Tamar đã rút đôi rìu của mình ra. Gã đàn ông rống lên trong lúc dòng máu đỏ tươi chảy tràn trên cánh tay.
“Đến gần hơn nữa là ngươi mất tay đấy,” cô ấy quát.
Biểu cảm của gã dại đi.
“Để tôi giúp,” tôi chống đối.
Tolya tảng lờ tôi, chen qua đám đông, Tamar đi vòng quanh anh ta, vung dao trước mặt để mở đường. Những người hành hương rên rỉ và khóc lóc, họ vươn tay ra, với đến chỗ tôi.
“Bây giờ,” Tolya nói. Rồi gào to hơn “Đi!”
Anh ta lao vụt đi. Đầu tôi ép vào ngực anh ta trong lúc cả đám chạy về nơi chốn an toàn sau tường thành. Tamar theo sát bên. Cận vệ đã nhìn thấy sự náo động đang diễn ra và bắt đầu đóng cổng.
Tolya tăng tốc độ, xô người khác tránh đường, len vào khoảng cách nhỏ hẹp giữa hai cánh cửa sắt. Tamar trượt vào ngay sau đó, chỉ vài giây trước khi cánh cổng đóng lại. Ở phía bên kia, tôi nghe thân người dộng lên cửa, những bàn tay đang cào cấu và những giọng người the thé thèm khát. Tôi vẫn nghe tên mình.
Sankta Alina.
“Cô nghĩ cái quái gì vậy?” Tolya quát to trong lúc đặt tôi xuống.
“Để sau đi,” Tamar cắt ngang.
Cận vệ thị trấn đang liếc nhìn tôi. “Đem cô ta ra khỏi đây,” một trong số họ giận dữ hét. “Thể nào chúng tôi cũng phải xử lý một cuộc bạo động nghiêm trọng đây.”
Ngựa của cặp sinh đôi đang chờ sẵn. Tamar giật lấy một tấm chăn từ gánh hàng ngoài chợ và phủ nó lên vai tôi. Tôi siết chặt nó trên cổ, giấu chiếc vòng đi. Cô ấy nhảy lên yên, và Tolya ném tôi lên phía sau không chút khách khí.
Chúng tôi im lặng cưỡi ngựa trong bầu không khí ngột ngạt trên đường về đến cổng cung điện. Tình trạng hỗn loạn ngoài thành vẫn chưa lan đến đây, nên những gì chúng tôi nhận được chỉ là vài ánh nhìn thắc mắc.
Cặp sinh đôi không nói gì, nhưng tôi biết họ đang tức điên lên. Họ có quyền làm thế. Tôi đã hành xử như một con ngốc, và giờ tôi chỉ có thể mong những cận vệ bên dưới có thể áp đảo dân chúng mà không cần dùng đến vũ lực.
Nhưng ẩn dưới hoang mang và ân hận là một ý nghĩ vừa xuất hiện trong đầu. Tôi tự nhủ đấy chỉ là chuyện vô lý, là mơ tưởng hão huyền, nhưng tôi không thể giũ bỏ nó.
Khi về tới Tiểu Điện, cặp sinh đôi muốn hộ tống tôi đến thẳng phòng của Hắc Y, nhưng tôi từ chối.
“Giờ tôi an toàn rồi,” tôi nói. “Tôi cần làm chuyện này.”
Họ khăng khăng theo sau tôi đến thư viện.
Tôi không tốn thời gian tìm ra thứ mình muốn. Nói gì đi nữa tôi vẫn là một người vẽ bản đồ. Tôi kẹp cuốn sách dưới tay và trở về phòng với hai cận vệ cau có.
Ngạc nhiên thay, Mal đang chờ ở phòng sinh hoạt chung. Cậu ấy ngồi cạnh bàn, nhấm nháp một ly trà.
“Bồ ở đâu...” Mal mở miệng, nhưng Tolya đã lôi cậu ấy khỏi ghế và xô cậu ấy vào tường trước khi tôi kịp chớp mắt.
“Cậu đã ở đâu?” Anh ta gầm gừ.
