Đám đậu tía quấn trên chiếc cổng gỗ. Mảnh vườn nhỏ nhưng tinh tươm được xén tỉa theo kiểu lãng mạn, với một bụi hồng và một ao hoa loa kèn được trang trí bằng những con ếch giả. Bản thân ngôi nhà thì nhỏ nhưng rất đẹp, một ngôi nhà của nàng Bạch Tuyết với mái ngói đỏ thôn dã và những ống khói kỳ quái, đứng bên một trong những dòng kênh đáng ao ước nhất Hamburg. Đúng bảy giờ tối. Bachmann hiểu tầm quan trọng của việc giữ đúng giờ. Anh mặc bộ com lê văn phòng đẹp nhất và mang một chiếc cặp oai vệ. Anh đã đánh xi lại đôi giày đen, và với sự giúp sức của thuốc xịt tóc của Etna Frey, đã buộc được mớ tóc nổi loạn của anh tạm thời tuân phục.
“Schneider,” anh nói nhỏ vào chiếc máy gọi cửa, và cánh cửa trước mở ra ngay rồi đóng lại ngay sau lưng anh nhờ Frau Ellenberger.
• • •
Trong vòng khoảng mười tám giờ sau khi Erna Frey đưa Annabel đi ngủ, Bachmann với sự giúp đỡ của Maximilian đã bao vây máy tính trung tâm của Cục để tìm kiếm mọi Karpov, đã gọi cho một đầu mối liên lạc ở Cục An ninh Áo và ép ông ta tiết lộ lịch sử bất hạnh của Brue Freres ở Vienna trong những năm xuống dốc, níu áo Arni Mohr vị thủ trưởng dễ cáu của các thám tử đường phố về lối sống tìm hiểu được của ông chủ còn sót lại của nhà băng này, phái một tay nghiên cứu xông vào các hồ sơ của Sở Tài chính Hamburg, và - vào giữa buổi chiều - lao vào Michael Axelrod thuộc Ban Chỉ huy Kết hợp để có suốt một giờ trên đường dây mã hóa gọi đến Berlin trước khi tập trung tất cả các hồ sơ về một nhà học giả Hồi giáo đáng kính sống ở Bắc Đức được biết đến bởi các quan điểm ôn hòa và phong cách phát biểu thú vị của ông trên ti vi.
Đối với một số hồ sơ, Bachmann buộc phải xin phép sử dụng thông tin mật đặc biệt từ bộ phận theo dõi các vụ rửa tiền của Ban Chỉ huy Kết hợp. Erna Frey cảm thấy có cái gì đó gần như điên cuồng ở anh khi anh tất tưởi chạy qua chạy lại giữa nơi ở của tốp nghiên cứu và chỗ ở của anh, liên hồi bập thuốc lá, lao vào các tài liệu vung vãi khắp trên bàn làm việc, hoặc đòi xem những bản ghi nhớ mà anh đã gửi cho chị, đã bị quên lãng, và hiện nay đã nằm trong máy tính của chị.
“Tại sao không phải ai mà lại là bọn người Anh chết tiệt?” anh đòi biết. “Cái gì khiến một tên lưu manh Nga đến một nhà băng Anh tại một thành phố Áo? Thôi được, cứ cho là Karpov cha ngưỡng mộ đạo đức giả của họ. Hắn kính trọng những lời dối trá quý tộc của họ. Nhưng làm thế chó nào mà hắn tìm ra được họ chứ? Ai đã cử hắn đến đấy?”
Thế rồi đến ba giờ chiều hôm ấy: Eureka! Anh đã có nó trong tay, một tập hồ sơ mỏng bìa nâu moi ra từ hầm rượu một văn phòng ủy viên công tố. Nó đã được đánh dấu để hủy nhưng bằng một phép lạ đã thoát được ngọn lửa. Bachmann một lần nữa lại tạo ra thời tiết.
• • •
Họ ngồi trên những ghế bành bọc vải hoa đối diện nhau dưới cửa sổ lồi trong căn phòng khách sạch bong của bà, là một vật mẫu của nước Anh, uống trà Earl Grey trong thứ đồ sứ làm bằng đất sét trộn tro xương Minton tinh xảo nhất. Trên tường treo những bức tranh in London cổ và tranh phong cảnh của Constable. Trong một giá sách Sheraton, các sách của Jane Austen, Trollope, Hardy, Edward Lear và Lewis Carroll. Trên bậc cửa sổ, những nụ hoa xuân mịn màng hé nở trong những bình gốm men xanh trong.
Một lúc lâu không ai nói. Bachmann mỉm cười khả ái, hầu như tự cười với mình. Frau Ellenberger nhìn chăm chăm vào cửa sổ treo rèm đăng ten.
“Bà phản đối ghi âm à, Frau Ellenberger?” anh hỏi.
“Dứt khoát thế, Herr Schneider.”
“Vậy không ghi âm,” Bachmann tuyên bố một cách quả quyết, bỏ một dụng cụ vào lại trong cặp trong khi vẫn để những cái khác chạy.
“Nhưng tôi có thể phải ghi chép,” anh đề nghị, đặt cuốn sổ ghi chép lên đùi, và cầm sẵn cây bút máy.
“Tôi sẽ đòi hỏi một bản sao về tất cả những gì anh đề nghị đưa vào hồ sơ,” bà nói. “Nếu anh báo trước cho tôi sớm hơn, em trai tôi có thể có mặt ở đây để đại diện cho tôi. Không may là cậu ấy lại có việc bận tối nay.”
“Chúng tôi sẵn sàng để em trai bà kiểm tra hồ sơ của chúng tôi bất cứ lúc nào.”
“Hy vọng thế, Herr Schneider ạ,” Frau Ellenberger nói.
Khi bà mở cửa trước cho anh, bà đã đỏ mặt lên. Bây giờ mặt bà tái xám như bóng ma, và đẹp. Với đôi mắt to, dễ tổn thương, mớ tóc chải ngược, cái cổ cao và dáng trông nghiêng như một cô gái, đối với Bachmann bà là một trong những phụ nữ đẹp bước vào tuổi trung niên không được ai để ý đến, rồi mất hút.
“Tôi có thể bắt đầu chứ?” Bachmann hỏi.
“Xin mời.”
“Cách đây bảy năm bà đã có lời tuyên thệ tự nguyện với người tiền nhiệm và đồng nghiệp của tôi, Herr Brenner, liên quan đến một vài lo lắng nhất định của bà về những hoạt động của ông chủ của bà hồi đó.”
“Tôi vẫn chưa đổi chủ mà, Herr Schneider.”
“Một sự việc mà chúng tôi đã được biết, và sẽ tôn trọng,” Bachmann trả lời tôn kính và làm bộ tự ghi nhớ một cách phô trương trong lúc đảm bảo với bà.
“Hy vọng thế, Herr Schneider ạ,” Frau Ellenberger lại nói với tấm rèm đăng ten cửa sổ, trong khi nắm chặt tay ghế.
“Cho phép tôi tỏ lòng ngưỡng mộ sự can đảm của bà?”
Anh có thể, anh không thể, bà không tỏ vẻ gì là đã nghe thấy anh.
“Đáng tin cậy nữa, tất nhiên. Nhưng trước hết là can đảm. Cho phép tôi hỏi điều gì khiến bà có được lòng can đảm ấy?’
“Và tôi xin hỏi anh, anh đang làm gì ở đây?”
“Karpov,” Bachmann trả lời ngay. “Grigori Borisovich Karpov. Người khách hàng cũ có giá của ngân hàng Brue Freres, Vienna,, nay là Hamburg. Chủ một tài khoản Lipizzaner.”
Khi anh nói, đầu bà xoay lại phía anh, một phần -Bachmann thấy dường như thế - vì ghê tởm, nhưng một phần cũng vì niềm vui hăng say nếu không nói là tội lỗi.
“Xin đừng nói với tôi rằng ông ấy vẫn còn giở trò cũ,” bà kêu lên.
