Kẻ Bị Truy Nã

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7

❊ ❊ ❊

“Frau Elli,” Brue bắt đầu một cách lả lơi.

Chuyến đi chơi Sylt và bữa tiệc trưa ở ngôi nhà nghỉ bên bờ biển của Bernhard đã kết thúc như có thể đoán trước, với những giao tiếp như thường lệ giữa đám người giàu già nua và đám trẻ buồn chán, với tôm hùm và sâm banh, và cuộc lội bộ cực nhọc qua những cồn cát, trong lúc đó Brue chốc chốc lại mở điện thoại di động xem có cuộc gọi nhỡ nào của Annabel Richter không, nhưng than ôi không có. Buổi tối thời tiết xấu làm sân bay phải đóng cửa buộc vợ chồng Brue phải ngủ lại trong nhà khách, khiến Hildergard, vợ Bernhard, cứ xin lỗi mãi một cách cường điệu rằng đã không thể sắp xếp một chỗ ngủ đàng hoàng cho Mitzi vừa ý bà. Một cuộc cãi cọ suýt nổ ra, nhưng Brue vốn khéo léo đã dập tắt được. Vào Chủ nhật, Brue chơi một trận golf quá dở, thua một ngàn euro và sau đó bị buộc phải ăn món gan chán chết và uống Obstler với một tay nam tước đứng tuổi chủ hãng tàu biển. Bây giờ thì cuối cùng sáng thứ Hai cũng đã đến, cuộc họp lúc chín giờ với các trưởng bộ phận đã kết thúc, và Brue đã mời Frau Ellenberger chịu khó nán lại một lát, đó là một bước đi mà ông đã để cả mấy ngày cuối tuần để trù tính.

“Tôi chỉ có chút việc nhỏ này hỏi chị, Frau Elli,” ông bắt đầu bằng một giọng Anh khá kịch.

“Ông Tommy, xin ông đừng coi chuyện gì là nhỏ cả, tôi xin nghe lệnh ông,” bà đáp lại theo cùng lối ấy.

Cái nghi thức ngớ ngẩn này, mà cha của Brue đã diễn suốt một phần tư thế kỷ ở Vienna, nay lại đến lượt con trai ông, được coi như để tôn vinh quá trình kinh doanh không hề bị đứt quãng của Freres.

“Nếu tôi nói với chị từ Karpov, Frau Elli ạ - Grigori Borisovich Karpov - và nếu tôi lại thêm một từ nữa, từ Lipizzaner - chị nghĩ chị sẽ phản ứng như thế nào?”

Trò đùa đã kết thúc từ lâu khi ông kết thúc câu hỏi của mình.

“Tôi nghĩ là tôi sẽ buồn, Herr Tommy,” bà nói bằng tiếng Đức.

“Chính xác thì buồn thế nào? Buồn cho Vienna? Cho căn hộ nhỏ của chị ở Operngasse mà mẹ chị rất yêu thích?”

“Cho cụ thân sinh tốt bụng của ông.”

“Và cho những việc ông cụ yêu cầu ở chị liên quan đến Lipizzaner, có thế chăng?”

“Các tài khoản Lipizzaner là không đúng,” bà nói, mắt cúp xuống.

Đấy là câu chuyện mà lẽ ra họ đã phải nói từ bảy năm về trước, nhưng Brue không muốn nhấc những tảng đá lên khi không cần thiết, chẳng hề, khi mà ông đã có những ý nghĩ nhức nhối về cái gì ông có thể thấy bên dưới.

“Nhưng tuy vậy chị đã tiếp tục - rất trung thành - quản lý nó,” ông gợi ý mềm mỏng.

“Tôi không quản lý nó, Herr Tommy. Tôi đã coi nhiệm vụ của tôi là biết càng ít về chuyện nó được quản lý như thế nào càng tốt. Đó là việc của người quản lý quỹ Liechtenstein. Đó là lĩnh vực ông ấy phụ trách, và, tôi cho là, cách ông ấy kiếm sống, dù chúng ta nghĩ gì về đạo đức của ông ấy cũng mặc. Tôi chỉ làm những gì tôi đã hứa với cụ thân sinh của ông là tôi sẽ làm.”

“Và có cả cái đó nữa, tôi tin, lấy đi các hồ sơ cá nhân của những người chủ tài khoản Lipizzaner quá khứ và hiện tại.”

“Vâng.”

“Đó là những gì chị đã làm trong vụ Karpov?”

“Vâng.”

