Kẻ Bị Truy Nã

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

❊ ❊ ❊

Lúc đó là vào khoảng sáu giờ tối ngày thứ Sáu kế tiếp, khi ngân hàng tư nhân của Brue Frères PLC, trước đây là ở Glasgow, Rio de Janeiro và Vienna, và bây giờ là Hamburg, đóng cửa để nghỉ cuối tuần.

Đúng năm giờ ba mươi thì một tay bảo vệ lực lưỡng đóng các cửa trước của ngôi biệt thự liên kế xinh đẹp bên hồ Binnen Alster. Vài phút sau, chánh thủ quỹ đóng cửa phòng bọc sắt và cài báo động, thư ký trưởng vẫy tạm biệt các nữ nhân viên cuối cùng và kiểm tra máy tính cùng sọt giấy vụn của họ, và nhân viên lâu năm nhất của ngân hàng này, Frau Ellenberger, đã tắt các điện thoại, đội chiếc mũ nồi của bà lên đầu, mở khóa chiếc xe đạp trong sân và đạp đi đón đứa cháu gái ở lớp múa.

Nhưng chỉ sau khi dừng lại nói một vài câu trách đùa ông chủ của bà, ông Tommy Brue, đồng chủ nhân duy nhất còn sống của nhà băng này, người mang cái tên nổi tiếng của nó: “Ông Tommy, ông tệ hơn cả người Đức chúng tôi,” bà phản đối bằng một giọng tiếng Anh rất chuẩn, thò đầu vào cửa phòng làm việc riêng của ông. “Tại sao ông cứ tự hành hạ bản thân ông bằng công việc thế? Mùa xuân đã đến với ta rồi! Ông không thấy cây nghệ với hoa mộc lan đó sao? Xin nhớ là ông đã sáu mươi rồi. Ông nên về nhà uống một cốc rượu vang với bà Brue trong khu vườn xinh đẹp của ông. Nếu không, ông sẽ ‘xơ xác chỉ còn là mớ chỉ rối đấy,’ ” bà báo trước, để phô trương tình yêu của bà đối với Beatrix Potter[1] hơn là có chút hy vọng gì sửa đổi cách sinh hoạt của ông chủ.

Ông Brue giơ bàn tay phải lên xoay xoay vui vẻ bắt chước Giáo hoàng ban phúc.

“Chị về đi, Frau Elli,” ông giục bà, giọng cam chịu mỉa mai. “Nếu nhân viên của tôi không chịu làm hết việc trong tuần thì tôi chẳng còn cách nào khác là phải làm thay cho họ vào cuối tuần. Tạm biệt,” ông nói thêm, gửi bà một cái hôn gió.

“Vâng, tôi cũng xin chào ông, xin gửi lời chào bà nhà.”

“Tôi sẽ nói lại.”

Sự thật, như cả hai đều biết, là khác hẳn. Khi các điện thoại và hành lang yên tĩnh, và không có khách hàng kêu réo khiến ông phải lo, còn Mitzi vợ ông đã đi chơi bài brít với các bạn của bà ấy là gia đình von Essen, thì lúc này ngân hàng là vương quốc của riêng ông. Ông có thể nghiền ngẫm về tuần sắp hết, ông có thể mở ra tuần mới. Ông có thể hội ý với linh hồn bất tử của mình, nếu ông có tâm trạng vui vẻ.

• • •

Vì cái thời tiết nóng trái mùa này, ông Brue chỉ mặc sơ mi và quần dây đeo. Chiếc áo vét tông trong bộ com lê do thợ may cắt vắt gọn gàng trên chiếc giá áo gỗ cũ đứng cạnh cánh cửa có dòng chữ: Tiệm Randall ở Glasgow, những thợ may đã may quần áo cho bốn đời nhà Brue. Chiếc bàn mà ông đang ngồi cặm cụi làm việc chính là chiếc bàn mà Duncan Brue, người sáng lập nhà băng này, đã đưa lên tàu cùng với ông khi, vào năm 1908, ông căng buồm chạy khỏi Scotland mà chẳng có gì trong người ngoài một niềm hy vọng trong tim và năm mươi đồng sôvơrin[2] trong túi.

Chiếc kệ sách to ngoại cỡ bằng gỗ gụ choán hết một mặt tường, tương tự vậy, cũng là một thứ đồ truyền thuyết gia đình. Đằng sau tấm kính có hoa văn là hàng hàng những tác phẩm lớn bìa da của nền văn hóa thế giới: Dante, Goethe, Plato, Socrates, Tolstoy, Shakespeare và, hơi khó hiểu, Jack London. Chiếc kệ sách này do ông nội của Tommy Brue nhận như một phần trả cho một món nợ khó đòi, cả số sách đó cũng thế. Ông ấy có cảm thấy có nghĩa vụ phải đọc chúng không? Truyền thuyết nói là không: ông chỉ chất đống chúng ở đấy.

Và trên bức tường ngay trước mặt Brue, như một cảnh báo giao thông vĩnh cửu trên đường ông đi, có treo nguyên bản một bức vẽ tay trong khung mạ vàng, cây gia phả. Rễ của cây sồi cổ thụ này đâm sâu vào bờ dòng sông Tay ánh bạc. Các nhánh của nó tỏa rộng sang hướng Đông, vào Âu châu Già nua và sang hướng Tây, vào Tân Thế giới. Các quả sồi vàng đánh dấu thành phố nơi các cuộc hôn nhân với người ngoại quốc đã làm phong phú thêm huyết thống của dòng họ Brue, ấy là chưa kể những nguồn lực chỉ xài một lần.

Và bản thân Brue là hậu duệ xứng đáng của dòng họ cao quý này, cho dù ông là người cuối cùng của nó. Trong thâm tâm ông ắt biết rằng Frères, cách mà chỉ mình gia đình ông gọi cái ngân hàng này, là một ốc đảo của những tiền lệ đã bị vứt bỏ. Frères có thể tiễn anh ra tận cửa, nhưng Frères cũng đã đi hết hành trình tự nhiên của nó rồi. Đúng, ông có một người con gái, Georgie, với người vợ đầu của ông, Sue, nhưng địa chỉ được biết gần đây nhất của cô là một ashram[3] bên ngoài San Francisco. Trong mọi dự định của cô chưa bao giờ cô lờ mờ nghĩ đến sự nghiệp ngân hàng.

Tuy nhiên ngoại hình của Brue không có chút nào gọi là cổ lỗ. Trông ông cường tráng và ưa nhìn đến từng chi tiết, với cái trán rộng tàn nhang và mái tóc cứng khỏe như cước màu nâu đỏ của người Scotland, không hiểu bằng cách nào ông đã trị được và rẽ được ngôi. Ông có sự tự tin của người giàu nhưng không có cái xấc xược ngạo mạn. Nét mặt ông, khi nó không trĩu xuống vì cái vẻ bí hiểm của nghề nghiệp, thì nhã nhặn niềm nở, và mặc dù cả đời trong nhà băng, hay chính vì thế, nó tươi tắn nở nang không một vết nhăn. Khi người Đức gọi ông là người Anh điển hình thì ông bật ra một tiếng cười thoải mái và hứa sẽ chịu đựng sự xúc phạm với tính ngoan cường của người Scotland. Nếu ông là một giống loài sắp tuyệt diệt, ông cũng thà âm thầm tự hài lòng với mình về điều đó: Tommy Brue, người tốt lành cao thượng, người tốt trong bóng tối, không phải là người nhiều tham vọng nhưng như thế càng tốt, có người vợ thượng lưu, cực kỳ lịch duyệt ở bàn ăn và chơi những trận golf tao nhã. Hay người ta nói thế thì nó là thế, ông nghĩ.

• • •

Sau khi đã xem lần cuối các thị trường đóng cửa và tính toán tác động của chúng lên cổ phần của ngân hàng - sự sụt giá thường lệ vào tối thứ Sáu, không có gì để phải nóng mặt - Brue tắt máy tính và đưa mắt qua chồng hồ sơ mà Frau Ellenberger đã đánh dấu riêng để ông chú ý.

Suốt cả tuần ông đã đánh vật với những thứ phức tạp không thể nào hiểu nổi của thế giới ngân hàng hiện đại, ở đó ai là người thực sự vay tiền của anh cũng khó biết như ai là người đã in ra tiền ấy. Ngược lại, ưu tiên cho ca làm việc ngày thứ Sáu này được thôi thúc bởi tâm trạng cũng như bởi sự cần thiết. Nếu Brue cảm thấy vui vẻ, ông có thể dùng buổi tối này tổ chức lại hội từ thiện của khách hàng mà không tính tiền; nếu khó chịu thì là một trại nuôi ngựa, một spa phục hồi sức khỏe hay một chuổi casino. Hoặc nếu đó là một mùa tính toán, một kỹ năng mà ông có được nhờ cần cù chăm chỉ hơn là nhờ gien của gia đình, có thể ông sẽ nghe Mahler trong khi nghiền ngẫm cáo bạch của những công ty môi giới, những quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ hưu trí cạnh tranh.