“Tolya!” Tôi hốt hoảng hét lên. Tôi cố kéo tay anh ta khỏi cổ Mal, nhưng việc đó giống như bẻ cong một thanh sắt vậy. Tôi quay sang Tamar cầu cứu, nhưng cô ấy chỉ đứng yên, khoanh tay lại, trông giận dữ y hệt anh của mình.
Mal ho nấc lên. Cậu ấy vẫn chưa thay đồ từ tối qua. Râu mọc lởm chởm trên cằm, và mùi máu lẫn kvas ám trên người cậu như lớp áo dơ bẩn.
“Chúa ơi, Tolya! Anh làm ơn bỏ cậu xuống được không?”
Trong phút chốc, Tolya nhìn quả quyết như thể muốn bóp chết Mal, nhưng rồi anh ta thả lỏng tay và Mal trượt xuống tường, ho khù khụ hớp khí.
“Đấy là phiên trực của cậu,” Tolya làu bàu, thọc mạnh ngón tay lên ngực Mal. “Đáng ra cậu phải ở cạnh cô ấy.”
“Tôi xin lỗi,” Mal thều thào, xoa xoa cổ họng. “Tôi ngủ quên mất. Tôi đã...”
“Cậu đã uống say mèm,” Tolya điên tiết. “Tôi có thể ngửi thấy mùi rượu trên người cậu.”
“Tôi xin lỗi,” Mal lặp lại lần nữa, trông khốn khổ vô cùng.
“Xin lỗi?” Nắm đấm của Tolya cong lại. “Tôi nên xé xác cậu.”
“Anh có thể đuổi việc cậu ấy sau,” tôi nói. “Bây giờ tôi cần anh tìm Nikolai và nói anh ta đến gặp tôi ở phòng quân sự. Tôi đi thay đồ đây.”
Tôi về phòng và đóng cửa lại sau lưng, cố định thần lại. Hôm nay chưa gì mà tôi đã suýt chết và kích động bạo loạn rồi. Có lẽ tôi nên đốt cháy cái gì đó trước bữa sáng.
Tôi rửa mặt và thay bộ kefta của mình, rồi nhanh chân đến phòng quân sự. Mal đang chờ ở đó, cậu ngồi sụp xuống ghế, dù tôi không mời. Cậu ấy đã thay trang phục, nhưng thân thể vẫn kiệt quệ cùng đôi mắt đỏ ngầu. Trên mặt là mấy vết bầm tím mới từ tối qua. Cậu ấy ngẩng lên nhìn lúc tôi bước vào, không nói gì cả. Liệu có khi nào tôi sẽ thôi đau đớn khi nhìn cậu ấy nữa không?
Tôi đặt bản đồ trên bàn dài và đến đứng trước tấm bản đồ cổ xưa treo dọc bức tường. Trong tất cả bản đồ ở phòng quân sự, nó là tấm cổ xưa và tuyệt mỹ nhất. Tôi lướt tay trên đường nét nhấp nhô của dãy Sikurzoi, dãy núi đánh dấu biên giới cực nam của Ravka với nước Shu, rồi theo dấu chúng xuống chân núi phía tâyThung lũng Dva Stolba quá nhỏ nên không được vẽ trên này.
“Bồ có nhớ gì không?” Tôi hỏi Mal mà không nhìn về phía cậu. “Từ trước khi đến Keramzin?”
Mal không lớn hơn tôi là bao lúc vừa đến cô nhi viện. Tôi vẫn nhớ ngày hôm ấy. Tôi nghe nói một đứa bé tị nạn khác sẽ đến, và tôi mong người đó là con gái để có người chơi cùng. Thay vào đó tôi lại gặp một cậu nhóc mập lùn với đôi mắt xanh, người dám thực hiện bất kì thách thức nào.
“Không.” Giọng cậu vẫn khàn đặc do cái siết cổ của Tolya.
“Không gì hết?”
“Mình từng mơ về một người phụ nữ với mái tóc dài được tết bím. Bà ấy sẽ đung đưa nó trước mình như món đồ chơi.”
“Mẹ của bồ?”