“Và, do vậy, những giấy tờ trong hô sơ này” - ông giơ nó lên - “là tất cả giấy tờ còn lại cho chúng ta?”

“Vâng.”

“Trên đời. Trong hầm bí mật, trong hầm ở Glasgow, ở Hamburg đấy.”

“Phải,” bà nói mà nhấn mạnh, sau một thoáng ngần ngừ không thoát khỏi cặp mắt của Brue.

“Và ngoài giấy tờ này ra, chị có nhớ riêng gì về Karpov - từ những ngày ấy - từ những chuyện kỳ quặc cha tôi có thể đã nói hoặc không nói về ông ta?”

“Cụ thân sinh của ông đã xử sự với tài khoản Karpov một cách...”

“Một cách...?”

“Kính trọng, Herr Tommy,” bà đáp, đỏ mặt lên.

“Nhưng chắc chắn cha tôi đã cư xử một cách kính trọng với mọi khách hàng?”

“Cha của ông nói về Karpov như một người mà tội lỗi nên được tha thứ, thậm chí từ trước. Không phải lúc nào cụ cũng khoan hậu như thế đối với khách hàng của chúng ta đâu.”

“Cha tôi có nói tại sao nên tha thứ cho họ không?”

“Karpov là đặc biệt. Tất cả Lipizzaner đều đặc biệt nhưng Karpov rất đặc biệt.”

“Ông có nói tôi gì đáng được tha thứ từ trước không?”

“Không.”

“Ông có gợi ý có thể có - nói thế nào nhỉ - một đời sống tình cảm lộn xộn, những đứa con ngoài giá thú rơi vãi khắp nơi, vân vân?”

“Những chuyện như thế được ám chỉ nhiều.”

“Nhưng không nói cụ thể? Không nhắc chẳng hạn như đến đứa con trai yêu quý bất hợp pháp, một ngày nào đó từ ngoài đường bước vào tự xưng tên?”

“Nhiều việc bắt ngờ như thế vẫn được nhắc khi nói đến Lipizzaner. Tôi không thể nói tôi có nhớ được điều gì đặc biệt liên quan đến chúng. ”

“Còn Anatoly? Tại sao Anatoly lại là một cái tên liên quan tới tôi? Hay là tôi đã tình cờ nghe thấy ở đâu? Anatoly sẽ giải quyết?’ ”

“Tôi nghĩ rằng có một ông Anatoly xen vào,” Frau Elli miễn cưỡng trả lời.

“Xen vào...?”

“Giữa ông Edward và đại tá Karpov, khi Karpov không có đó, hoặc ông ta không muốn xuất hiện.”

“Với tư cách là luật sư của Karpov lúc ấy?”

“Với tư cách là” - bà ngập ngừng - “là người được ủy quyền của ông ta. Các giao dịch của Anatoly mở rộng ra ngoài phạm vi pháp lý đơn thuần.”

“Hay là phi pháp,” Brue gợi ý, nhưng thấy sự hóm hỉnh của mình không được tán thưỏng, ông đi một vòng quanh phòng. “Và không cần phiền chị mất công mở mấy phòng bí mật làm gì, chị có thể cho tôi biết, đôi nét khái quát, không phải để công bố, tài khoản của Karpov sở hữu bao nhiêu phần trăm tống số quỹ Liechtenstein?”

“Các chủ tài khoản Lipizzaner được hưởng những cổ phần tương xứng với đầu tư của họ.”

“Tôi cũng hiểu vậy.”

“Nếu người chủ tài khoản bất kỳ lúc nào quyết định tăng đầu tư của ông ta thì cổ phần cũng sẽ tăng theo.”

“Nghe có lý đấy.”

“Đại tá Karpov là một trong các Lipizzaner đầu tiên, và là người giàu nhất. Cha của ông gọi ông ta là thành viên sáng lập của chúng ta. Trong bốn năm đầu tư của ông ta tăng chín lần.”

“Do Karpov?”

“Do chuyển nhượng tín dụng vào tài khoản của ông ta. Bản thân Karpov thanh toán hay những người khác thanh toán nhân danh ông ta thì không rõ. Các phiếu tín dụng, một khi có biết hiệu lực, đều bị hủy.”

“Bởi chi?”

“Bởi cha của ông.”

“Có khi nào nộp trực tiếp bằng tiền mặt không? Giấy bạc đựng trong va li chẳng hạn? Theo lối cũ? Cái thời ở Vienna ấy?”

“Khi tôi ở đấy thì không thấy có.”

“Khi chị không có mặt thì sao?”