Tuy nhiên, tối nay ông không được quyền lựa chọn tự do như thế. Một khách hàng có giá vừa trở thành mục tiêu của một cuộc điều tra của Sở Hối đoái Hamburg, và mặc dầu Brue đã được ngài Haug von Westerheim, chủ tịch ủy ban, đảm bảo rằng sẽ không có giấy triệu tập nào cả, ông vẫn cảm thấy buộc phải dấn mình vào vòng xoáy của vụ này. Nhưng trước hết, ngồi ngả người vào ghế, ông hồi tưởng lại cái khoảnh khắc khó tin khi ông già Haug tự mình phá vỡ những quy tắc thép cẩn mật của ông ta:

Trong lâu đài cẩm thạch của Câu lạc bộ Anglo-German, bữa dạ tiệc xa hoa và trang trọng đang ở cao trào. Cộng đồng tài chính sáng giá nhất của Hamburg đang chúc tụng một trong những thành viên của nó. Tối nay là sinh nhật lần thứ sáu mươi của Tommy Brue, và ông nên tin điều đó, vì như cha ông là Edward Amadeus thường nói: Tommy con ạ, trong nghề của chúng ta số học là cái không biết nói dối. Tâm trạng đang phởn phơ, thức ăn tuyệt ngon, rượu càng ngon hơn, những người giàu đang mãn nguyện và Haug von Westerheim, ông già tuổi ngoại thất thập, chủ một đội tàu buôn, lái buôn chính trị, thân Anh và là một gã hóm hỉnh, nâng cốc chúc mừng sức khỏe Brue.

“Tommy, anh bạn trẻ thân mến ạ, chúng tôi nghĩ rằng anh đã đọc quá nhiều Oscar Wilde,” ông nói oang oang bằng tiếng Anh, cốc sâm banh trong tay, ông đứng trước bức chân dung Nữ hoàng thời trẻ. “Chắc anh đã nghe nói về Dorian Gray rồi chứ? Chúng tôi nghĩ anh đã nghe. Tôi nghĩ anh đã bắt chước cuốn sách về Dorian Gray. Chúng tôi nghĩ trong mấy hầm nhà băng của anh có bức chân dung gớm guốc của Tommy ở tuổi thực của ông ấy hôm nay. Trong khi đó, không giống như Nữ hoàng kính mến của anh, anh không chịu già đi một cách khoan dung, mà ngồi mỉm cười với chúng tôi như một cậu bé quỷ sứ hai mươi lăm tuổi, đúng như anh mỉm cười với chúng tôi khi anh vừa từ Vienna đến đây bảy năm về trước, để tước khỏi chúng tôi sự giàu có mà phải khó nhọc chúng tôi mới kiếm được.”

Tiếng vỗ tay vẫn tiếp tục khi Westerheim nắm bàn tay thanh nhã của Mitzi, vợ Brue, và để tỏ ra ga lăng hơn nữa vì bà là người Vienna, ông nâng lên hôn, và nói với cử tọa rằng vẻ đẹp của bà, không giống như của Brue, quả thực là vĩnh cửu. Xúc động chân thành, Brue đứng lên khỏi ghế định nắm lấy bàn tay Westerheim để đáp lễ, nhưng ông già đang say sưa vì đắc thắng và cũng vì rượu, ôm lấy ông chặt cứng, và nói thầm bằng giọng khàn khàn vào tai ông: “Tommy, anh bạn trẻ... cái cuộc điều tra về một khách hàng nào đó của anh... sẽ được lo... trước hết chúng tôi hoãn lại vì lý do kỹ thuật... sau đó chúng tôi quẳng nó xuống sông Elbe... chúc mừng sinh nhật, Tommy, bạn tôi... anh là người bạn tốt...”

Kéo cặp kính nửa gọng lên, Brue xem kỹ lại một lần nữa những lời kết tội ông khách hàng của ông. Ông nghĩ một chủ nhà băng khác thì chắc lúc này đã gọi Westerheim và cảm ơn ông ta về những lời thì thầm vừa rồi, bằng cách đó bắt ông ta phải giữ lời. Nhưng Brue đã không làm thế. Ông không muốn làm cho ông già buồn vì một lời hứa vội vàng trong không khí cuồng nhiệt của bữa tiệc sinh nhật lần thứ sáu mươi của ông.

Cầm bút, ông viết mấy dòng chuyển cho Frau Ellenberger: Việc đầu tiên sáng thứ Hai, nhờ chị điện cho Ban Thư ký Ủy ban Đạo đức, hỏi xem đã định ngày chưa. Cám ơn! TB.

Xong, ông nghĩ. Bây giờ anh già đã có thể bình tĩnh lựa chọn xem nên xúc tiến phiên tòa hay dập nó đi.

Việc thứ hai trong số những việc cần làm buổi tối hôm đó là Marianne Điên, như Brue thường gọi bà ta, nhưng chỉ khi nói với Frau Ellenberger. Vợ góa còn sống sót của nhà buôn gỗ giàu có ở Hamburg, Marianne là bộ phim tâm lý truyền hình dài tập nhất của Brue Frères, người khách hàng đã biến tất cả những sáo ngữ của ngành ngân hàng tư nhân thành sự thật. Trong tập tối nay, bà ta vừa mới được cải đạo dưới tay một mục sư dòng Luther người Đan Mạch ba mươi tuổi và suýt nữa thì lên tiếng từ bỏ những tài sản trần thế của mình - chính xác hơn là một phần ba mươi dự trữ của ngân hàng - để ủng hộ cho một quỹ phi lợi nhuận bí mật dưới sự kiểm soát của mục sư.

Những kết quả của một cuộc điều tra riêng do Brue tiến hành theo sáng kiến của riêng ông đang nằm trước mặt ông và không có gì đáng phấn khởi. Tay mục sư kia gần đây bị kết tội lừa đảo nhưng được trắng án vì các nhân chứng không ra trình diện. Gã có con với nhiều phụ nữ. Nhưng làm thế nào để ông chủ nhà băng tội nghiệp Brue dám tiết lộ tin này cho vị khách hàng mê mụ kia mà không mất tài khoản của bà ta? Marianne Điên khó lòng chịu được tin dữ ngay cả ở những thời điểm tốt nhất, như ông đã nhiều lần phát hiện ra điều này. Ông phải lôi hết sức hấp dẫn của mình ra - trừ cái tối hậu ra, ông có thể cam đoan với các anh! - để thuyết phục bà ta đừng chuyển tài khoản của bà ta cho một thằng nhỏ dẻo mỏ nào đó ở Goldman Sachs. Đó là một thằng nhãi đáng mất cả gia tài và Marianne đã có lúc ngưỡng mộ nó, nhưng - lại một sự trớ trêu nữa! - hiện nó đang trong trại cai nghiện ở vùng đồi Taunus. Một chuyến đi bí mật đến Frankfurt có lẽ sẽ là giải pháp...

Brue ngoáy một mảnh giấy thứ hai cho Frau Ellenberger một mực trung thành với ông: Nhờ chị liên lạc với giám đốc trung tâm để xác định xem thằng bé có đang ở trong tình trạng thích hợp để tiếp khách đến thăm (là tôi!) không.

Tiếng rì rầm trong hệ thống điện thoại bên cạnh bàn làm việc làm ông mất tập trung, ông liếc nhanh dòng số nhận dạng. Nếu số điện thoại gọi đến đường dây nóng của ông không có trong danh bạ, ông sẽ nghe. Nhưng không phải, nên ông quay lại với bản dự thảo báo cáo sáu tháng của Frères, bản báo cáo lành mạnh nhưng thiếu sắc sảo. Ông tập trung vào nó chưa được bao lâu thì hệ thống điện thoại lại làm ông sao nhãng.

Đó là một lời nhắn mới hay là tiếng rì rầm lúc trước mà cách nào đó đã lén lút chui vào trong trí nhớ của ông? Vào lúc bảy giờ tối thứ Sáu như thế này? Đường dây mở? Chắc gọi nhầm số. Không thắng nổi tò mò, ông ấn nút nghe lại. Đầu tiên là một tiếng bíp điện tử, bị cắt ngang bởi giọng nhã nhặn của Frau Ellenberger hướng dẫn người gọi đến lúc đầu bằng tiếng Đức, sau bằng tiếng Anh, để lại lời nhắn hoặc gọi lại sau vào giờ làm việc.

Rồi đến một giọng phụ nữ Đức trẻ và trong như giọng lễ sinh.