“Bản thân Karpov, tôi không lấy làm tiếc mà thông báo với bà, không còn nữa, Frau Ellenberger ạ. Nhưng công việc của ông ta còn sống sau ông ta. Và các đồng bọn tội phạm của ông ta cũng thế. Đó là lý do tôi có mặt ở đây hôm nay mà không vi phạm việc bảo mật chính thức. Lịch sử không dừng lại để thở, người ta nói thế. Chúng ta càng đào sâu bao nhiêu, chúng ta càng trở lại đúng lúc bấy nhiêu. Cho phép tôi hỏi bà: Anatoly có phải là một cái tên đối với bà không? Anatoly quân sư cho Karpov quá cố?”
“Một cái tên. Mơ hồ. Ông ta là một tay dàn xếp.”
“Nhưng bà chưa bao giờ gặp ông ta.”
“Không có trung gian.” Bà tự sửa lại. “Ngoài Anatoly, tất nhiên. Kẻ dàn xếp phi thường của Karpov, như ông Edward gọi ông ta. Nhưng Anatoly không phải chỉ là kẻ dàn xếp. Ông ta giống kẻ uốn nắn hơn. Luôn luôn nhặt những chiếc móc cong queo của Karpov lên và làm cho nó trông thẳng.”
Bachmann lưu lời bình luận tuyệt vời này nhưng không tiếp tục theo đuổi nó.
“Còn Ivan? Ivan Grigorevich?”
“Tôi không biết Ivan nào cả, Herr Schneider.”
“Đứa con ruột của Karpov? Sau đó tự xưng là Issa?”
“Tôi không biết con cái nào của đại tá Karpov cả, ruột hay không ruột, mặc dầu tôi không nghi ngờ là có nhiều. Hôm trước ông Brue con cũng mới hỏi tôi câu ấy.”
“Ông ấy đã hỏi à?”
“Vâng, ông ấy đã hỏi.”
Và một lần nữa Bachmann cho qua nhận xét này. Anh thường thích thuyết giáo rằng, một nhà điều tra nghiêm chỉnh nửa vời, trong những dịp hiếm hoi khi được thả lỏng khỏi những người mới vào Cục, thì không phá cửa trước. Cứ giật chuông cửa trước, rồi đi vào cửa sau. Nhưng đây không phải là lý do mà anh nán lại, như sau đó anh thú nhận với Etna Frey. Lý do ấy là anh đang nghe một thứ tiếng nói khác: là cái cảm giác rằng, trong khi bà đang kể cho anh một câu chuyện thì anh lại đang nghe một câu chuyện khác, và bà cũng thế.
“Vậy, tôi xin hỏi bà, Frau Ellenberger - quay trở lại thời gian trước, nếu có thể - cách đây bảy năm, từ đầu điều gì đã khích lệ bà có cái tuyên bố can đảm ấy?”
Bà mất một lúc mới nghe anh nói.
“Tôi là người Đức, anh không thấy à,” bà trả lời cáu kỉnh, đúng vào lúc anh định nhắc lại câu hỏi.
“Vâng, tất nhiên.”
“Lúc đó tôi đang trở lại Đức. Quê hương tôi.”
“Từ Vienna.”
“Freres lúc đó đang chuẩn bị mở một chi nhánh ở Đức. Nước Đức của tôi. Tôi muốn - vâng, à, tôi đã muốn,” bà nói một cách giận dữ và cau mày nhìn xuyên qua những tấm rèm suốt đến tận vườn, như thể lỗi lầm nằm ở đó.
“Có lẽ bà muốn vạch một đường? Một đường kẻ bên dưới quá khứ?” Bachmann gợi ý.
“Tôi muốn trở lại đất nước tôi với tình trạng trong sạch,” bà bẻ lại với vẻ hăng hái bất ngờ. “Chưa bị hoen ố. Anh không hiểu sao?”
“Chưa hiểu lắm, nhưng tôi đang dần hiểu được, tôi chắc vậy.”
“Tôi mong làm một khởi đầu sạch sẽ. Với ngân hàng này. Với đời tôi. Cái ấy không phải là bản chất con người hay sao? Mong có một khởi đầu mới. Có lẽ anh không nghĩ thế. Đàn ông thì khác.”
“Tôi nghĩ đây cũng là tình thế của ông chủ xuất sắc quá cố của bà trong nhiều năm, và Brue con” - dùng thuật ngữ của chính bà để nói về ông - “gần đây đã tiếp quản nhà băng,” Bachmann gợi, hạ giọng quy thuận giọng mô phạm của bà.
“Đúng thế đấy, Herr Schneider. Anh đã nghiên cứu trước, tôi lấy làm vui lòng mà nhận thấy. Bây giờ rất ít người nghiên cứu trước. Lúc ấy tôi còn trẻ lắm” bà nói, bằng giọng tự phán xét khắc nghiệt. “Trẻ hơn tuổi nhiều, tôi nhớ thế. Nếu tôi so sánh mình với bọn trẻ bây giờ thì lúc ấy tôi hoàn toàn chỉ là một đứa con nít. Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo và không có kinh nghiệm gì về thế giới rộng lớn bên ngoài hết.”
“Nhưng bà là người mới, hoàn toàn mới trong lĩnh vực này, cho phép tôi!” Bachmann phản đối, đáp lại sự phẫn nộ của bà. “Các lệnh từ trên đưa xuống, và bà tuân theo. Bà trẻ tuổi và ngây thơ, lại ở cái thế phải tin. Có phải bà đã hơi quá khắc nghiệt với bản thân không, Frau Ellenberger?”
Bà có nghe anh nói không? Và nếu bà đã nghe thì sao bà lại mỉm cười? Giọng bà thay đổi. Nó trở nên trẻ hơn. Khi bà lại nói tiếp, một giọng uyển chuyển, tươi mới du dương kiểu Vienna hơn, che đậy lãng quên cả những nhận xét khắc nghiệt nhất của bà. Và với giọng nói trẻ hơn, dáng người cũng trẻ hơn: vẫn nghiêm trang, vẫn thẳng một cách nghiêm cẩn, nhưng đã hoạt bát hơn và bay bướm hơn trong từng cử chỉ. Có điều lạ hơn nữa là cái phong cách nói năng của bà dường như được chọn để lọt lỗ tai ai đó cao hơn bà về tuổi tác hay cương vị, trong khi Bachmann thì không phải cả hai thứ đó; và là, trong một cử chỉ vô thức dùng một nghệ thuật nói nghe xa xăm như tiếng vọng từ quá khứ, bà đang gợi lên không chỉ giọng nói của tuổi trẻ đã mất của bà, mà cả giọng nói năng trong mối quan hệ với con người mà bà đang mô tả.
“Hồi ấy xung quanh tôi đã có những con người thật sốt sắng, Herr Schneider ạ,” bà nhớ lại, giọng trìu mến. “Rất sốt sắng, miễn là làm thế khiến họ được ông Edward chú ý đến.” Một cái tên để biến thành chiến lợi phẩm và sở hữu. Một cái tên để thưởng thức, nhấm nháp. “Nhưng đó không hề là kiểu cách của tôi, ô, không. Chính tính trầm lặng của tôi khiến tôi được ông ấy chú ý, không phải sự sốt sắng. Chính ông ấy bảo tôi thế. ‘Elli này, khi ta cần tìm một trợ lý, tốt nhất hãy tìm người ở cuối đám đông.’ Đấy là phía thô trong lời nói của ông,” bà nói thêm một cách mơ mộng. “Lúc đầu tôi hơi ngạc nhiên, cái giọng thô ấy. Cần phải quen với nó. Ta không tưởng thấy điều đó ở một quý ông bặt thiệp như ông Edward. Nhưng sau rồi thì ổn. Nó chân thật” bà nói một cách tự hào, và lại rơi vào im lặng.
“Và bà chỉ là một... cái gì vào lúc ấy?” Bachmann hỏi rốt ráo, nhưng tinh tế, quyết định không vì lý do gì mà giải mê.