“Những khoản tiền mặt lâu lâu lại được ghi có vào tài khoản.”

“Bởi chính Karpov?”

“Tôi nghĩ thế.”

“Và bởi người thứ ba?”

“Có thể.”

“Chẳng hạn Anatoly?”

“Người ký không cần chính thức ghi rõ nhân thân của mình. Tiền mặt được đưa qua quầy, tài khoản người thụ hưởng được nếu rõ, và một giấy biên nhận được ghi theo bất cứ cái tên nào người nộp nếu ra.”

Thêm một vòng nữa trong khi Brue ngẫm nghĩ về việc Frau Elli chỉ dùng thế bị động.

“Và chị cho rằng đợt chuyển tiền cuối cùng đến tài khoản của Karpov là vào lúc nào?”

“Theo tôi hiểu, tín dụng cứ tiếp tục chuyển vào, thậm chí cho đến hôm nay.”

“Chính xác là ngày hôm nay - hay chỉ là đến một ngày gần đấy?”

“Tôi không có nhiệm vụ biết điều đó, Herr Tommy.”

Và cũng không có thời gian mà biết, Brue nghĩ. “Và đến lúc chúng ta rời Vienna, giá trị của quỹ Liechtenstein đã lên đến bao nhiêu rồi, gần đúng thôi, trước khi các cổ đông của nó nhận cổ tức, dĩ nhiên.”

“Đến khi chúng ta rời Vienna thì chỉ còn độc nhất một cổ đông thôi, Herr Tommy. Một mình đại tá Karpov. Những người khác đều bị bật ra ngoài.”

“Thật ư? Chuyện đó xảy ra như thế nào?”

“Điều này tôi không được biết, Herr Tommy. Theo tôi hiểu, những cổ đông khác của Lipizzaner hoặc bị Karpov mua lại, hoặc biến mất theo những cách tự nhiên.”

“Hay phi tự nhiên?”

“Đó là tất cả những gì tôi có thể nói, Herr Tommy.”

“Cho tôi con số gần đúng. Con số mà chị bất chợt nghĩ đến,” ông giục.

“Tôi không thể nói thay cho ông quản lý quỹ Liechtenstein của chúng ta, Herr Tommy. Đó không phải là một việc thuộc thẩm quyền của tôi.”

“Một Frau Richter nào đó đã gọi cho tôi, chị thấy đấy,” Brue giải thích bằng cái giọng của một gã đang thú nhận. “Một luật sư. Tôi hy vọng sáng nay chị đã xem qua lời nhắn của cô ta, khi chị đã lướt qua những gì để lại sau hai ngày nghỉ cuối tuần.”

“Quả là tôi đã đọc rồi, Herr Tommy.”

“Cô ta có mấy câu để hỏi tôi liên quan đến... một khách hàng nào đó của cô ta, và của chúng ta, cứ cho là như thế. Những câu hỏi cấp bách.”

“Tôi hiểu vậy, Herr Tommy.”

Ông đã quyết định. Được. Bà ấy đang khó tính. Bà ấy có tuổi rồi. Và liên quan đến các Lipizzaner thì bà ấy luôn luôn khó khăn. Nhưng ông sẽ kéo bà ấy về làm đồng minh, kể hết mọi chuyện với bà ấy, thuyết phục bà ấy. Nếu ông không kéo Frau Elli vào vòng tin cẩn của ông, thì còn ai trên đời này nữa?

“Frau Elli.”

“Herr Tommy.”

“Tôi nghĩ sẽ rất tuyệt nếu giữa chị và tôi có một cuộc nói chuyện thân tình về... ờ, chuyện vãn thôi và...”

Ông mỉm cười và im bặt, chờ cho bà nhập cuộc với những câu trích dẫn Lewis Carroll ưa thích, nhưng vô hiệu.

“Vậy điều mà tôi đề nghị là,” ông tiếp tục, giọng như một người vừa có một ý tưởng hay ho, “một bình lớn cà phê Vienna ưa thích của chị, với ít bánh bích quy lễ Phục sinh do mẹ chị làm, và hai chiếc cốc. Và khi chị đã sẵn sàng, chị nói tổng đài là tôi đang dự hội nghị và chị cũng thế.”