• • •

Cái chủ yếu trong đời của một chủ nhà băng tư nhân không phải là tiền, như người ta thường nghĩ một cách hợp lý, Brue thích lên mặt phán như vậy sau một vài ly scotch với bạn bè thân tình. Nó không phải là thị trường giá lên, thị trường giá xuống, các quỹ đầu tư hay những thứ phát sinh từ đó. Nó là tình trạng bừa bãi. Nó là một âm thanh dai dẳng, thậm chí ông còn nói là một âm thanh thường trực, nếu được phép nói tục tằn một tí, là của cứt ném vào cái quạt như trong câu thành ngữ[4]. Vậy nếu anh không thích sống trong tình trạng bị vây hãm lâu dài, rất có khả năng ngành ngân hàng tư nhân không phải dành cho anh. Ông đã dùng những nhận xét ấy khá thành công trong lời diễn văn chuẩn bị trước để đáp lại ông già Westerheim.

Vốn là một kẻ kỳ cựu trong tình trạng bừa bãi đó, Brue trong nhiều năm đã tạo được hai cách phản ứng khác nhau cho thời điểm va chạm. Nếu đang trong cuộc họp hội đồng quản trị với mọi con mắt nhìn vào, ông sẽ đứng lên, thọc hai ngón tay cái vào cạp quần và dạo bước quanh phòng với vẻ điềm nhiên mẫu mực.

Nếu không ai để ý, ông có vẻ thiên về cách thứ hai, tức là chết trân tại chỗ nơi các tin tức đập vào ông, ngón tay trỏ bật bật môi dưới, đó chính là điều ông làm lúc này khi nghe lại lần thứ hai, rồi lần thứ ba, lời nhắn bắt đầu bằng một tiếng bíp.

“Xin chào. Tôi là Annabel Richter. Tôi là luật sư, tôi muốn nói chuyện riêng với ngài Tommy Brue ngay khi có thể nhân danh một thân chủ mà tôi đại diện.”

Đại diện nhưng không nêu tên, Brue thận trọng để ý lần thứ ba. Một giọng Đức miền Nam lanh lảnh của người có học, thiếu kiên nhẫn trước những quanh co luẩn quẩn.

“Thân chủ của tôi yêu cầu tôi chuyển lời cầu chúc tốt lành nhất đến một ông” - cô ta ngừng một chút như để đọc trong giấy - “đến ông Lipizzaner. Tôi nhắc lại. Tên là Lipizzaner. Giống như ngựa đó[5], vâng, ông Brue? Những con ngựa trắng nổi tiếng của Trường dạy cưỡi ngựa Tây Ban Nha ở Vienna, nơi trước đây có ngân hàng của ông? Tôi nghĩ ngân hàng của ông biết rất rõ các chú ngựa giống Lipizzaner.”

Giọng cô ta cất cao lên. Một lời nhắn có căn cứ thực tế về những con ngựa trắng trở thành một giọng lễ sinh đau khổ.

“Ông Brue, thân chủ của tôi có rất ít thời gian. Tất nhiên tôi không muốn nói thêm qua điện thoại. Cũng có thể ông biết địa vị của ông ấy rõ hơn tôi, điều này sẽ làm cho vấn đề được giải quyết nhanh hơn. Do đó tôi sẽ rất biết ơn nếu ông gọi lại cho tôi vào máy di động khi nhận được lời nhắn này, để chúng ta có thể bố trí một cuộc hẹn.”

Lẽ ra cô ta đã có thể dừng ở đây, nhưng không. Giọng ca lễ sinh tiếp tục cất lên sắc lạnh hơn:

“Nếu là đêm khuya thì cũng chấp nhận được, ông Brue ạ. Thậm chí rất khuya. Ngay bây giờ tôi nhìn thấy ánh đèn khi đi qua văn phòng ông. Có thể chính ông không làm việc lúc này, mà người khác đang làm. Nếu vậy, xin người đó vui lòng chuyển lời nhắn này đến ông Tommy Brue như một việc khẩn cấp, bởi vì không ai ngoài ông Tommy Brue có quyền hành động trong vụ này. Cám ơn đã dành thời gian.”

Và cám ơn đã dành thời gian, Frau Annabel Richter ạ, ông nghĩ thế khi đứng lên, ngón cái và ngón trỏ vẫn còn kẹp chặt môi dưới, ông tiến đến cửa sổ như thể đó là lối thoát gần nhất.

Vâng, quả là ngân hàng chúng tôi biết các Lipizzaner quá rõ, nếu chữ ngân hàng của cô ám chỉ bản thân tôi và người thân tín của tôi, Frau Elli, và không phải ai khác. Ngân hàng của tôi sẽ trả số tiền tối đa để được thấy các Lipizzaner cuối cùng còn sống phi nước đại về chân trời, trở về Vienna nơi chúng xuất phát, và không bao giờ trở lại. Chắc cô cũng biết điều đó.

Một ý nghĩ đau đớn đến với ông. Hay có lẽ nó đã ở với ông bảy năm nay rồi, và chỉ bây giờ mới quyết định bước ra khỏi bóng tối. Thực ra thì bọn cô đang theo đuổi số tiền tối đa ấy thôi phải không, Frau Annabel Richter - cô và thân chủ thánh thiện thiếu thời giờ của cô?

Đây có tình cờ là một vụ tống tiền mà cô đang tiến hành không?

Và có phải cô, với giọng thanh như hát trong đội đồng ca nhà thờ, với vẻ mục đích nghề nghiệp cao quý của cô, đang thả một lời bóng gió bâng quơ cho tôi - cô và kẻ tòng phạm, xin lỗi, thân chủ, của cô - rằng những con ngựa Lipizzaner có cái đặc điểm kỳ lạ là sinh ra màu đen tuyền nhưng chỉ biến thành trắng theo tuổi tác - đó là cách chúng cho một loại tài khoản ngân hàng ngoại lai mượn tên, loại tài khoản được tạo hứng bởi Edward Amadeus Brue lỗi lạc, từng được phong tước OBE, người cha kính yêu quá cố của tôi, người mà về mọi phương diện khác tôi tiếp tục tôn kính như chính cây trụ đỡ cho tính liêm chính của ngân hàng, trong những ngày tuổi trẻ nông nổi cuối cùng của ông ở Vienna khi những khoản tiền bẩn từ Đế chế Tội ác đang sụp đổ chảy máu tới hàng xe tải thông qua Bức Màn sắt đang nhanh chóng điêu tàn?

• • •

Brue chậm rãi đi một vòng quanh phòng.

Nhưng vì lý do gì mà cha làm thế, cha thân yêu của con?

Tại sao, suốt cuộc đời mình cha đã kinh doanh dựa trên thanh danh của cha, và thanh danh của ông bà tổ tiên ta, đã sống bằng nó trong cuộc sống riêng tư cũng như cuộc sống ngoài xã hội theo đúng truyền thống thận trọng, khôn ngoan và giữ chữ tín cao nhất của người Scotland: sao lại đi liều tất cả vì lợi ích của một nhúm những kẻ lừa đảo và đầu cơ chính trị phía Đông, những kẻ mà thành tích là cướp đoạt tài sản của đất nước chúng vào thời điểm đất nước cần đến nhất?

Tại sao cha lại mở toang cửa ngân hàng này cho chúng - ngân hàng thân thiết của cha, cái quý giá nhất đối với cha? Tại sao cha lại hiến nơi ẩn náu an toàn cho những đồ chúng ăn cướp được với những điều khoản bí mật và bảo vệ chưa từng có?

Tại sao cha nới rộng mọi điều lệ và tiêu chuẩn đến điểm nguy kịch và xa hơn nữa, trong một cố gắng liều lĩnh và tuyệt vọng, như Brue đã nhận thấy ngay từ thời đó, để tự gầy dựng thành một chủ ngân hàng Vienna được ưa thích hơn cả cho một lũ những tên găng-xtơ Nga?

Thôi được, cha ghét cộng sản và cộng sản lúc đó đang trên giường hấp hối. Cha không thể đợi đến đám ma của nó. Nhưng bọn lừa đảo mà cha đã đối xử quá tử tế ấy chính là một phần của chế độ đó!

Không cần tên đâu, các đồng chí! Chỉ cần đưa chúng tôi số của cải của các ông trong năm năm, rồi chúng tôi sẽ cho ông một con số! Còn lần sau nếu các ông đến gặp chúng tôi, những Lipizzaner của các ông sẽ là những khoản đầu tư trắng trẻo phổng phao và chạy khỏe! Chúng tôi làm đúng y như người Thụy Sĩ, nhưng chúng tôi là người Anh nên chúng tôi làm việc đó giỏi hơn!

Mỗi tội là chúng ta không làm giỏi hơn, Brue buồn rầu nghĩ, hai tay chắp sau lưng, khi ông dừng lại chăm chú nhìn ra ngoài cửa sổ.

Chúng ta không làm giỏi hơn, bởi vì những người vĩ đại mất trí lúc về già rồi cũng chết; bởi vì tiền đã chuyển chỗ và các nhà băng cũng vậy; và bởi những kẻ lạ gọi là người điều chỉnh xuất hiện và quá khứ biến mất. Trừ phi nó chưa từng thực sự biến mất, phải không? Một vài lời bằng giọng lễ sinh, thế là tất cả lại phi nước đại về nhà.