“Hai mươi hai tuổi, và có trình độ thư ký cao nhất. Cha tôi chết khi tôi còn trẻ, anh biết không. Cái chết của ông có điều bí ẩn, tôi không ngại nói với ông đâu. Tôi nghe nói là treo cổ, nhưng chưa bao giờ nghe chính thức. Chúng tôi là những người Thiên Chúa giáo. Cậu tôi là linh mục ở Passau và ông có lòng tốt đưa chúng tôi theo đạo. Ở Passau bạn có thể là gì khác nữa? Không may, qua năm tháng, cậu tôi tỏ ra âu yếm quá mức đối với tôi, và tôi cảm thấy đi học trường đào tạo thư ký ở Vienna là khôn ngoan, dẫu có thể làm mẹ tôi buồn phiền. Vâng. Thế đấy. Ông ta đã cưỡng bức tôi, nếu ông muốn biết. Lúc ấy tôi không nhận ra. Người ta không thể nhận ra, nếu người ta ngây thơ.”
Bà lại một lần nữa rơi vào im lặng.
“Và Brue Freres là công việc đầu tiên của bà,” Bachmann gợi ý”
“Tôi chỉ có thể nói với anh,” Frau Ellenberger nói như trả lời một câu hỏi mà anh chưa đặt ra, “rằng ông Edward đối xử với tôi với sự chiếu cô mẫu mực.”
“Tôi chẳng thể nào nghi ngờ gì về điều ấy.”
“Ông Edward là một kiểu mẫu của sự đúng mực.”
“Cơ quan tôi nhất trí về điều đó. Chúng tôi cảm thấy ông ấy bị lầm đường lạc lối.”
“Ông ấy là người Anh theo nghĩa tốt đẹp nhất của từ ấy. Khi ông ấy giãi bày điều bí mật với tôi, tôi cảm thấy hãnh diện. Khi ông ấy mời tôi đi cùng với ông đến những chỗ giao tế, chẳng hạn, chỉ một bữa tiệc nhỏ thôi” - bà dùng những từ tiếng Anh - “sau một ngày dài làm việc trước khi ông ấy về nghỉ ngơi cùng gia đình, tôi thấy tự hào vì mình được chọn.”
“Như thế chẳng có ai mà lại không tự hào.”
“Việc ông ấy không chỉ đủ lớn tuổi để làm chú tôi, mà hầu như là ông tôi, không gây nên trong tôi những lo âu phi lý,” bà tiếp tục một cách cứng nhắc, như thể để ghi âm. “Vốn đã quá quen thuộc với những quan tâm của một người đàn ông nhiều tuổi hơn mình, tôi nhận những quan tâm ấy như chuyện bình thường cho bất cứ ai ở vào cương vị tôi. Có điều khác là, ở ông Edward có niềm say mê. Ông ấy không phải là cậu tôi. Khi tôi kể với mẹ tôi chuyện gì đã xảy ra, bà không thấy trong tình cảnh của tôi có gì là không may mà ngược lại còn khuyên tôi đừng gây nguy hiểm cho tình cảnh ấy bằng những cân nhắc vụn vặt tầm thường. Ông Edward chỉ có một người con trai để mà nhớ, chắc chắn không quên cô gái trẻ xinh đẹp đã cho ông thấy tình bạn đầy yêu thương lúc cuối đời.”
“Và ông ấy đã không quên, đúng không?” Bachmann nhắc, đưa đôi mắt tán thưởng nhìn quanh gian phòng, nhưng một lần nữa anh lại lạc mất bà - và anh thấy gần như bà đã lạc mất bản thân mình.
“Vậy chính xác là vào thời điểm nào, bà có thể nói, Frau Ellenberger,” anh tiếp tục, tươi tỉnh lên và làm một khởi đầu mới mẻ, “mà sự đột nhập của đại tá Karpov đã phủ một màn sương tối tăm lên hạnh phúc dùng chung của bà, nếu tôi có thể nói như thế?”
• • •
Có phải bà thật sự không nghe thấy anh nói?
Vẫn thế?
Bà nhướng đôi lông mày lên hết cỡ. Bà chăm chú nghiêng đầu sang một bên. Rồi bà phát ra một tuyên bố khác cho hồ sơ này.
“Việc Grigory Borisovich Karpov đến với tư cách một khách hàng quan trọng của Freres trùng vào thời kỳ quan hệ giữa tôi với ông Edward nở hoa, tròn đầy như mơ. Lúc ấy cũng như bây giờ, tôi không thể xác định trong hai sự kiện ấy cái nào xảy ra trước. Ông Edward đã đi vào một thời kỳ mà tôi chỉ có thể mô tả là tuổi trẻ thứ hai hay thứ ba của ông. Ông ấy quyết đoán khi quan tâm đến tôi, và bằng một tinh thần táo bạo hơn nhiều chàng trai trẻ của giới ngân hàng thành Vienna thời ấy.” Bà im lặng một chút, bắt đầu nói điều gì đó, lắc đầu và nở nụ cười hồi tưởng tinh nghịch. “Rất quả quyết, nếu anh muốn biết.” Khoảnh khắc đã qua đi. “Anh hỏi khi nào, tôi chắc thế. Khi nào ông ta xuất hiện, tôi nghĩ ý anh muốn nói thế. Karpov? Đúng không?”
“Một cái gì đại loại thế.”
“Vậy để tôi nói với anh về Karpov.”
“Vâng xin mời.”
“Người ta dễ có xu hướng mô tả Karpov như một con gấu Nga nguyên mẫu. Nhưng đó chỉ là một nửa câu chuyện. Với Edward, ông ta có tác dụng như một thứ ma túy tăng lực. Có lần ông nhận xét với tôi, ‘Karpov là con bọ phồng của tôi.’ Việc Karpov coi thường các quy tắc sống quy ước đã đánh lên trong trái tim Edward những tia lửa tương đồng. Trong những tuần lễ trước khi khai trương hệ thống Lipizzaner, ông Edward đã tới Praha, Paris và Đông Berlin với mục đích duy nhất là để gặp người khách hàng mới của chúng tôi.”
“Cùng với bà?”
“Vâng, đôi khi cùng đi với tôi. Thật ra là thường cùng đi với tôi. Và đôi khi gã Anatoly nhỏ bé đến cùng chiếc cặp của hắn, Chúa phù hộ cho hắn. Tôi luôn luôn tự hỏi hắn giấu cái gì trong ấy? Một khẩu súng chăng? Ông Edward bảo đấy là mấy bộ pijama của hắn. Hãy tưởng tượng một chiếc cặp da trong một hộp đêm! Và hắn lấy tiền từ đó ra để thanh toán cho mọi thứ. Chỉ từ một ngăn cặp ở mặt trước mà hắn để tiền mặt. Chúng tôi chưa bao giờ thấy phần chính bên trong ngăn cặp. Đó là tuyệt mật. Lộ liễu làm nó buồn cười thế nào ấy.”
Bà tự cho phép mình cười tủm tỉm như một cô bé.
“Với Karpov, không phút nào buồn tẻ. Mỗi lần gặp là một sự pha tạp giữa vô chính phủ và văn hóa, và ta không thể biết ta sẽ nhận được cái gì!” Bà cau mày, tự sửa lại. “Tôi muốn nói thế này, ông Schneider ạ. Đại tá Karpov là một người người say mê thật sự và cuồng nhiệt mọi loại hình nghệ thuật, âm nhạc và văn học, và cả vật lý nữa. Cả đàn bà nữa, tất nhiên. Điều ấy chả cần phải nói. Ông ta thường tự miêu tả mình là kulturny. Người có văn hóa.”
“Cám ơn bà,” Bachmann nói, cần mẫn ghi chép vào sổ tay.
Vẫn giọng nghiêm khắc ấy: “Sau khi ăn nhậu trong một hộp đêm đến tận bình minh, và thả mình trong những căn phòng trên gác - hai hay thậm chí ba lần, tôi có thể nói thế - và diễn thuyết về văn học giữa hai lần viếng thăm - ông ta thường cần khám phá ngay lập tức các phòng tranh và đi thăm các địa điểm văn hóa trong thành phố. Ngủ, như chúng tôi hiểu, không phải là một ý niệm đối với ông ta. Đối với ông Edward và đối với cá nhân tôi, đó là một chuyến đi học tập không thể có lần thứ hai.”