“Mẹ, cô, hàng xóm. Sao mình biết được? Alina, về chuyện đã xảy ra...”
“Còn gì nữa không?”
Cậu ấy trầm ngâm nhìn tôi một lúc lâu, rồi thở dài và tiếp tục, “Mỗi lần ngửi mùi cam thảo, mình sẽ nhớ đã từng ngồi ở cổng với một chiếc ghế màu đỏ ở trước mặt. Vậy thôi. Những việc khác.” Cậu ấy nhún vai bỏ dở câu nói.
Cậu ấy không cần giải thích. Kỷ niệm là một thứ xa xỉ dành riêng cho những đứa trẻ khác, không phải những cô nhi ở Keramzin. Phải biết ơn. Phải biết ơn.
“Alina,” Mal thử lần nữa, “những gì bồ nói về Hắc Y.”
Nhưng ngay lúc đó, Nikolai bước vào. Dù còn rất sớm, nhưng gã trông rất hoàn hảo xứng với ngôi vị hoàng tử của mình, mái tóc vàng óng ả, đôi bốt được đánh bóng loáng. Gã nhác thấy những vết bầm tím và bộ ria của Mal, rồi nhướng mày và nói, “Ta đoán chắc chưa ai gọi trà đâu nhỉ?”
Gã ngồi xuống và duỗi đôi chân dài trước mặt. Tolya và Tamar đã ra canh gác, nhưng tôi yêu cầu họ đóng cửa và tham gia buổi họp.
Khi tất cả cùng ngồi vào bàn, tôi nói, “Tôi đã đến chỗ đoàn hành hương sáng nay.”
Nikolai ngẩng đầu lên. Trong chớp mắt, gã hoàng tử dễ tính đã biến mất. “Ta nghĩ là mình vừa nghe lầm.”
Tôi vẫn ổn.
“Suýt nữa cô ấy đã bị giết,” Tamar chen vào.
“Nhưng tôi không chết,” tôi bổ sung.
“Cô mất trí rồi à?” Nikolai hỏi. “Đám người đó là lũ điên.” Gã quay sang Tamar. “Sao cô lại để cô ấy làm thế?”
“Tôi không có,” Tamar cãi.
“Làm ơn nói với ta là cô không đi một mình.” Gã bảo tôi.
“Tôi không đi một mình.”
“Có đấy.”
“Tamar, im đi. Nikolai, tôi nói rồi, tôi vẫn ổn.”
“Bởi vì chúng tôi đến kịp lúc,” Tamar nói.
“Sao bồ tới đó được?” Mal khẽ hỏi. “Sao hai người tìm ra cậu ấy?”
Mặt Tolya xám xịt, rồi anh ta dộng nắm đấm to bè xuống bàn. “Đáng ra chúng tôi không cần tìm cô ấy,” anh ta nói. “Cậu là người canh gác mà.”
“Bỏ đi, Tolya,” tôi cáu lên. “Mal đã không có mặt ở vị trí được giao, và mình tôi ngu ngốc được rồi.”
Tôi hít một hơi. Mal trông phiền muộn thấy rõ. Tolya ngó như thể sắp đập tan mấy thứ đồ nội thất. Mặt Tamar vẫn vô cảm, và tôi chưa bao giờ thấy Nikolai tức giận như vậy. Nhưng ít nhất họ đã nghe tôi nói.
Tôi đẩy tập bản đồ ra chính giữa bàn. “Đoàn hành hương thi thoảng hay gọi tôi bằng cái tên này,” tôi nói. “Con gái Dva Stolba.”
“Hai Cối Xay Gió?” Nikolai nói.
“Một thung lũng, được đặt theo tên di tích ở đó.”
Tôi lật đến trang sách đã đánh dấu. Có một tấm bản đồ chi tiết về biên giới phía nam. “Mal và tôi ở đâu đó gần đây,” tôi nói, chỉ tay dọc theo mép giấy. “Những người di cư rải rác quanh khu vực này.”
Tôi lật sang hình vẽ con đường dẫn đến một thung lũng bao quanh nhiều thị trấn. Hai bên đường là hai cối xay gió khẳng khiu.