• • •

Mười lăm mét bên dưới ông đoàn kỵ binh áo giáp của thành phố giàu nhất châu Âu gầm rú lao về nhà để ôm hôn con, ăn uống, xem ti vi, làm tình và đi ngủ. Trên hồ, những chiếc thuyền buồm nhỏ lướt qua hoàng hôn đỏ thẫm.

Cô ta ở ngoài kia, ông nghĩ. Cô ta nhìn thấy đèn phòng mình còn sáng.

Cô ta đang ở ngoài kia tính toán ăn chia với người gọi là thân chủ của mình trong khi chúng bất đồng về việc sẽ bóp tôi bao nhiêu về tội đã không thổi còi những tài khoản Lipizzaner.

Cũng có thể ông biết địa vị của ông ấy rõ hơn tôi.

Ấy, cũng có thể là tôi không biết rõ, Frau Annabel Richter ạ. Và nói thẳng ra thì tôi không muốn biết, mặc dầu trông có vẻ như tôi hẳn phải biết.

Và vì cô không nói thêm với tôi lời nào về thân chủ của cô qua điện thoại - một kiểu kiệm lời mà tôi hoan nghênh đấy - và vì tôi không có khả năng ngoại cảm do đó khó lòng nhận ra hắn trong số nửa tá Lipizzaner còn sống sót - giả sử có còn mống nào - chưa bị bắn chết, bị tù hoặc đơn giản là quên mất trong cơn say túy lúy mình đã cất kỹ mấy triệu lẻ đó vào chỗ chết tiệt nào, tôi không có lựa chọn nào khác, theo truyền thống tốt nhất của nghề tống tiền, là đồng ý với yêu cầu của cô.

Ông bấm số của cô ta.

“Richter.”

“Tôi là Tommy Brue của ngân hàng Brue đây. Chào cô, Frau Richter.”

“Chào ông, ông Brue. Xin ông vui lòng cho tôi nói chuyện với ông càng sớm càng tốt ngay khi thuận tiện.”

Như bây giờ chẳng hạn. Ít du dương hơn một chút, nhiều sắc lạnh hơn một chút, so với khi cô ta yêu cầu ông chú ý.

• • •

Khách sạn Atlantic nằm cách ngân hàng mười phút đi bộ, dọc theo một con đường nhỏ rải sỏi đông người qua lại ven hồ. Bên cạnh nó, một con đường nhỏ khác lạo xạo xì xì theo tiếng chửi rủa của những tay đi xe đạp về nhà. Một cơn gió lạnh nổi lên, bầu trời chuyển sang màu xanh đen. Những hạt mưa lê thê bắt đầu rơi. Ở Hamburg người ta gọi đấy là những búi chỉ. Bảy năm trước khi Brue mới đến thành phố này, mỗi khi đi xuyên qua đám đông ông thường bị chậm lại vì tính khiêm nhường từ tốn của người Anh còn sót lại trong ông. Nhưng tối nay ông dứt khoát vạch đường đi cho mình, sẵn sàng dùng khuỷu tay gạt mấy cái dù lấn lối.

Tại cửa vào khách sạn, một người gác cửa áo choàng đỏ nhấc mũ chào ông. Trong tiền sảnh, Herr Schwarz, nhân viên hành lý tới bên ông, dẫn ông đến bên chiếc bàn mà Brue đặt riêng để tiếp các khách hàng muốn bàn chuyện công việc ở bên ngoài ngân hàng. Nó ở góc xa nhất giữa một cột đá cẩm thạch và một bức sơn dầu vẽ những con tàu của Liên hiệp Hansa, dưới cái nhìn cau có của Kaiser Wilhelm đệ nhị vẽ trên gạch lát xanh màu nước biển.

“Tôi đang chờ một bà mà tôi chưa có hân hạnh được biết từ trước, Peter ạ,” Brue giãi bày, với một nụ cười đồng lõa kiểu đàn ông với nhau. “Một bà tên Frau Richter. Tôi ngờ rằng bà ấy còn trẻ. Xin anh vui lòng lưu ý cho rằng bà ấy còn đẹp nữa.”

“Tôi xin hết sức cố gắng,” Herr Schwarz trang nghiêm hứa, anh ta giàu thêm hai mươi euro.

Bỗng đâu Brue nhớ lại một cuộc nói chuyện đau đớn giữa ông với đứa con gái, Georgie, khi nó mới chín tuổi. Ông đang cố gắng giải thích rằng má và ba vẫn còn thương nhau, nhưng sắp ra sống riêng. Sống riêng mà vẫn thương yêu nhau như thế thì tốt hơn là sống chung mà cãi nhau, ông bảo nó thế do miễn cưỡng theo lời khuyên của một bác sĩ tâm thần. Và hai ngôi nhà hạnh phúc thì tốt hơn là một ngôi nhà không hạnh phúc. Và Georgie sẽ được gặp má và ba bao lần tùy nó muốn, chỉ có điều không cùng gặp một lúc như trước. Nhưng Georgie chăm chú vào con búp bê mới của nó hơn.

“Nếu ba chỉ còn một si-linh duy nhất trên đời này, ba sẽ làm gì với nó?” nó hỏi, đăm chiêu gãi bụng con búp bê.

“Đầu tư, chứ còn sao nữa, con yêu. Còn con, con sẽ làm gì?

“Cho một ai đó,” nó trả lời.

Hoang mang vì bản thân hơn là vì Georgie, Brue cố vắt óc nghĩ xem tại sao đúng lúc này ông lại bị dằn vặt vì câu chuyện đó. Chắc là tại sự giống nhau giữa hai giọng, ông nghĩ, mắt vẫn nhìn mấy cánh cửa xoay. Có phải cô ta đã bị giăng bẫy không? Có phải “thân chủ” của cô ta, nếu cô ta đưa hắn đến, cũng bị bẫy? Được, nếu vậy thì chúng bất hạnh rồi.

Ông nhớ lại lần cuối ông gặp một kẻ tống tiền: một khách sạn khác, một người đàn bà khác, người Anh, sống ở Vienna. Bị thuyết phục bởi một khách hàng của Frères, người này không chịu giao phó những vấn đề của mình cho ai khác, ông hẹn uống trà với bà ta trong một gian riêng biệt của Sacher. Đó là một quý bà đạo mạo, một bà góa mặc đồ tang. Con gái bà ta tên Sophie.

“Con bé Sophie này, nó là đứa ngoan nhất của tôi đấy, nên đương nhiên tôi thấy xấu hổ,” bà ta nói lời giải thích bên dưới vành chiếc mũ nan đen. “Chỉ có điều là nó định đi gặp báo chí, ông biết không. Tôi can nó, nhưng nó không nghe, nó còn trẻ người non dạ. Bạn của ông hơi thô lỗ, không phải tất cả những người ấy đều dễ chịu. Vâng, chẳng ai muốn đọc thấy người ta viết về mình, có phải không ạ? Không, không phải trên báo. Không đâu, khi người ta là giám đốc điều hành một công ty cổ phần lớn, như thế phương hại lắm.”

Nhưng Brue trước đó đã xin ý kiến của cảnh sát trưởng Vienna, tình cờ ông ta lại là một khách hàng của nhà băng. Theo lời khuyên của cảnh sát trưởng, ông ngoan ngoãn bằng lòng một khoản tiền đấm mõm kếch sù, trong khi những thám tử Vienna mặc thường phục ghi âm cuộc nói chuyện từ một cái bàn bên cạnh.

Thế nhưng lần này ông không có một ông cảnh sát trưởng nào về phe mình. Mục tiêu nhắm tới không phải một khách hàng nào cả, mà là chính ông.

• • •

Trong đại sảnh của Atlantic, cũng như ngoài đường phố, đang là giờ cao điểm. Từ chỗ ngồi thuận lợi Brue quan sát trong thế tưởng như thoải mái những vị khách đến và đi. Một số người mặc áo khoác quàng khăn lông thú, một số vận đồng phục đen của đám viên chức hiện đại, số khác mặc những chiếc quần jean rách thủng của đám triệu phú muốn ra vẻ dân lang thang.

Một đám đàn ông đứng tuổi áo vét tông dạ tiệc và phụ nữ áo dạ hội lóng lánh kim sa từ hành lang bên trong lũ lượt hiện ra, đi đầu là một cậu bồi đẩy chiếc xe chở đầy những bó hoa bọc giấy bóng kính. Có kẻ già và giàu nào đó đang tổ chức lễ sinh nhật, Brue nghĩ, và thoáng chốc tự hỏi liệu có phải là một trong các khách hàng của ông không, và liệu Frau Elli có nhớ gửi một chai rượu đến mừng không? Có lẽ không già hơn mình, ông nghĩ.

Người ta có thực bụng nghĩ ông già không? Có lẽ có. Người vợ đầu của ông, Sue, thường than thở rằng ông sinh ra đã già rồi. Ôi sáu mươi tuổi thì vẫn luôn luôn còn trong hợp đồng, nếu ta có may mắn sống đến đó. Georgie đã có lần nói gì với ông nhỉ, khi nó mới bắt đầu theo đạo Phật? “Nhân của diệt là sinh.”