Bà không còn vẻ nghiêm cẩn nữa mà bà bắt đầu cười khẽ và lắc đầu. Để phụ họa, Bachmann tặng bà nụ cười anh hề.
“Và những tài khoản Lipizzaner có được thảo luận công khai trong những dịp ấy không?” anh hỏi. “Hay là đó chuyện kín - chỉ giữa hai người đàn ông với nhau? Và Anatoly đâu khi Karpov có ở đó?”
Một quãng im lặng nặng nề khác khi vẻ mặt bà đột ngột trở nên xa vắng trong hồi tưởng.
“Ồ, ông Edward ngay cả khi tự do tự tại nhất, cũng hết sức kín đáo, tôi đảm bảo với ông như vậy!” bà than phiền, thừa nhận câu hỏi mà không trực tiếp trả lời. “Trong công việc ngân hàng thì thôi được, chuyện đó là tự nhiên, tôi nghĩ vậy. Nhưng trong những vấn đề liên quan đến lĩnh vực riêng tư cũng vậy. Đôi khi tôi tự hỏi phải chăng ngoài bà Brue ra chỉ có mình tôi là người duy nhất. Nhưng rồi bà ấy chết,” bà nói thêm với cái bĩu môi. “Ông ấy quẫn trí, tôi chắc thế. Thật ra là rất đau buồn. Ông biết không, tôi đã nghĩ chúng tôi có thể kết hôn. Nhưng hóa ra không còn khoảng trống. Không có chỗ cho Elli.”
“Và ông ấy cũng kín đáo về ông Findlay, ông bạn người Anh của ông ấy, tôi bỗng dưng nhớ lại từ điều khẳng định của bà,” Bachmann nhắc bà, làm nhẹ tênh câu hỏi anh đến đây để hỏi.
• • •
Mặt bà sa sầm. Bà mím môi hất hàm bác bỏ.
“Có phải tên hắn là thế không? Findlay. Gã người Anh bí ẩn?” Bachmann nhẹ nhàng láy lại. “Đó là theo lời bà nói. Hay tôi nhớ sai?”
“Không. Ông đã không nhớ sai. Findlay đã sai. Rất sai, thật thế.”
“Findlay còn là vị ác thần đằng sau các tài khoản Lipizzaner?”
“Đừng có ai quan tâm đến Findlay. Nên quên ngay tức khắc, quên vĩnh viễn hắn đi, đấy là điều đáng làm với Findlay của chúng tôi,” bà dùng một giọng ca mẫu giáo tức tối. “Findlay dáng bị băm vằm cho vào nồi nấu chín!”
Bà bỗng hùng hồn lên khi bà phát ra tuyên bố khẳng định điều mà lâu nay Bachmann vẫn nghi ngờ: rằng trong khi họ đang uống trà Anh trong những chiếc chén sứ đặt trên một chiếc khay bạc, với các lọc trà bằng bạc và bình sữa bằng bạc, một chiếc bình đựng nước sôi bằng bạc, và nhấm nháp miếng bánh bơ giòn Scotland làm lấy, mùi hương trong hơi thở của bà thỉnh thoảng đến mũi anh toát ra từ một cái gì đấy khí lực hơn là trà thuần túy.
“Hắn tồi tệ đến thế kia à?” Bachmann kinh ngạc. “Băm nhỏ hắn ra. Cho đáng đời hắn.” Nhưng bà đã lại rút lui về trong những hồi tưởng của bà, nên có lẽ câu vừa rồi anh chỉ nói cho mình nghe. “Xin bà nhớ cho, tôi biết ý bà mà. Nếu có kẻ nào lừa đảo ông chủ của tôi, tôi cũng sẽ rất giận dữ. Làm sao ngồi đó nhìn chủ của bà bị lừa phỉnh.” Không có câu trả lời. “Còn nữa, hắn hẳn phải là một tay có cá tính, cái gã Findlay của chúng ta. Đúng không? Bất cứ kẻ nào có thể dẫn dắt ông Edward đi trệch khỏi con đường thẳng-và-hẹp - giới thiệu ông với những tên lừa đảo Nga như Karpov và kẻ dàn xếp phi thường của ông ta...”
Anh đã giải bùa mê.
“Findlay không phải là một kẻ có cá tính, cám ơn!” Frau Ellenberger giận dữ quặc lại. “Hắn chẳng có cá tính quái gì hết. Findlay hoàn toàn được lắp ráp từ những tính cách ăn cắp của người khác!” Rồi bà lập tức đưa tay lên bụm miệng.
“Trông hắn ta thế nào, cái tay Findlay ấy? Xin bà mô tả hắn cho tôi, gã Findlay ấy.”
“Béo tốt. Tinh quái. Bóng mượt. Mũi khô.”
“Khoảng bao nhiêu tuổi?”
“Bốn mươi. Hay hắn làm ra vẻ thế. Nhưng cái bóng hắn già hơn, già hơn rất nhiều.”
“Chiều cao? Ngoại hình chung? Bất cứ đặc điểm bên ngoài nào bà nhớ được?”
“Hai cái sừng, một cái đuôi dài, và nồng nặc mùi diêm sinh.”
Bachmann lắc đầu nghĩ ngợi. “Bà thật sự không thích ông ta lắm, phải không?”
Frau Ellenberger lại đột ngột biến hình lần nữa. Bà ngồi thẳng lưng lên như một bà giáo, mím môi và nhìn anh chằm chằm bằng cái nhìn trách móc nghiêm khắc. “Khi một người bị cố tình tông khứ ra khỏi cuộc đời ta, Herr Schneider ạ - đời của một người - người mà ta gắn bó cả tâm tình, người mà vì họ ta đã bộc lộ tất cả người đàn bà trong ta - thì không phải quá đáng khi ta nhìn gã đàn ông kia bằng con mắt ghê tởm và nghi ngờ, càng như thế nếu hắn là kẻ cám dỗ và làm đồi bại người mà ta - cám dỗ và làm đồi bại tính liêm khiết nhà băng của ông Edward.”
“Bà có gặp ông ta thường xuyên không?”
“Một lần, và một lần là quá đủ để đánh giá. Hắn hẹn gặp, lấy tư thế một khách hàng tiềm năng bình thường. Hắn đến nhà băng và tôi đến gặp hắn trong một cuộc nói chuyện nhẹ nhàng trong phòng khách, đó là bổn phận của tôi. Đó là lần duy nhất hắn xuất hiện ở nhà băng. Sau đó, hắn chơi những trò ma của mình, và tôi bị loại ra ngoài hoàn toàn. Bởi cả hai người.”
“Bà có thể nói rõ hơn được không?”
“Chủng tôi có thể đang có một khoảnh khắc riêng tư, ông Edward và tôi. Chỉ có hai người với nhau. Hay là ông đang đọc cho tôi đánh máy, cũng vậy cả. Chuông điện thoại reo. Đó là Findlay. Ông Edward chỉ vừa nghe thấy giọng của hắn thì đã ‘Elli, cô tránh đi cho.’ Nếu Findlay muốn có cuộc hẹn với ông Edward, nó sẽ diễn ra trong thành phố, không bao giờ ở ngân hàng, và tôi một lần nữa bị loại ra ngoài. ‘Không phải đêm nay, Elli. Cô về mà làm món gà cho mẹ cô đi.’ ”
“Bà có than phiền với ông Edward về cách cư xử tồi tệ như thế đối với bà không?”
“Ông ấy trả lời tôi rằng trên đời có những bí mật mà ngay cả tôi cũng không thể tham dự vào, và Teddy Findlay là một trong số đó.”
“Teddy?”
“Đó là tên thánh của hắn.”
“Tôi chưa nghe bà nhắc đến cái tên đó.”
“Tôi đã không muốn nhắc. Chúng tôi là Teddy và Elli. Chỉ trên điện thoại thôi, tất nhiên. Và căn cứ vào một cuộc gặp bất chợt trong phòng chờ khi chúng tôi chẳng nói chuyện gì quan trọng cả. Tất cả chỉ là giả vờ. Đó là tất cả con người Findlay: giả vờ. Cái lối chúng tôi làm ra vẻ thân mật suồng sã trên điện thoại không thể sống sót qua thực tế, ông có thể chắc thế. Ông Edward muốn tôi coi cái thói xấc xược của ông ta chỉ như trò vui, và quả thật tôi đã coi như thế.”