“Nhìn chả giống mấy,” Tolya làu bàu.
“Chính xác,” tôi nói. “Chúng có từ lâu lắm rồi. Ai biết chúng đã ở đó bao lâu hoặc nguyên là cái gì? Thung lũng tên là Hai Cối Xay Gió, nhưng có khi chúng là một phần của hệ thống nước thì sao.” Tôi vẽ một đường cong nối ngang hai trục quay. “Hoặc một kiến trúc vòng cung.”
Một sự im lặng đột ngột bao trùm khắp căn phòng. Với hình vòng cung đằng trước và những dãy núi thấp thoáng phía sau, di tích suy tàn ấy nhìn y hệt khung cảnh sau lưng thánh Ilya trong cuốn Istorii Sanktya. Thứ duy nhất còn thiếu là Hỏa Điểu.
Nikolai kéo tập bản đồ về phía mình. “Có phải chúng ta chỉ đang thấy những gì mình muốn không?”
“Có thể,” tôi thú thật. “Nhưng khó mà tin rằng đây là tình cờ”
“Ta sẽ phái quân trinh sát.” gã đề nghị.
Không, tôi nói. Tôi muốn đi.”
“Nếu bây giờ rời đi, tất cả thành quả cô đạt được với Hạ Quân sẽ tiêu tan. Ta sẽ đi. Nếu Vasily có thể đến Caryeva mua ngựa lùn thì sẽ không ai thấy phiền khi ta tổ chức một chuyến săn nho nhỏ đâu.”
Tôi lắc đầu. “Tôi phải là người giết Hỏa Điểu.”
“Chúng ta thậm chí còn không biết nó có ở đó không.”
“Sao chúng ta phải tốn thời gian bàn cãi vậy?” Mal hỏi. “Ai cũng biết người đó sẽ là tôi mà”
Tamar và Tolya trao nhau ánh nhìn lo lắng.
Nikolai hắng giọng. “Tế nhị mà nói thì, Oretsev, cậu có vẻ không ổn cho lắm.”
“Tôi không sao.”
“Dạo này cậu có soi gương không?”
“Tôi nghĩ anh đã soi đủ phần cho chúng ta rồi,” Mal độp lại. Rồi cậu ấy đưa tay xoa mặt, trông rã rời hơn bao giờ.
“Tôi quá mệt mỏi và đau đầu để tranh cãi chuyện này. Tôi là người duy nhất có thể tìm ra Hỏa Điểu. Người đó phải là tôi.”
“Mình đi với bồ,” tôi nói.
“Không,” cậu ấy gằn giọng từ chối. “Mình sẽ săn nó. Mình sẽ bắt nó. Mình sẽ đem nó về cho bồ. Nhưng bồ sẽ không đi với mình.”
“Nguy hiểm lắm,” tôi phản đối. “Dù bồ bắt được nó thì làm sao về đưa nó về đây được?”
“Bảo mấy Sáng Chế Gia của bồ trang bị thứ gì đó cho mình đi,” cậu ấy nói. “Đây là phương án tốt nhất cho đôi bên. Bồ có Hỏa Điểu, và mình được thoát khỏi cái nơi quỷ quái này.”
“Bồ không thể đi một mình. Bồ...”
“Vậy cho Tolya hay Tamar đi với mình. Bọn mình sẽ đi nhanh hơn và ít gây sự chú ý hơn.” Mal đẩy ghế ra và đứng dậy. “Bồ sẽ tìm ra cách thôi. Cứ dàn xếp tùy thích.” Cậu ấy nói tiếp mà không nhìn đến tôi, “Chỉ cần nói với mình lúc nào thì đi được thôi.”
Trước khi tôi kịp đưa ra phản bác nào khác, cậu ấy đã biến mất.
Tôi quay đi, cố kiềm nén những giọt nước mắt đang chực chảy ra. Ở phía sau, tôi nghe Nikolai lẩm bẩm ra lệnh cho cặp sinh đôi trong lúc họ cáo lui.
Tôi quan sát bản đồ. Poliznaya, nơi chúng tôi nhập ngũ. Ryevost, nơi chúng tôi bắt đầu hành trình đến Petrazoi. Tsibeya, nơi cậu ấy hôn tôi lần đầu tiên.