Nhưng cuộc nói chuyện tay đôi mà Brue đề nghị đã không diễn ra đúng vậy. Frau Ellenberger quả đã quay lại mang theo cà phê - tuy rằng việc chuẩn bị cà phê có lâu hơn so với một người đàn ông tao nhã có thể mong đợi - và bà, như luôn thế, vẫn là một con người xã giao. Khi cần mỉm cười, bà mỉm cười. Bánh bích quy Phục sinh của mẹ bà thì không ai sánh nổi. Nhưng khi Brue muốn kéo bà đi xa hơn vào câu chuyện về đại tá Karpov, bà đứng lên nhìn chăm chăm phía trước như một đứa trẻ trong đội đồng ca nhà trường, chờ một tuyên bố chính thức.

“Herr Brue, tôi lấy làm tiếc thông báo với ông, tôi đã được khuyến cáo rằng các tài khoản Lipizzaner đã vượt ra ngoài các ranh giới pháp lý. Vì hồi ấy tôi chỉ giữ một vị trí thấp trong ngân hàng, và cũng vì những cam kết với cụ thân sinh quá cố của ông, tôi cũng được khuyến cáo rằng tôi không được phép thảo luận những vấn đề này với ông nhiều hơn nữa.”

“Tất nhiên, tất nhiên,” Brue nói với giọng vui vẻ nhẹ nhàng, tự hào vẫn giữ được phong độ khi chịu đựng một cú phản đòn như thế. “Tôi hiểu và nhất trí hoàn toàn, Frau Elli. Ngân hàng cám ơn chị.”

“Ông Foreman có gọi đến,” bà nói cạnh cửa, khi Brue hối hả theo sau để đỡ khay cà phê cho bà.

Tại sao bà nói chuyện mà lại quay lưng lại với ông? Tại sao gáy bà lại đỏ lên như thế?

“Lại gọi nữa ư? Để làm quái gì nhỉ?”

“Ông ấy muốn xác nhận lại bữa trưa với ông hôm nay.”

“Ông ấy đã xác nhận từ thứ Sáu rồi, vì Chúa!”

“Ông ấy muốn biết ông có yêu cầu gì về ăn kiêng không. La Scala chuyên về cá, quả thế.”

“Tôi biết nó chuyên về cá. Tôi ăn ở đó ít nhất mỗi tháng một lần. Tôi còn biết nó không mở cửa bữa trưa.”

“Có vẻ như ông Foreman đã có dàn xếp với ông quản lý. Và ông ấy đưa theo đối tác kinh doanh của ông ấy, ông Lantern.”

“Tia sáng của ông ấy[1],” Brue nói, thỏa mãn một cách chua cay với lời nói dí dỏm của mình. Nhưng bà vẫn cứ tránh ông như thể ông có cái nhìn độc ác, còn về phần mình Brue đang tự hỏi liệu ông kia có cách gì có thể thuyết phục Mario ông chủ La Scala mở tiệm vào trưa ngày thứ Hai, dầu tiệm ăn nhỏ bé như thế.

Frau Ellenberger cuối cùng đã chịu nhìn thẳng mặt ông.

“Ông Foreman đến với giấy ủy nhiệm đáng tin cậy, Herr Tommy,” bà nói với một điểm nhấn mà ông chưa hiểu ra. “Ông bảo tôi kiểm tra thông tin của ông ấy, và tôi đã làm. Ông Foreman được đích thân hãng luật sư tư vấn của ông ở London giới thiệu, và cả một ngân hàng lớn của thành phố nữa. Ông ấy đang bay từ London đến chỉ cho việc này.”

“Cùng với tia sáng của ông ấy?”

“Ông Lantern sẽ đến riêng từ Berlin, nơi tôi hiểu là trụ sở của ông ấy. Họ đề xuất một bữa ăn trưa để tìm hiểu, không bên nào phải có cam kết. Dự án của họ là một dự án thực tế và sẽ cần nghiên cứu khả thi mở rộng.”

“Và tôi đã biết về nó bao lâu rồi?”

“Chính xác là một tuần, Herr Tommy. Chúng ta đã thảo luận nó vào giờ này thứ Hai tuần trước, cám ơn.”

Cảm ơn là thế quái nào? Brue tự hỏi. “Thế giới đã hóa điên hay tôi hóa điên, Frau Elli?”

“Đó là điều cụ thân sinh ông hay nói, Herr Tommy,” Frau Ellenberger nghiêm trang trả lời, và ý nghĩ của Brue lại quay về Annabel: thiếu nữ mạnh mẽ, đầy tự chủ trên chiếc xe đạp ấy, người không chịu phụ thuộc vào những cơ may xã hội để khẳng định mình.