“Điều gì khiến bà tin chắc Findlay đứng sau phi vụ Lipizzaner?”
“Hắn đã dựng nó lên!”
“Dựng nó lên với Karpov?”
“Với Anatoly, hành động nhân danh Karpov, đôi khi. Tôi hiểu thế. Từ xa. Nhưng sáng kiến ấy là của một mình hắn. Hắn khoác lác về chuyện đó. Lipizzaner của tôi. Đàn ngựa nhỏ của tôi. Chuồng ngựa nhỏ của tôi. Ông Edward của tôi, là những gì hắn đã thật sự nói. Tất cả đã được tính toán cả rồi. Ông Edward tội nghiệp không bao giờ có cơ hội. Ông ấy bị cám dỗ. Đầu tiên là cú điện thoại bông đùa, rất quyến rũ, đòi hẹn gặp - cá nhân và riêng tư, tất nhiên, không có bên thứ ba, không có hồ sơ tài liệu. Rồi lời mời xu nịnh đến đại sứ quán Anh và uống rượu với ông đại sứ để cho tất cả trở thành chính thức. Chính thức cái gì? tôi xin hỏi. Không có gì ở Lipizzaner là chính thức cả! Chúng là ngược nghĩa với chính thức. Chúng bị cho dùng doping và tập tênh ngay từ khởi đầu. Những kẻ lừa đảo chân vòng kiềng tạo dáng như những con ngựa nòi, chúng là thế đấy!”
“A vâng, tòa đại sứ,” Bachmann đồng ý một cách mơ hồ, như thể tòa đại sứ tạm thời thoát khỏi trí nhớ của anh - bởi vì một nhà thẩm vấn đứng đắn nửa vời thì không dộng cửa. Nhưng thực ra tòa đại sứ Anh là thông tin hoàn toàn mới đối với anh và có thể đối với cả Etna Frey nữa. Không có gì trong lời tuyên bố của bà cách đây bảy năm đã chuẩn bị tinh thần cho họ về sự dính líu của tòa đại sứ Anh tại Vienna.
“Xin hỏi chính xác tòa đại sứ đã nhảy vào ở đoạn nào của câu chuyện?” anh giả vờ bối rối hỏi. “Nếu có thể, xin bà lướt lại lần nữa cho tôi, Frau Ellenberger. Có lẽ tôi chưa làm tốt nghiên cứu trước ở nhà như chúng ta tưởng.”
“Findlay lúc đầu tự giới thiệu như một kiểu nhà ngoại giao Anh,” bà trả lời gay gắt. “Một nhà ngoại giao không chính thức, nếu mà có cái loại như vậy, nhưng tôi nghi ngờ điều này.”
Cứ nhìn nét mặt Bachmann thì có thể nghĩ cả anh cũng nghi ngờ điều này, mặc dầu bản thân anh cũng từng là một nhà ngoại giao kiểu ấy.
“Sau đó, hắn ta lại tự bịa thành một nhà tư vấn tài chính. Nếu anh hỏi tôi thì hắn không thuộc loại nào trong hai loại trên. Hắn là một tên bịp bợm không hơn không kém.”
“Vậy là bọn Lipizzaner bắt đầu cuộc đời chúng nhờ ơn Sứ quán Anh tại Vienna,” Bachmann lẩm nhẩm to thành tiếng. “Tất nhiên là thế! Tôi nhớ ra rồi. Xin tha thứ cho sai sót nhỏ tôi lại phạm lần nữa.”
“Đó là nơi toàn bộ kế hoạch Lipizzaner được xào xáo, tôi không nghi ngờ gì về việc này. Vào cái đêm ông Edward về nhà sau cuộc gặp mặt đầu tiên ở đại sứ quán, ông ấy kể lại đại cương toàn bộ việc sắp đặt ấy cho tôi: tôi bị sốc, nhưng ở vào địa vị của tôi thì không nên tỏ ra như thế. Sau đó, bất kỳ sự cải tiến hay đổi mới nào cũng đều nhất nhất theo lời khuyên của Findlay. Dù là trong một thành phố ngoại quốc, hay ở Vienna nhưng xa nhà băng, hay qua điện thoại dưới hình thức ngụy trang khéo léo mà ông Edward cứ khăng khăng bảo rằng đó là mật mã của họ. Đó là một thuật ngữ mà trước đó tôi chưa bao giờ thấy ông dùng. Tạm biệt, Herr Schneider.”
“Tạm biệt, Frau Ellenberger.”
Nhung Bachmann không nhúc nhích. Và cả bà cũng vậy. Như sau này anh thú nhận với Erna Frey, trong cả quãng đời hoạt động của mình, anh chưa bao giờ đến gần một trực giác tâm linh đến thế. Frau Ellenberger ra lệnh cho anh về nhưng anh không về, bởi vì anh biết bà còn có điều bà khát khao muốn thổ lộ, nhưng bà sợ nói ra. Bà nắm chặt ý thức trung thành ở một tay, và tay kia là sự phẫn nộ của bà. Rồi, đột ngột, sự phẫn nộ đã thắng.
“Và bây giờ hắn quay trở laị,” bà thầm thì, mắt mở to vì kinh ngạc. “Lại một lần nữa làm tất cả những chuyện ấy với ông Tommy tội nghiệp, ông ấy không được bằng một nửa người cha của ông ngày trước. Tôi đánh hơi thấy giọng hắn khi hắn nói qua điện thoại. Mùi diêm sinh, đó là cái tôi đã ngửi thấy. Hắn là một con quỷ Satan. Foreman. Lần này hắn tự xưng là Foreman. Hắn phải là ông bầu, bao giờ cũng thế. Tuần sau thì sẽ thành Fiveman!”
• • •
Cách nơi chiếc xe của Bachmann đang đợi dọc đường chỉ một trăm mét có một bụi cây ven hồ với một lối đi công cộng vòng vèo quanh. Đưa chiếc cặp cho tài xế, anh bị xâm chiếm bởi một ý muốn bất chợt là lững thững đi dạo ở đó một mình. Một chiếc ghế dài mời mọc, anh ngồi xuống. Bóng đêm dần buông xuống. Giờ kỳ ảo của Hamburg bắt đầu. Đắm chìm trong suy nghĩ, anh nhìn trừng trừng vào mặt hồ thẫm dần khi những ánh đèn thành phố mọc lên xung quanh. Trong một thoáng, giống như một tên trộm có lương tâm, anh có cảm giác mình đã trộm không đúng người. Lắc đầu trong khoảnh khắc yếu lòng này, anh lôi trong một túi bộ com lê văn phòng ra chiếc điện thoại di động và chọn số gọi trực tiếp Michael Axelrod.
“Hả, Günther?”
“Người Anh muốn đúng điều chúng ta muốn,” anh nói.
“Không có chúng ta.”
• • •
Trong điện thoại, giọng Ian Lantern cực kỳ du dương êm ái, Brue phải khen anh ta. Anh ta đang xin lỗi, hoàn toàn thừa nhận rằng lịch làm việc của Brue bận rộn khủng khiếp và anh ta không đời nào dám mơ xâm phạm nó nhưng ngặt rằng London đang soi mới sau lưng.
“Đáng tiếc, tôi không thể nói gì hơn trên đường dây công cộng này. Tôi cần một cuộc nói chuyện tay đôi với ông hôm nay, Tommy. Một giờ là đủ. Xin cho biết thời gian và địa điểm.”
Đừng ngu, thoạt đầu Brue cảnh giác. “Có thể nào đây vẫn là vấn đề chúng ta đã thảo luận cặn kẽ bữa trưa không?” ông gợi ý, không nhượng bộ một bước.
“Có liên quan. Không hoàn toàn, nhưng gần. Quá khứ lại hiện về. Nhưng không đáng ngại đâu. Thật ra còn có lợi cho ông đấy. Chỉ một giờ, sau đó ông rảnh nợ.”