Nikolai đặt tay lên vai tôi. Tôi không biết mình nên hất nó đi hay quay lại và ôm chầm lấy gã nữa. Gã sẽ phản ứng thế nào nếu tôi làm thế? Vỗ lưng tôi? Hôn tôi? Ngỏ lời cầu hôn?
“Như vậy là tốt nhất, Alina.”
Tôi cay đắng bật cười. “Anh không để ý là người ta chỉ nói thế khi nó không phải sự thật à?”
Gã bỏ tay xuống. “Cậu ta không thuộc về nơi đây.”
Cậu ấy thuộc về nơi nào có tôi , tôi muốn hét lên. Nhưng tôi biết điều đó hoàn toàn sai lầm. Tôi nghĩ về khuôn mặt bầm tím của Mal, về dáng đi lại bồn chồn như con thú bị giam cầm của cậu ấy, về cảnh cậu ấy nhổ toẹt máu và ngoắc tay bảo Eskil đánh tiếp. Tới đi. Tôi nghĩ về lúc cậu ấy ôm tôi trong vòng tay lúc hai đứa vượt qua Chân Hải. Tấm bản đồ nhòe đi bởi đôi mắt ngập nước của tôi.
“Để cậu ta đi đi,” Nikolai nói.
“Đi đâu? Đuổi theo một sinh vật thần thoại có thể chẳng tồn tại? Hay một nhiệm vụ bất khả thi trong núi với người Shu?”
“Alina,” Nikolai khẽ nói, “Đấy là điều những đấng anh hùng vẫn làm.”
“Tôi không muốn cậu ấy làm anh hùng!”
“Cậu ta không thể thay đổi thân phận của mình cũng như cô không thể dừng việc làm Grisha.”
Những lời ấy lặp lại những gì tôi vừa nói vài giờ trước, nhưng tôi không muốn nghe.
“Anh không quan tâm đến an nguy của Mal,” tôi tức tối kết tội. “Anh chỉ muốn cậu ấy biến mất.”
“Nếu ta muốn cô ngừng yêu cậu ta thì ta sẽ để cậu ta ở lại. Ta sẽ để cậu ta tiếp tục giải quyết rắc rối với mấy chai kvas và cư xử như một thằng ăn mày lòng thương hại. Nhưng đấy có thật sự là cách sống mà cô muốn thấy ở cậu ta không?”
Tôi run rẩy hít một hơi. Không hề. Tôi biết điều đó. Mal ở đây rất khổ sở. Cậu ấy đã phải chịu đựng từ lúc trở về, nhưng tôi đã từ chối nhìn nhận nó. Tôi đã chỉ trích cậu ấy vì muốn tôi trở thành một người không phải mình, và cùng lúc đó tôi đã phạm sai lầm y hệt với cậu. Tôi quẹt nước mắt. Tôi không thể cãi lại Nikolai. Mal là một quân nhân. Cậu ấy cần mục đích. Và nó đã xuất hiện, nếu tôi giao nó cho cậu ấy.
Và sao tôi không thú thật đi? Dù có chối bỏ thì vẫn còn một giọng nói khác trong tôi, một ham muốn tham lam, đáng hổ thẹn đòi hỏi được hoàn thiện, nó gào thét bảo Mal rời đi và tìm ra Hỏa Điểu, khăng khăng muốn cậu đem về cho tôi không cần biết cái giá phải trả là gì. Tôi đã nói với Mal cô gái cậu ấy biết đã không còn nữa. Tốt hơn hết là để cậu rời đi trước khi phát giác điều đó là sự thật.
Tôi lướt tay qua hình vẽ Dva Stolba. Hai cối xay gió, hay còn gì nữa? Làm sao chúng ta biết nếu ở đấy không còn gì khác ngoài tàn tro?
“Anh biết rắc rối của anh hùng và thánh thần là gì không, Nikolai?”
Tôi nói trong lúc đóng sách lại và tiến về phía cửa.
“Cuối cùng họ đều phải chết.”