Ông liếc nhìn chiếc đồng hồ vàng đeo tay, một món quà của Edward Amadeus vào dịp sinh nhật hai mươi mốt của ông. Hai phút nữa là cô ta trễ hẹn, nhưng luật sư và chủ ngân hàng không bao giờ trễ hẹn; và, ông đoán, những kẻ tống tiền cũng thế.

Phía bên kia những cánh cửa xoay một cơn gió mạnh thổi giật trên đường phố. Chiếc áo choàng không tay của người gác cổng đội mũ chóp cao phần phật như một đôi cánh vô dụng khi anh ta hối hả chạy từ chiếc limousine này sang chiếc khác. Một cơn mưa giông dữ dội ập đến, người và xe cộ chìm trong màn mưa trắng đục. Từ trong đó, giống như người sống sót duy nhất trong một vụ tuyết lở, một dáng người nhỏ bé, thấp bè bè chắc nịch trong bộ quần áo quái gở và chiếc khăn quàng quấn quanh đầu và cổ bước ra. Trong một khoảnh khắc kinh hoàng Brue tưởng tượng cô ta vắt một đứa bé trên vai, cho đến khi ông nhận ra đó là một chiếc ba lô bằng vóc người.

Cô ta bước lên mấy bậc thang, đi qua cửa xoay, bước vào tiền sảnh và dừng lại. Cô ta đang chắn lối những người đi sau, nhưng nếu biết điều đó, cô ta cũng cóc cần. Cô ta gỡ cặp kính lấm tấm nước mưa ra, kéo một đầu chiếc khăn choàng nhét sâu trong áo trùm đầu ra, lau kính rồi đặt lại nó lên sống mũi. Herr Schwarz bước lại chào hỏi cô ta, nhưng cô ta đáp lại bằng cái gật đầu cộc lốc. Cả hai người nhìn về phía Brue. Herr Schwarz định hộ tống cô ta, nhưng cô ta lắc đầu. Đổi ba lô sang vai kia, cô ta đi giữa các dãy bàn đến thẳng bàn ông, mắt nhìn thẳng phía trước, không thèm để ý gì đến những người khách khác trên đường đi của mình.

Không trang điểm, áo kín từ cổ họng trở xuống, Brue nhận xét khi ông đứng lên để chào cô ta. Bên dưới bộ đồ luộm thuộm là một chuyển động uyển chuyển vững vàng của một thân thể nhỏ bé nhưng chắc khỏe. Hơi võ biền một chút, nhưng phụ nữ thời nay là vậy. Cặp kính tròn không gọng phản xạ ngọn đèn chùm. Không hề chóp mắt. Da mịn như da trẻ con. Kém mình khoảng ba mươi tuổi và thấp hơn 30 xăng ti mét, nhưng bọn tống tiền có đủ loại khổ người và ngày càng trẻ hơn. Một gương mặt lễ sinh đi với giọng lễ sinh. Không thấy kẻ đồng lõa. Quần jean xanh nước biển, ủng lính. Cái đẹp ngụy trang. Cứng rắn nhưng dễ tổn thương; khăng khăng che giấu cái nồng nàn nữ tính nhưng không thành công. Georgie.

“Frau Richter? Tuyệt. Tôi là Tommy Brue. Tôi có thể gọi gì cho cô?”

Bàn tay nhỏ nhắn đến nỗi theo bản năng vừa nắm lấy ông vội buông ngay ra.

“Ở đây họ có nước lọc không?” cô ta hỏi, ngước nhìn ông trừng trừng qua cặp kính.

“Tất nhiên.” Ông hất đầu ra hiệu cho một tay phục vụ.

“Cô đi bộ à?”

“Xe đạp. Không ga. Không chanh. Nguội.”

• • •

Cô ta ngồi đối diện ông, lưng thẳng chính giữa cái ngai bằng da của mình, khoanh tay, hai đầu gối khép lại và ba lô để dưới chân trong khi quan sát ông: trước hết là đôi bàn tay, rồi đến đồng hồ vàng và đôi giày, rồi đến mắt ông, nhưng chỉ rất nhanh. Hình như cô ta không thấy có gì làm cô ngạc nhiên. Còn Brue về phần mình cũng bắt cô chịu cái nhìn thẩm tra kỹ lưỡng như thế, có điều kín đáo hơn: cung cách từ tốn khi cô ta uống nước, khuỷu tay khép lại, cánh tay xếp ngang thân trên, cái vẻ tự tin của cô giữa cảnh giàu sang xung quanh mà cô tỏ ra rõ ràng chê trách; cái vẻ con nhà dòng dõi được che đậy; người có phong cách che giấu nhưng không giấu được hoàn toàn.

Cô ta đã bỏ chiếc khăn choàng quanh đầu để lộ ra chiếc mũ nồi bằng len. Một lọn tóc màu vàng nâu lang thang rủ xuống trán. Cô ta nhét nó vào lại dưới mũ, hớp một ngụm nước và tiếp tục dò xét ông. Đôi mắt cô ta, trông như to hơn sau cặp kính, màu xanh xám và điềm nhiên. Vàng óng như mật ong, ông nhớ lại: ông đã đọc điều đó ở đâu? Trong một trong hàng tá cuốn tiểu thuyết luôn có bên đầu giường Mitzi. Một cuốn sách nhỏ, tình cảm, bằng thứ chữ cố làm cho khó đọc.

Brue rút ra tấm danh thiếp từ cái túi trong lớp vải lót bằng lụa xanh của chiếc áo vét tông Randall của ông và, với một nụ cười xã giao, ông đưa nó qua bàn cho cô ta.

“Tại sao lại là Frères”[6] cô ta chất vấn. Ngón tay không đeo nhẫn, móng tay cắt ngắn như trẻ con.

“Đó là ý của cụ nội tôi.”

“Là người Pháp?”

“Tôi e là không phải. Cụ chỉ muốn là người Pháp thôi,” Brue nói nhanh câu trả lời có sẵn. “Cụ là người Scotland. Rất nhiều người Scotland cảm thấy gần gũi với người Pháp hơn người Anh.”

“Ông ấy có anh em không?”

“Không. Tôi cũng không có.”

Cô cúi xuống ba lô, mở khóa kéo hết ngăn này đến ngăn khác. Qua vai cô ta, Brue nhận thấy theo một trật tự nhanh: khăn giấy, một lọ nước rửa kính sát tròng, một điện thoại di động, chìa khóa, sổ ghi chép, thẻ tín dụng, một tập hồ sơ bìa da có đánh dấu và đánh số như hồ sơ của một luật sư. Không thấy máy ghi âm hay micro, nhưng với công nghệ ngày nay, làm sao anh dám chắc? Và dù sao, dưới bộ quần áo kiểu này, cô ta dám đeo một thắt lưng bom hai mươi lăm pound lắm.

Cô ta đưa cho ông tấm danh thiếp.

TU VIỆN PHƯƠNG BẮC, Brue đọc. Một Quỹ Từ thiện Cơ đốc để bảo vệ những người tha hương và không có tư cách công dân trong vùng Bắc Đức. Các văn phòng ở phía Đông thành phố. Số điện thoại, số fax, e-mail, số tài khoản Commerzbank. Sẽ có vài lời kín đáo với giám đốc Chi nhánh ngân hàng này ở thành phố vào thứ Hai, nếu cần, kiểm tra đánh giá mức độ tín nhiệm của cô ta. Annabel Richter, Tư vấn Pháp luật. Những lời của cha ông, quay về ám ảnh ông. Đừng bao giờ tin một người đàn bà đẹp, Tommy ạ. Họ thuộc tầng lớp tội phạm, loại nhất.

“Ông nên xem qua cả cái này nữa,” cô ta nói, ấn vào tay ông chứng minh thư.

“Ô kìa, tôi đâu cần làm thế?” ông phản đối, mặc dầu chính ý nghĩ ấy vừa thoáng qua óc ông.

“Có thể tôi không phải là người mà tôi tự nhận.”

“Thật ư? Vậy cô có thể là ai khác nữa?”

“Một số thân chủ của tôi gặp những người đến tìm họ tự xưng là luật sư nhưng thật ra không phải.”

“Thật ghê gớm. Lạy Chúa. Tôi thật mong sao chuyện đó đừng bao giờ xảy ra với tôi. Vâng, tất nhiên, chuyện đó có thể xảy ra chứ? Và tôi không thể nào biết. Đáng sợ thật,” ông tuyên bố mà làm ra vẻ khinh suất, nhưng nếu ông chờ đợi cô ta hùa theo ông, ông đã thất vọng.