An tâm, Brue liếc qua nhật ký mặc dầu ông chẳng cần làm như thế. Thứ Tư là đêm opera của Mitzi. Bà và Bernhard cả hai đều có những abonnement. Với Brue thì đó là thịt nguội từ trong tủ lạnh hay bữa ăn nhẹ trước khi đi ngủ và một ván bi-a ở câu lạc bộ Anglo-German: vào các tối thứ Tư ông có quyền lựa chọn.
“Bảy giờ mười lăm tại nhà tôi, như thế có tiện cho ông không?” Ông định mở miệng nói địa chỉ nhưng Lantern ngắt lời ông.
“Tuyệt, Tommy. Tôi sẽ đúng giờ.”
Và anh ta đến đúng giờ thật. Chiếc ô tô và tài xế đợi bên ngoài. Và hoa cho Mitzi. Và nụ cười chết tiệt anh ta thủ sẵn trên mặt trong khi anh ta hớp một ngụm soda có đá và một lát chanh.
“Không, tôi sẽ đứng, nếu ông không thấy phiền, cám ơn,” anh ta niềm nở nói khi Brue mời ngồi ghế. “Ba giờ bẹp gí trên xa lộ rồi, được duỗi đôi chân già nua này thật là thú vị.”
“Lẽ ra anh nên thử đi tàu hỏa.”
“Vâng, tôi nên chứ, sao lại không?”
Bỏi vậy Brue cũng đứng, hai tay chắp sau lưng, và điều ông mong là cái vẻ lịch thiệp nhưng xấc láo của một người bận rộn đột nhập vào nhà của chính mình, và ông có quyền đòi một lời giải thích.
“Chúng ta rất eo hẹp về thời gian, Tommy, như tôi đã nói, bởi vậy tôi xin mô tả trước hết tình cảnh khó khăn ông đang lâm vào, và sau đó có lẽ chúng ta sẽ xem qua tình cảnh khó khăn của chúng ta. Ông thấy thế có tiện không?”
“Xin anh cứ thoải mái.”
“Nhân đây, tôi phụ trách chống khủng bố. Tôi không nghĩ chúng ta đã nhắc đến điều này trong bữa ăn trưa, đúng không?”
“Tôi nghĩ vậy.”
“Ồ, và đừng lo về Mitzi. Nếu bà nhà và bạn trai của bà ấy quyết định bỏ về vào lúc giải lao, các cậu trai của tôi sẽ là những người đầu tiên cho chúng ta biết. Sao ông không ngồi xuống và uống nốt ly rượu đi?”
“Tôi thấy thế này là thoải mái rồi, cám ơn anh.”
Lantern không hài lòng về điều này, nhưng dù sao anh ta vẫn tiếp tục.
“Không phải là một cảm giác dễ chịu gì cho lắm, tôi có thể nói với ông như thế, Tommy, khi nghe từ đám đối thủ Đức của tôi rằng hoàn toàn không phải ông không biết tung tích của một tay Issa Karpov, ông đã ngồi với hắn cả nửa đêm có người làm chứng. Chuyện đó làm cho chúng tôi hơi bẽ mặt. Cứ như là chúng tôi chưa hề hỏi ông, đúng không?”
“Các ông yêu cầu tôi thông báo cho các ông trong trường hợp hắn đưa yêu sách. Hắn chưa đưa. Bây giờ vẫn chưa.”
Lantern lắng nghe ý kiến của Brue như nghe người lớn tuổi hơn, nhưng rõ ràng anh ta vẫn chưa hoàn toàn thỏa mãn. “Nói thẳng nhé, có rất nhiều thông tin trong chuyện này ông biết mà chúng tôi đã có thể cần đến. Nó sẽ cho chúng tôi đi trước một bước trong ván bài này, thay vì phải nuốt một nỗi nhục rất lớn.”
“Ván bài nào?”
Nụ cười của Lantern thoáng tiếc nuối. “Tôi e không có giải thích, Tommy. Đó là điều-cần-biết trong công việc của chúng tôi, Tommy.”
“Trong công việc của tôi nữa.”
“Thật ra chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu chút ít về động cơcủa ông, Tommy. Chúng tôi và London. Hoàn cảnh gia đình của ông, đứa con gái với người vợ đầu - tôi muốn nói là Georgie - con gái với Sue? Không ai hiểu tại sao ông bà chia tay, tôi vẫn nghĩ thật đáng buồn. Theo tôi một cuộc ly hôn không cần thiết quả thực là một cái chết. Cha mẹ tôi không bao giờ vượt qua được chuyện đó, tôi biết điều này. Tôi nghĩ là tôi cũng vậy, theo một cách nào đó. Dù sao, cô ấy đang có mang, điều ấy thật tốt. Tôi nói Georgie. Chắc ông rất vui mừng.”
“Anh đang nói tầm phào chuyện quái quỷ gì vậy? Anh tập trung vào cái công việc chó chết của anh đi, có được không?”
“Đây chỉ là chúng tôi muốn hiểu ra tại sao ông lại cứ cản trở như thế, Tommy à, và ông đang bảo vệ cái gì. Hay ai. Có phải chỉ bản thân ông không? Chúng tôi tự hỏi thế. Hay là Brue Freres? Có phải gã trai Karpov: Có phải ông bỗng dưng thấy thích gã, kiểu này hay kiểu khác? Tôi muốn nói đó là một lời dối trá, Tommy ạ. Ông thật sự đã lỡm được chúng tôi. Phải thừa nhận một sự ngưỡng mộ bất đắc dĩ.”
“Tôi hình như nhớ rằng bản thân các anh cũng chưa bao giờ quá rộng lượng với sự thật.”
Lantern chọn cách không nghe thấy câu này. “Tuy nhiên,” anh ta vô tư nói tiếp, “một khi chúng tôi nhìn vào tình trạng tài chính có phần không đáng tin cậy của Brue Freres, và làm mấy phép toán sơ bộ về những gì ông bạn Karpov thân mến phải cất giấu an toàn, chúng tôi cảm thấy chúng tôi tôi hiểu ông hơn: A, cái ông Tommy này là như thế đấy! Ông ấy hy vọng những triệu bạc của Karpov thân mến sắp sửa theo ông ấy vào tuổi già một cách dễ thương. Thảo nào ông ấy chẳng muốn ai đòi nó. Ông có muốn bình luận gì về điều đó không?”
“Sao chúng ta không cứ giả định là anh đúng?” Brue gắt. “Rồi ra khỏi nhà tôi.”
Nụ cười tươi trẻ của Lantern nở rộng thông cảm. “Tôi e rằng tôi không thể làm thế được, Tommy. Cả ông cũng không, nếu ông nghe kịp tôi. Ngoài ra chúng tôi nghe nói có một cô bạn gái trong chuyện này.”
“Vớ vẩn. Tôi không có cô bạn gái nào hết. Hoàn toàn ngớ ngẩn. Trừ phi ông đang nói đến luật sư của gã trai đó” - giả vờ vô vọng lục trong óc - “Frau Richter. Người nói tiếng Nga. Đại diện cho hắn xin vào dưỡng trí viện, vân vân.”
“Cũng hoàn toàn là chuyện tầm phào, xét từ những gì chúng tôi nghe được. Nếu ông không ưa thích nó, tôi cũng thế.”
“Tôi không để ý. Tôi sợ rằng ở tuổi này mắt tôi nhìn đàn bà không giống như trước nữa.”
Cân nhắc nhu cầu của Brue tránh nhắc đến tuổi tác của ông lúc này, Lantern bước đến tủ ly và một cách thoải mái tự nhiên nhất tự rót cho mình một ly soda.
“Vậy đây là tình cảnh rắc rối của ông, Tommy ạ, mà tôi sẽ mở rộng xem xét kỹ hơn nữa theo đúng trình tự. Nhưng trong lúc ấy, tôi muốn ông làm quen với tình thế khó khăn của tôi, mà nói thẳng, nhờ có ông, không tốt hơn tình cảnh của ông mấy nỗi. Cho phép tôi chứ?”