Ảnh cô thể hiện cô với mái tóc xõa, cặp kính cũ hơn và vẫn khuôn mặt ấy nhưng không có cái nhìn trừng trừng. Annabel Richter sinh tại Freiburg im Breisgau năm 1977, vậy là cô còn trẻ so với một luật sư Đức, nếu đúng cô là luật sư. Cô ta ngồi phịch ra ghế giống như một võ sĩ quyền anh giải lao giữa hai hiệp đấu, trong khi tiếp tục theo dõi ông qua cặp kính bà già cùng kiểu với cơ thể bé nhỏ cứng nhắc, quần áo độn to phình và cài nút kín mít.

“Có nghe về chúng tôi không?” cô ta hỏi.

“Sao cơ?”

“Tu viện Phương Bắc. Ông đã nghe về công việc của chúng tôi chưa? Đã bao giờ từ đó tới tai ông chưa?”

“Tôi e là chưa.”

Chậm rãi lắc đầu, cô ta liếc nhìn quanh hành lang vẻ không tin. Nhìn những cặp vợ chồng già ăn mặc chải chuốt. Nhìn những người giàu trẻ tuổi ồn ào ở quầy bar. Nhìn người đánh dương cầm đang chơi những bản nhạc tình du dương mà chẳng ai nghe.

• • •

“Và tổ chức từ thiện của cô do ai tài trợ?” Brue hỏi bằng giọng thực tế nhất của ông.

Cô ta nhún vai. “Một vài nhà thờ. Tiểu bang Hamburg khi nó cảm thấy đức hạnh. Chúng tôi cũng xoay xở được.”

“Và cô đã kinh doanh được bao lâu rồi - ý tôi là tổ chức của cô ấy?”

“Chúng tôi không kinh doanh. Chúng tôi là những người thiện nguyện. Năm năm.”

“Còn riêng cô?”

“Hai năm. Cỡ đó.”

“Toàn thời gian à? Cô không hành nghề gì khác? Có nghĩa là, cô đang làm đêm ngoài giờ? Cô đang làm chút việc tống tiền không được phép?”

Cô ta phát chán về các câu hỏi của ông.

“Tôi có một khách hàng, ông Brue ạ. Chính thức thì anh ta được Tu viện Phương Bắc đại diện. Tuy nhiên, không lâu trước đây anh ta giao cho tôi làm luật sư riêng của mình trong mọi vấn đề liên quan đến ngân hàng ông, và chấp thuận để tôi tiếp xúc với ông. Đó là việc tôi đang làm bây giờ.”

“Chấp thuận?” Ông cố gượng một nụ cười rộng mở.

“Chỉ thị. Có gì khác nhau đâu? Như tôi đã nói rõ với ông qua điện thoại, tình trạng của thân chủ tôi ở Hamburg rất nhạy cảm. Có giới hạn trong những điều anh ta sẵn lòng nói với tôi, cũng như có giới hạn trong những gì tôi có thể nói với ông. Sau vài giờ làm việc bên anh ta, kết luận ngắn gọn tôi rút ra là mấy điều ít ỏi mà anh ta nói với tôi là thật. Không phải toàn bộ sự thật, mà có lẽ là một phần nhỏ của nó, được cắt xén sao cho tôi có thể tiếp nhận được, nhưng dù sao cũng là sự thật. Đó là điều chúng tôi phải tự đánh giá trong tổ chức của mình. Chúng tôi phải bằng lòng với những điều ít ỏi có được và phải làm việc với nó. Chúng tôi thà bị lừa còn hơn là hoài nghi tất cả. Chúng tôi là thế. Đó là cái mà chúng tôi ủng hộ,” cô ta bướng bỉnh nói thêm, để lại cho Brue một lời kết tội không nói ra rằng ông chỉ thích sự việc theo chiều ngược lại.

“Tôi nghe những gì cô nói,” ông cam đoan với cô. “Tôi tôn trọng nó.” Ông đánh trống lảng. Ông biết cách làm thế.

“Thân chủ của chúng tôi không phải là loại mà ông coi là khách hàng bình thường đâu, ông Brue ạ.”

“Thật ư? Tôi không hề chắc chắn tí nào rằng mình đã gặp khách hàng nào bình thường.” Một câu đùa mà cô một lần nữa không chịu tán thưởng.

“Thân chủ của chúng tôi về cơ bản giống cái mà Frantz Fanon gọi là những kẻ khốn khổ trên trái đất hơn. Ông biết quyển sách đó không?”

“Có nghe nói, nhưng tôi e là chưa đọc.”

“Họ thật sự là những người không tổ quốc. Họ thường xuyên chịu tổn thương. Họ sợ chúng tôi cũng như sợ cái thế giới mà họ mới bước vào và thế giới mà họ đã bỏ lại sau lưng.”

“Tôi hiểu.” Ông không hiểu.

“Thân chủ của tôi tin rằng, dù đúng hay sai, ông cũng là cứu tinh của anh ta, ông Brue ạ. Ông là lý do mà anh ta đến Hamburg. Nhờ có ông mà anh ta sẽ được ở lại Đức, có được địa vị pháp lý và được học tập. Không có ông anh ta sẽ phải trở lại địa ngục.”

Brue tính thốt lên một câu như “Lạy Chúa” hay “Thật đáng buồn quá nhỉ” nhưng, bắt gặp ánh mắt không khoan nhượng của cô ta, ông nghĩ là nên thôi.

“Anh ta tin rằng chỉ cần nhắc đến tên ông Lipizzaner và đưa cho ông con số tham chiếu - tham chiếu ai hay cái gì thì tôi không biết, và có lẽ anh ta cũng không biết - một câu thần chú, là tất cả các cánh cửa sẽ mở ra với anh ta.”

“Tôi xin phép hỏi anh ta ở đây đã bao lâu rồi?”

“Cứ cho là vài tuần lễ.”

“Và anh ta để một thời gian lâu như thế mới liên lạc với tôi, mặc dầu tôi là lý do mà anh ta đến, cứ cho là như thế? Tôi thấy hơi khó hiểu.”

“Anh ta đến đây trong tình trạng tiều tụy và kinh hoàng, không quen biết một ai. Đây là lần đầu anh ta đến phương Tây. Anh ta không biết một chữ tiếng Đức nào.”

Ông định nói “Tôi hiểu” lần nữa, nhưng rồi lại thôi.

“Ngoài ra, vì những lý do mà tôi chưa thể làm sáng tỏ, anh ta ghê tởm cái thực tế rằng việc tiếp cận ông thế này là cần thiết dù theo kiểu nào. Ít nhất suốt nửa thời gian ấy anh ta thà chịu bị từ chối và chết đói. Không may, với tình cảnh của anh ta hiện nay, ông là cơ may duy nhất của anh ta.”

• • •

Đến lượt Brue, nhưng nói gì? Khi con đang ở dưới hố, đừng đào thêm nữa, Tommy, hãy phòng thủ cho kỹ. Lại lời cha ông.

“Xin thứ lỗi, Frau Richter,” ông mở lời một cách tôn trọng, mặc dầu không hề thừa nhận ông đã làm điều gì để phải xin lỗi cô ta. “Chính xác ai hay cái gì đã cho thân chủ của cô cái thông tin - tôi muốn nói cái ấn tượng - rằng ngân hàng của tôi có thể làm cái phép lạ này cho anh ta?”

“Không chỉ là ngân hàng, ông Brue ạ. Mà là cá nhân ông.”

“Tôi sợ rằng tôi đang bị đánh đố, vì sao có thể thế được. Tôi đang hỏi cô về nguồn gốc cái thông tin ấy.”

“Có thể một luật sư nào đó đã nói với anh ta. Một luật sư khác trong số chúng tôi,” cô nói thêm với vẻ không tự tin.

Ông lựa chọn một cách tiếp cận khác. “Và, tôi xin hỏi, bằng tiếng nước nào, cô lấy được thông tin từ thân chủ của cô?”

“Về ông Lipizzaner ấy à?”

“Về tất cả những cái khác nữa. Chẳng hạn như tên tôi.”

Gương mặt trẻ trung của cô lạnh tanh. “Thân chủ của tôi sẽ nói rằng câu hỏi của ông là không quan trọng.”

“Tôi xin hỏi có mặt người trung gian nào không khi anh ta chỉ thị cho cô? Một phiên dịch lành nghề, chẳng hạn? Hay cô có khả năng giao tiếp trực tiếp với anh ta?”

Lọn tóc lại một lan nữa thoát ra khỏi mũ nồi, nhưng lần này cô ta túm lấy nó mà xoan trong khi quắc mắt giận dữ nhìn quanh phòng. “Tiếng Nga,” cô ta nói - và, một sự quan tâm về ông đột ngột ập đến: “Ông nói được tiếng Nga không?”

“Cũng được. Đúng ra là rất khá,” ông trả lời.

Sự thú nhận này dường như kích thích một kiểu e dè nữ tính trong cô, vì cô mỉm cười và, lần đầu tiên, nhìn thẳng vào ông.

“Ông học ở đâu?”

“Tôi? Ồ, Paris, tôi e là vậy. Hết sức suy đồi.”

“Paris! Sao lại Paris?”

“Cha tôi gửi tôi đến đó. Đó là điều mà ông cụ khăng khăng làm bằng được. Ba năm ở Sorbonne, với rất nhiều nhà thơ lưu vong để râu. Còn cô?”

Thời khắc giao lưu đã qua rồi. Cô ta lục tìm trong ba lô. “Anh ta cho tôi một thứ để tham chiếu,” cô nói. “Một con số đặc biệt có thể gợi cho ông Lipizzaner nhớ ra điều gì đó. Có thể cả ông nữa.”

Cô xé một tờ trong sổ ghi chép của cô ra đưa cho ông. Sáu chữ số, viết tay, ông nghĩ là do cô viết. Bắt đầu bằng 77, đó là cách ám chỉ Lipizzaner.

“Có khớp không?” cô hỏi, thách thức ông bằng cái nhìn chằm chằm không khoan nhượng.

“Cái gì khớp với cái gì?”

“Có phải con số tôi vừa đưa cho ông là số tham chiếu sử dụng ở ngân hàng Brue Frères? Hay là không?” Như là nói chuyện với một đứa trẻ cứng đầu.

Brue ngẫm nghĩ câu hỏi của cô ta - hay đúng hơn, nghĩ xem làm cách nào để tránh nó. “Thôi được, Frau Richter, cô đã quá nhấn mạnh việc bảo mật khách hàng, cũng như tôi vậy,” ông bắt đầu một cách thong thả. “Ngân hàng của tôi không loan báo rộng rãi nhân thân của khách hàng, hay là bản chât các giao dịch của họ. Tôi tin rằng cô tôn trọng điều đó. Chúng tôi không tiết lộ bất cứ điều gì pháp luật không buộc chúng tôi phải tiết lộ. Nếu cô nhắc đến từ ông Lipizzaner với tôi, tôi xin nghe. Nếu cô đưa một con số tham chiếu cho tôi, tôi sẽ tra cứu trong hồ sơ lưu của chúng tôi.” Ông dừng một chút để chờ đợi một biểu hiện thừa nhận, nhưng mặt cô kiên quyết phản đối. “Bản thân cô, tôi tin rằng trong sáng như ban ngày,” ông tiếp tục. “Tất nhiên là thế. Tuy nhiên cô sẽ ngạc nhiên khi có biết bao nhiêu là kẻ lừa đảo trên thế giới này.” Ông vẫy tay ra hiệu cho cậu bồi.

“Anh ta không phải một kẻ lừa đảo, ông Brue.”

“Tất nhiên là không, anh ta là thân chủ của cô.”

Họ đang đứng. Ai đứng lên trước, ông không biết. Có lẽ là cô ta. Ông không nghĩ cuộc gặp gỡ lại ngắn ngủi thế này, mặc dầu trong ông xáo trộn cả lên, ông vẫn thấy mình mong nó kéo dài hơn. “Tôi sẽ gọi cho cô khi tôi nghiên cứu xong. Bằng cách nào?”

“Bao giờ?”

“Còn tùy. Nếu tôi thất bại thì chẳng cần thời gian gì nhiều.”

“Tối nay?

“Có thể.”

“Ông có về ngân hàng ngay bây giờ không?”

“Sao không? Nếu đó là hoàn cảnh đáng thương, như cô gợi ý, thì phải làm hết sức mình có thể. Rõ ràng rồi. Tất cả chúng ta đều thế.”

“Anh ấy đang chết đuối. Tất cả những gì ông cần làm là chìa tay ra.”

“Ồ, được, nhưng tôi sợ đó là một tiếng kêu mà tôi nghe khá thường xuyên trong nghề của tôi.”

Giọng nói của ông làm bật lên nỗi giận dữ trong cô. “Anh ấy tin tưởng ông,” cô nói.

“Làm sao anh ta có thể, khi mà chúng tôi chưa từng gặp nhau?”

“Thôi được, anh ấy không tin ông. Nhưng cha anh ấy thì có. Và ông là tất cả những gì mà anh ấy có.”

“Ồ, thật là rối rắm. Cho cả hai chúng tôi, tôi chắc thế.”

Đeo ba lô lên vai, cô bước đi theo tiền sảnh ra đến cửa xoay. Bên kia cửa, người gác cổng đội mũ chóp cao đã đợi với chiếc xe đạp của cô. Mưa vẫn trút xuống ào ào. Cô lấy ra một chiếc mũ bảo hiểm từ một hộp gỗ gắn bên ghi đông, đội lên đầu, cài lại, rồi mặc quần đi mưa vào. Không một cái liếc nhìn hay vẫy chào, cô đi.

• • •

Căn phòng bọc thép của Frères nằm ở tầng hầm lửng phía sau tòa nhà. Kích thước của nó là dài ba mét rưỡi rộng hai mét rưỡi, và người ta đã trêu chọc ác ý kiến trúc sư là nó có thể chứa được bao nhiêu chủ nợ mất khả năng thanh toán, vì vậy gian nhà được đặt biệt hiệu là hầm giam bí mật. Với tiến bộ của công nghệ hiện đại, các nhà băng tư nhân khác có thể đã vứt bỏ hoàn toàn các kho lưu trữ hồ sơ và ngay cả các căn phòng kiên cố, nhưng nhà băng Frères cõng cả lịch sử của nó trên lưng và đây là những gì còn lại của cái lịch sử ấy, được chở bằng những xe tải an toàn từ Vienna sang để yên nghỉ trong cái lăng bằng gạch sơn trắng được thông gió chống ẩm và canh giữ bởi những bảng điều khiển gồm bóng đèn và những con số cần đến một mã, một dấu vân tay và một đôi từ êm dịu. Công ty bảo hiểm đã thúc giục phải có thiết bị nhận dạng tròng đen, nhưng một cái gì đó trong Brue thấy ý tưởng thật ghê tởm.

Vào đến bên trong, ông lần mò đi vào một lối nhỏ chứa những hòm mốc meo đến một chiếc tủ bằng thép dựa vào bức tường ở cuối phòng. Nhập mã số, ông mở nó ra và rà qua các bìa cứng đến khi, đối chiếu với trang giấy xé ra từ sổ ghi chép của Annabel Richter, ông thấy tập hồ sơ mà ông cần tìm. Nó là một tập hồ sơ màu vàng cam đã nhạt được kẹp lại bằng một kẹp sắt có lò xo. Một tấm bảng trên gáy tập hồ sơ cho con số tham chiếu không có tên. Dưới ánh sáng vàng vọt của những đèn trần, ông lật đều các trang, không đọc mà chỉ lướt mắt qua. Mò mẫm lần nữa trong tủ, lần này ông lôi ra một hộp chứa những tấm thẻ quăn mép. Ông lướt ngón tay cái trên mép các thẻ tanh tách và rút ra tấm thẻ có cùng số tham chiếu như trong hồ sơ. Ông đọc:

KARPOV. Grigori Borisovich, Đại tá Hồng quân. 1982. Thành viên sáng lập.

Năm thu hoạch của mi, ông nghĩ. Chén rượu độc của ta. Chưa bao giờ nghe về một Karpov, nhưng ta chẳng thể nào nghe đến hay sao? Lipizzaner là chuồng ngựa riêng của mi.

“Tất cả mọi biến động trong tài khoản này và tất cả các lệnh của khách hàng phải được báo cáo ngay lập tức và trực tiếp cho EAB trước khi tiến hành bất cứ hoạt động nào. Edward Amadeus Brue đã ký,” ông đọc.

Báo cáo riêng cho cha. Bọn lừa đảo Nga là lĩnh vực hoạt động riêng của cha. Bọn lừa đảo cò con - các giám đốc đầu tư, môi giới bảo hiểm, đồng chủ sở hữu nhà băng - có thể ngồi nửa giờ trong phòng đợi để rồi đành chấp nhận gặp chánh thủ quỹ, nhưng những tên lừa đảo Nga này, theo lệnh riêng của cha, chạy thẳng đến EAB.

Không in. Không có con dấu cao su đóng bởi Frau Elli, thời đó là nữ thư ký riêng, trẻ, tận tụy và rất tín cẩn của cha, nhưng có chữ viết tay của cha bằng nét mực xanh thanh mảnh từ chiếc bút máy thường, kết thúc bằng chữ ký đầy đủ tên họ của cha, sợ rằng những người đọc được - nói vậy không phải là đã có kẻ nào đọc rồi, có Chúa chứng giám - tình cờ không biết rằng EAB chính là viết tắt của Edward Amadeus Brue, OBE, chủ ngân hàng suốt đời mình chưa bao giờ bẻ cong các quy tắc, cho đến tận cuối đời, khi ông bẻ gãy hết.