“Cho phép ông cái gì?”
“Tôi chỉ kể với ông thôi. Mô tả độ sâu của hố phân mà ông đã ném chúng tôi vào. Ông có đang nghe hay không đấy?”
“Tất nhiên tôi nghe.”
“Tốt. Bởi vì sáng mai đúng chín giờ, ở đây Hamburg này, tôi sẽ đến một cuộc họp cực kỳ nhạy cảm và hết sức bí mật, trong đó chủ đề chính là và chỉ là Issa Karpov, người mà ông giả vờ chưa hề để mắt đến. Trong khi ông có để ý.”
Anh ta bỗng trở thành một người khác: mô phạm, kiên quyết, oai hùng, giọng anh ta nhấn ở những từ ngữ bất ngờ, giống như những nốt nhạc gõ trên một cây piano bắt sai nhịp.
“Và tại cuộc họp ấy, Tommy, khi mà nhờ có ông tôi hy vọng có chút rơi vào thế đường cùng, tôi cần - cơ quan chúng tôi cần - tất cả chúng tôi, những người đang cố gắng làm những việc đúng đắn trong tình hình hết sức nhạy cảm này - London, người Đức, cộng thêm những công tác thân thiện khác mà tôi sẽ không mất công kể ra tại cái nhu cầu giao nhau này - ông, ông Tommy Brue của ngân hàng Brue Freres - là một công dân Anh yêu nước và đã công khai thừa nhận là kẻ thù của khủng bố - không chỉ đã sẵn sàng mà còn tha thiết cộng tác với tôi bằng mọi cách, mọi kiểu dạng hay hình thức, như được hoạt động tối mật này ra lệnh, trong lúc này, ít ra là tạm thời, ông sẽ vẫn hoàn toàn không hay biết gì hết. Do đó câu hỏi của tôi đặt ra cho ông là: Tôi nói có đúng không? Ông sẽ hợp tác chứ, hay ông sẽ vẫn gây trở ngại cho chúng tôi trong cuộc chiến chống khủng bố như trước?”
Anh ta không cho Brue chút thời gian nào để bắn trả, rồi ngừng sủa và tỏ ra thương hại ông.
“Ông thấy không, ngoài thiện ý cộng tác của ông, Tommy, điều mà chúng tôi tha thiết yêu cầu ông ở đây, là hãy nhìn xem những gì đang chống lại ông. Ông chỉ còn cách Kẻ chứa chấp đồ gian có một bước nhỏ, ngay cả khi không bị cáo buộc tội rửa tiền. Cộng thêm những gì người Đức sẽ phải nói về một cư dân người Anh, nhà ngân hàng đang khều chân tỏ tình với một tên khủng bố Hồi giáo có tiếng đang trốn chạy, chuyện này không thể nghĩ tới. Ông nguy rồi. Vậy sao không đến một cách lặng lẽ và tận hưởng? Ông có hiểu điều tôi muốn nói không? Tôi không chắc tôi đã được ông hiểu hoàn toàn. Có muốn tôi nói về Annabel không?”
“Vậy đây là một vụ tống tiền,” Brue nói.
“Cây gậy và củ cà rốt, Tommy. Nếu chúng ta xong xuôi chuyện này, những tội lỗi quá khứ của ngân hàng sẽ được lãng quên, một ý kiến thân thiện hơn về ông ở thành phố và Brue Freres sẽ sống sót. Còn gì đẹp hơn?”
“Thế còn gã trai?”
“Ai?”
“Issa.”
“À. Phải. Ông hơi vị tha đấy. Ờ, đương nhiên điều đó sẽ phụ thuộc vào việc ông đóng vai của mình hay dở ra sao. Hắn thuộc quyền của người Đức, tất nhiên. Chủng tôi không thể can thiệp vào chủ quyền của họ, chủ yếu họ sẽ phải quyết định. Nhưng sẽ không có ai trừng phạt hắn sau chuyện này đâu, không hề. Quanh đây không có ai làm thế.”
“Còn Frau Richter? Họ cho là cô ấy đã làm gì?”
“Annabel. Ồ, cô này cũng bị phiền toái đấy, về lý thuyết: có giao du với hắn, giấu hắn biệt một nơi, và đang vui vẻ với hắn rồi chưa biết chừng.”
“Tôi đang hỏi anh chuyện gì sẽ xảy đến với cô ấy?”
“Không, ông đâu hỏi thế. Ông hỏi cô ấy đã làm gì. Tôi nói ông nghe rồi. Người ta sẽ làm gì với cô ta thì chẳng ai biết cả. Đập cho cô ta một trận rồi dựng cô ta đứng dậy, nếu mà chân cô ta có còn chút cảm giác nào. Cô ta có những ô dù lớn khủng khiếp, tôi chắc ông biết.”
“Tôi chưa biết.”
“Gia đình luật gia thượng thặng, lâu đời, ngành ngoại giao Đức, những tước vị mà họ không dùng. Điền trang ở Freiburg. Phạt lấy lệ cô ấy và đưa cô ấy về nhà là lời khuyên của tôi, cách mà đất nước này hành xử.”
“Vậy tôi sẽ đưa cho anh một tờ séc để trống thanh toán bằng những việc tôi phải làm, có phải đấy là điều mà anh đang nói không?”
“Ờ, nói thẳng ra, gần như là thế, Tommy. Ông sẽ ký vào văn bản, rồi chúng tôi để cái gì đã qua thì cho qua và cùng nhau hướng về phía trước. Và công nhận chúng tôi đang làm những việc tốt, xứng đáng. Không chỉ cho chúng tôi. Cho tất cả bọn họ ngoài kia, như chúng tôi nói trong ngành của mình.”
Và thật lạ lùng đối với Brue, quả thực có một tài liệu để ký, và khi kiểm tra kỹ thì nó có nhiều khía cạnh của một tờ séc để trống. Nó nằm trong chiếc phong bì dày màu nâu ngự trong túi áo vest của Lantern, và nó ràng buộc Brue vào một “công việc có tầm quan trọng quốc gia” không rõ ràng, nó lưu ý ông đến nhiều điều khoản khắc nghiệt của Đạo luật Bí mật Nhân sự, và đến những hình phạt chờ ông nếu ông vi phạm. Hoang mang, ông đưa mắt ngó Lantern, rồi ngó quanh phòng khách để tìm kiếm sự giúp đỡ. Không thấy gì, ông ký.
• • •
Lantern đã đi rồi.
Sững sờ vì giận dữ, quá giận đến nỗi không uống nốt cốc scotch mà Lantern đã ân cần nhắc nhỏ, Brue đứng trong tiền sảnh nhà mình, nhìn trừng trừng cửa trước đã khép lại.
Ánh mắt ông chạm phải bó hoa, vẫn còn bọc trong giấy, nằm trên bàn. Ông nhặt nó lên, ngửi, rồi lại đặt xuống chỗ cũ.
Hoa dành dành. Loại Mitzi ưa thích. Tiệm hoa sang trọng. Cái anh chàng lan này của chúng ta không keo kiệt tí nào khi hắn vung tiền của chính phủ hắn.
Hắn mua hoa để làm gì? Để tỏ rằng hắn đã biết? Biết cái gì? Rằng hoa dành dành là loại Mitzi ưa thích? Cũng như cách chúng biết mình thích ăn cá ở La Scala? Và làm sao để khiến Mario mở tiệm vào bữa trưa thứ Hai?
Hay để tỏ rằng hắn chưa biết - rằng bà ấy đã đi xem hát với tình nhân, là điều tất nhiên chắc chắn hắn đã biết; nhưng ngược lại theo logic nghề nghiệp của hắn, cái gì mình biết thì phải tỏ ra không biết. Vậy chính thức là hắn không biết.
Còn Annabel? Ồ cô này cũng bị phiền toái đấy.
Brue không phải thuộc loại đầu óc cả tin nhiều ở những điều Lantern nói, nhưng ông có tin chút xíu. Trong bốn ngày đêm ông đã ngẫm mọi cách để kín đáo tiếp xúc với cô: một thư tay cho Tu viện Phương Bắc, thông qua người đưa thư của Freres; một tin nhắn vô thưởng vô phạt đến máy văn phòng hay điện thoại di động của cô.
Nhưng vì tao nhã - như lời của Lantern - hay đơn thuần là sự hèn nhát, ta muốn dùng từ nào cũng được, ông không tiếp cận được cô. Vào những lúc rỗi rãi trong văn phòng, khi đầu óc ông đáng ra là để suy nghĩ lung về các giao dịch tài chính rắc rồi thì ông lại chợt thấy mình, tay chống cằm, nhìn chằm chằm chiếc điện thoại, như ép nó đổ chuông. Nhưng nó im lặng.
Và bây giờ đây, đúng như điều ông đã sợ, cô đang gặp rắc rồi. Và không có câu chuyện ngọt xớt nào Lantern nói có thể thuyết phục ông rằng cô sắp thoát ra mà không bị tổn hại. Tất cả những gì ông cần là một lý do để gọi cho cô, và trong cơn giận dữ, ông đã tìm thấy nó. Lantern cứ việc đi mà tự treo cổ. Ta có ngân hàng của ta để mà điều hành. Và một ly rượu đợi ta uống cạn. Ông uống một hơi, và quay số của cô theo đường dây điện thoại nhà.
“Frau Richter?”
“Có.”
“Brue đây. Tommy Brue.”
“Chào ông, ông Brue.”
“Tôi gọi đến không đúng lúc chăng?”
Cứ nghe giọng đều đều của cô thì chắc là ông đúng rồi.
“Không. Không sao đâu.”
“Chì là tôi nghĩ tôi nên gọi cho cô vì hai lý do. Nếu cô thực sự có vài phút. Cô có không?”
“Có. Có, tôi rảnh mà. Tất nhiên.”
Cô ấy uống thuốc ngủ chăng? Bị kẹt? Phải làm theo lệnh của ai? Hỏi ý kiến ai trước khi trả lời?
“Lý do đầu tiên của tôi - đương nhiên, tôi không muốn đi vào chi tiết qua điện thoại - gần đây có một tấm séc được phát hành. Hình như nó chưa được dùng ở bất cứ đâu.”
“Mọi việc đã thay đổi,” cô nói, sau một hồi chờ đợi vô tận.
“Ồ. Thế nào?”
“Chúng tôi đã quyết định bố trí cách khác.”
Chúng tôi? Thực ra thì cô với ai? Cô với Issa? Khó có thể hình dung Issa tham gia vào quá trình ra quyết định.
“Nhưng thay đổi theo hướng tốt hơn, tôi tin vậy,” ông nói, đưa vào một vẻ lạc quan.
“Có thể thế. Có thể không. Cái gì cũng được miễn là nó được việc, đúng không ạ?” vẫn giọng trống rỗng, một giọng nói từ vực thẳm. “Ông có muốn tôi xé nó đi không? Hay gửi trả lại?”
“Không, không!” - Nhấn quá, phải hạ giọng xuống - “Đừng gửi nếu có một dịp nào có thể cô vẫn cần đến nó, tất nhiên đừng gửi. Tôi sẽ hết sức vui mừng nếu cô thanh toán nó trong khi tất cả chuyện này còn đang treo đó, ấy là nói thế. Hoặc nếu không có chuyện gì xảy đến, sau này trả lại phần nào cũng được trong số mà cô chưa dùng đến.” Ông do dự, không biết có nên liều nói ra lý do thứ hai không. “Còn về vấn đề ngân hàng kia. Trên mặt trận ấy mọi việc có động tĩnh gì không?”
Không trả lời.
“Tôi muốn nói, về quyền giả định của anh bạn chúng ta.” Ông cố thử hài hước. “Con ngựa xiếc mà chúng ta đang bàn. Liệu người bạn của chúng ta có đề nghị tiếp quản nó không.”
“Tôi chưa thể thảo luận vấn đề này. Tôi phải nói chuyện lại với anh ấy.”
“Lúc ấy cô gọi cho tôi nhé?”
“Có thể sau khi tôi đã nói chuyện thêm với anh ấy.”
“Và trong thời gian đó, cô sẽ thanh toán tờ séc ấy chứ?”
“Có thể.”
“Và bản thân cô ổn chứ? Không có khó khăn gì chứ? Có vấn đề gì không? Tôi muốn nói, có điều gì tôi có thể giúp?”
“Tôi ổn.”
“Tốt.”
Im lặng kéo dài cả từ hai phía, về phía ông, nỗi lo bất lực; về phía cô, dường như là một sự thờ ơ sâu thẳm.
“Vậy chúng ta sớm có một cuộc nói chuyện nhé?” ông đề nghị, dồn hết sự hăm hở cuối cùng của mình.
Họ sẽ có hay không? Cô đã cúp máy. Bọn họ đang nghe, ông nghĩ. Họ đang ở trong phòng với cô. Họ đang chỉ đạo cái giọng lễ sinh của cô.
• • •
Chiếc điện thoại di động vẫn còn trên tay cô. Annabel ngồi bên chiếc bàn viết nhỏ màu trắng trong căn hộ cũ, đăm đăm nhìn qua cửa sổ ra ngoài phố tối đen. Phía sau cô, Erna Frey ngồi trên chiếc ghế bành duy nhất, thận trọng nhấp chén trà xanh.
“Ông ấy muốn biết Issa có đưa yêu sách không,” Annabel nói. “Và tấm séc của ông ấy sao rồi.”
“Và cô nói lảng,” Erna trả lời đồng tình. “Cũng rất gọn gàng, tôi nghĩ thế. Có lẽ lần sau ông ấy gọi, cô sẽ có những tin tức tốt hơn cho ông ấy.”
“Tốt hơn cho ông ấy? Tốt hơn cho mấy người? Tốt hơn cho ai?”
Đặt điện thoại xuống bàn, hai tay ôm đầu, Annabel nhìn chăm chú vào nó, như thể nó cất giữ những câu trả lời cho vũ trụ.
“Cho tất cả chúng ta, em ạ,” Erna Frey nói, dợm đứng lên khi chuông điện thoại di động reo lần thứ hai. Nhưng chị đã quá chậm. Giống như một người nghiện, Annabel chộp vội lấy nó và xưng tên.
Đó là Melik, muốn nói lời tạm biệt với cô trước khi anh cùng mẹ lên đường sang Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng cũng muốn biết tình hình Issa ra sao, bởi vì anh cảm thấy có lỗi.
“Nghe này, khi chúng tôi trở về - cô nói với em tôi - cô nói với người bạn của chúng ta - bất cứ lúc nào. Ô kê? Ngay khi cậu được tha, chúng tôi sẽ chào đón cậu ấy. Cậu ấy có thể ở lại chỗ cũ của cậu ấy, có thể ăn cho sập cả nhà. Nói với cậu ấy rằng cậu ấy là một chàng trai tuyệt vời, ô kê? Bảo Melik nói thế đấy. Cậu ấy có thể nốc ao tôi trong một hiệp, ô kê? Có thể không phải trên võ đài quyền Anh. Mà ở ngoài kia. Nơi cậu ấy đã từng ở. Biết tôi đang nói gì không?”
Có, Melik, tôi biết anh đang nói gì. Và nhắn giùm Leyla tôi yêu bà. Và nói với bà hãy hưởng một đám cưới thật vui vẻ, một đám cưới truyền thống. Cả anh nữa, hãy có một đám cưới tuyệt vời cho mình, Melik nhé. Và chúc cô dâu chú rể sống lâu, thật nhiều hạnh phúc. Và quay trở về bình an vô sự Melik nhé, nhớ chăm sóc mẹ, bà là một người phụ nữ tốt, can đảm, bà yêu anh và là một người mẹ tuyệt vời cho bạn anh...
Và nhiều nữa vẫn với giọng ấy, cho đến khi Erna Frey nhẹ nhàng cạy chiếc điện thoại khỏi những ngón tay nắm chặt và tắt đi, trong khi bàn tay kia vẫn đặt êm trên vai cô.