Khóa lại chiếc tủ, rồi căn phòng kiên cố, Brue kẹp hồ sơ dưới nách và trèo cái cầu thang thanh nhã lên căn phòng nơi trước đó hai giờ ngày nghỉ cuối tuần êm đềm của ông đã bị quấy đảo một cách dã man. Những mảnh vụn của Marianne Điên rải rác trên bàn làm việc của ông dường như đã là chuyện từ cả năm trước, những mối bận tâm về đạo đức của Sở Giao dịch Hối đoái Hamburg dường như chẳng còn liên quan.

Thế nhưng một lần nữa: Tại sao?

Cha không cần tiền, cha yêu quý của con, không ai trong chúng ta cần. Tất cả những gì mà cha cần là cha vẫn như trước: vị trưởng lão giàu có, đáng kính của giới ngân hàng Vienna, khẩu hiệu lành mạnh của cha.

Và một buổi tối khi con xông vào văn phòng của cha và yêu cầu Frau Ellenberger để cho cha con ta ngồi riêng với nhau - Fräulein[7], cô ấy lúc đó còn là một cô gái, một cô bé xinh đẹp vui tươi nữa - ý tứ khép cánh cửa sau lưng và rót cho cả hai cha con một cốc scotch to, con nói với cha rằng con đau nhói tận trong tim khi nghe người ta gọi chúng ta là Frères Mafia, vậy cha đã làm gì?

Cha cố nhoẻn nụ cười ông chủ ngân hàng của cha - vâng, một phiên bản đau lòng của nó, con thừa nhận như vậy - rồi cha vỗ lên vai con mà bảo rằng có những bí mật trên thế giới này mà ngay cả đứa con yêu quý nhất của người ta cũng tốt nhất là không nên biết.

Những lời của cha. Một sự phỉnh phờ. Ngay cả Fraulein Ellenberger cũng còn biết nhiều hơn con, nhưng cha đã bắt cô ấy thề giữ im lặng ngay từ khi bắt đầu học việc.

Và cha đã là người cuối cùng cười, phải không cha? Lúc đó cha đang đi dần vào cõi chết, nhưng đó lại là một bí mật nữa của cha mà con không được phép biết. Đúng vào lúc dường như bắt đầu cuộc đua suýt soát giữa Thần Chết ác nghiệt và chính quyền Vienna xem ai là kẻ tóm được cha trước, Nữ hoàng Anh quốc kính yêu của ông già Westerheim bước vào, như hiện ra giữa trời quang mây tạnh, đã quyết định, vì lý do gì không người phàm nào biết được, ra lệnh đưa cha vào tòa đại sứ Anh, tại đó với nghi thức long trọng xứng đáng, vị đại sứ trung thành của Nữ hoàng sẽ phong cha là hiệp sĩ đế chế Anh - OBE, một vinh dự mà sau này con được biết, mặc dù cha chưa bao giờ đích thân nói với con, rằng cha đã che giấu suốt đời.

Và trong lễ phong tước đó cha đã khóc.

Và con cũng khóc.

Và người vợ của cha, mẹ con có lẽ cũng khóc nếu người có mặt ở đấy, nhưng trong trường hợp của bà thì Thần Chết ác nghiệt đã thắng cuộc từ lâu.

Và đến khi cha về gặp lại mẹ tại Nhà băng Hạnh phúc trên trời, cùng với sự trở lại tính khôn ngoan thận trọng huyền thoại của cha mà cha đã thực hiện chỉ hai tháng sau đó, việc chuyển dến Hamburg trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết.

• • •

Thân chủ của chúng tôi không phải là loại mà ông coi là những khách hàng bình thường đâu, ông Brue ạ.

Chống cằm trên tay, Brue lật qua lật lại tập hồ sơ ít ỏi, nghèo thông tin này. Bảng chú dẫn đã bị sửa, các trang đã bị xé bỏ để bảo vệ nhân thân cho chủ tài khoản. Một báo cáo cuộc gặp - chỉ có bọn Lipizzaner mới có - ghi lại thời gian địa điểm các cuộc gặp giữa tay khách hàng xỏ lá và chủ nhà băng ba que, nhưng không ghi lại chủ đề.

Vốn của chủ tài khoản được đầu tư vào một quỹ quản trị hải ngoại ở Bahama, lĩnh vực hoạt động chính thức của bầy Lipizzaner.

Quỹ quản trị thuộc về một quỹ Liechtenstein nào đó.

Cổ phần của chủ tài khoản trong quỹ Liechtenstein nằm dưới dạng trái phiếu vô danh gửi tại Frères.

Những trái phiếu này sẽ chuyển cho người yêu cầu được chấp nhận khi xuất trình số tài khoản thích hợp, các giấy tờ chứng minh thỏa đáng, và những gì được xác định một cách nhẹ nhàng là “công cụ truy cập cần thiết”.

Để biết chi tiết hơn, xin xem hồ sơ cá nhân của chủ tài khoản, trừ phi anh không thể xem được vì nó đã biến thành tro bụi vào đúng cái ngày mà Edward Amadeus Brue, OBE, chính thức chuyển giao cho con trai ông chìa khóa của ngân hàng.

Tóm lại, không có chuyển khoản chính thức, và gần như không hề gì, không có thủ tục đúng: chỉ một “hê-lô-tôi-đây” từ người có may mắn làm chủ con số tham chiếu, một giấy phép lái xe và một cái gọi là công cụ, và một bản trái phiếu cấp thấp chưa khai được chuyền từ bàn tay bẩn thỉu này đến bàn tay bẩn thỉu khác - kịch bản cho giấc mơ rửa tiền của bạn.

• • •

“Trừ phi,” Brue lầm bầm to lên thành tiếng.

Chỉ trừ phi, trong trường hợp đại tá Grigori Borisovich Karpov, cựu sĩ quan Hồng quân, “người yêu cầu được chấp thuận” - nếu hóa ra ông ta là như thế - là một trong những người khốn khổ trên trái đất vốn ghét sự cần thiết phải tiếp cận ta, và nửa thời gian thà chịu chết đói. Ông ta còn đang chết đuối và tất cả những gì mình phải làm là chìa bàn tay ra. Ông ta tin rằng mình là một cứu tinh của ông ta, và nếu không có mình ông ta sẽ trở lại địa ngục.

Nhưng chính là ông đang nhớ lại bàn tay của Annabel Richter: không đeo nhẫn, móng tay cắt ngắn như trẻ con.

Lưu thông trên đường phố đã lắng. Thứ Sáu. Đêm đánh bài brít của Mitzi. Brue liếc nhìn đồng hồ tay. Trời ơi, thời gian đâu hết cả rồi thế này? Sao lại muộn đến thế? Nhưng cái gì muộn? Đôi khi cuộc chơi của họ tiếp tục đến sáng. Ông mong cho cô ấy thắng. Điều đó quan trọng với cô ấy. Không phải là tiền, mà là thắng cuộc. Con gái ông, Georgie, lại khác hẳn. Một người tốt bụng, nó là thế đấy. Không bao giờ vui trừ khi nó thua. Bịt mắt rồi vứt nó vào một gian phòng đầy đàn ông, và nếu trong số đó có một gã chắc chắn tương lai chẳng ra gì, bạn có thể đánh cá đến tận đôi ủng của bạn rằng nó sẽ đánh bạn với gã ta trong vài phút.

Và Annabel Richter của Tu viện Phương Bắc, cô là cái gì? Kẻ thắng hay người thua? Nếu cô đang cứu thế giới, có lẽ là cô thua. Nhưng cô sẽ tàn đời với tất cả súng ống đang khạc lửa ấy, điều đó là chắc chắn. Edward Amadeus chắc đã phải thích cô.

Không nghĩ ngợi tiếp nữa, Brue lại một lần nữa bấm số điện thoại di động của cô.

❀ ❀ ❀

[1] Beatrix Potter (1866 - 1943): nhà văn và họa sĩ minh họa sách thiếu nhi, nổi tiếng người Anh. “Xơ xác chỉ còn là mớ chỉ rối” (Worn to a ravelling) là một cụm trích từ cuốn The Tailor of Gloucester của bà.

[2] Tiền vàng của Anh xưa, có giá trị bằng 1 bảng.

[3] Nghĩa cũ: Nơi ẩn tu; nghĩa hiện nay: nơi tụ tập tôn giáo, yoga, nghiên cứu âm nhạc, xưởng vẽ, lò dạy võ...

[4] Cứt ném vào quạt (Shit hits the fan) là một thành ngữ chỉ tình trạng hỗn loạn, bừa bãi.

[5] Lipizzan hay lipizzaner là tên một giống ngựa.

[6] Frère: trong tiếng Pháp là anh, em trai.

[7] Tiếng Đức: tiểu thư, cô gái chưa chồng. (Frau: để gọi phụ nữ đã có chồng).

Vuốt cho phẳng chiếc phong bì, anh moi ra bức thư một trang đánh máy nhàu nát bằng thứ chữ Cyril. Nó có một địa chỉ, ngày tháng và tên người gửi - hay anh giả định thế - bằng chữ in đen lớn chạy trên đầu trang. Bên dưới nội dung không đọc đ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.