• • •

Trước sự ngạc nhiên và nhẹ nhõm của ông, Foreman và Lantern hóa ra là một cặp khá thú vị. Khi họ đến La Scala, họ đã dụ được Mario chỉ cho họ vào cái bàn ưa thích của Brue bên của sổ và cho họ biết Brue thích loại vang trắng Etruscan nào để họ gọi sẵn cho ông. Và bây giờ nó đây, mở nút ngâm trong xô đá.

Sau đó Brue băn khoăn tự hỏi làm thế nào họ biết được La Scala là điểm ưa thích của ông, nhưng ông cho là vì phần lớn giới ngân hàng ở Hamburg này đều biết ông thường ăn ở đấy, nên họ cũng biết. Hay là Foreman đã thành công trong việc dụ được thông tin từ Frau Ellenberger, vì khả năng mê hoặc là thứ mà Foreman có thừa. Đôi khi ta gặp một người giống y như ta, và ta hợp với anh ta tức thì. Foreman cao bằng Brue, cùng tuổi Brue, và cái đầu có hình dáng giống hệt. Foreman mặc đồ tuýt, với cung cách quý tộc mà Brue ngưỡng mộ, với đôi mắt và nụ cười vui tươi làm hết giận khiến ta muốn cười theo. Và một giọng trầm, tin cậy đã học được cách chấp nhận mọi sự.

“Tommy Brue! Hoan hô, ngài, hoan hô, tất cả chúng ta,” ông ta thầm thì, đứng lên khi Brue bước qua cửa. “Xin giới thiệu Ian Lantern, đồng lõa của tôi. Chúng tôi gọi ông là Tommy được chứ? Tôi là một Edward khác, tôi e rằng giống tên người cha thân yêu của ông. Nhưng cứ gọi Ted cho gọn. Ông cụ thì không bao giờ cho phép gọi thế, đúng không ạ? Đối với ông cụ, chỉ là Edward và không gì khác.”

“Hay là khi không chắc thì thưa ngài” Brue phản công trước sự khoái trá chung của bọn họ.

Ông có lưu ý đặc biệt gì về việc nhắc đến cha ông đầu tiên không? Sâu thẳm trong tâm thức ông, nơi Brue chưa bao giờ mất thăng bằng - hay là chưa, cho đến trước tối thứ Sáu? Không phải là ông ý thức về nó. Edward Amadeus OBE đã là một huyền thoại thuở sinh thời, và bây giờ vẫn còn là một huyền thoại. Brue đã quá quen nghe thiên hạ nói về ông cụ như thể họ biết ông cụ vậy, và Brue coi đấy như một lời khen.

Ấn tượng đầu tiên của ông về Lantern cũng thiện cảm như vậy. Những người Anh trẻ tuổi ngày nay, theo kinh nghiệm ít ỏi của Brue về lớp này, không giống như Lantern. Anh ta nhỏ nhắn thanh mảnh, ăn mặc rất đẹp trong bộ com lê màu than vai hơi xuôi, và một chiếc khuy trên áo vét tông, đúng phong cách của những giám đốc điều hành đầy triển vọng, trước đấy Brue đã từng là một người như thế. Mái tóc màu nâu sáng cắt ngắn theo kiểu lính. Anh ta nói năng mềm mỏng ý tứ và có một vẻ lịch sự cuốn hút. Nhưng giống như Foreman, ở anh ta toát ra vẻ tự tin ngầm, nó cho bạn biết anh ta không phải loại người tầm thuồng. Anh ta cũng có lối nói mà Brue gọi là phi giai cấp, nó làm xúc động con người dân chủ trong ông.

“Ông thật tốt đã nghĩ đến chúng tôi, lan,” ông nói chân thành để bắc một nhịp cầu. “Nhà băng tư nhân chúng tôi dạo này cảm thấy hơi lạc lõng, khi mà những ông lớn bây giờ nghênh ngang vênh váo quá.”

“Tommy, được gặp ông là cả một đặc ấn, thật thế đấy,” Lantern nói, nắm bàn tay Brue một cái siết thể thao nữa như thể anh ta không chịu nổi khi phải buông ra. “Chúng tôi đã nghe nhiều chuyện tuyệt vòi về ông, đtíng không Ted? Không hề có một ý kiến bất đồng nào.”

“Không hề,” Foreman xác nhận một cách duyên dáng, và tất cả ngồi xuống, rồi Mario tíu tít chạy đến với một con cá vược to tướng mà ông ta thề là đã thịt để tỏ lòng tôn kính họ, và sau một hồi cười đùa, họ nhất trí đút lò với muối biển. Và sao không làm ít sò chấm nước xốt tỏi trong khi chờ đợi nhỉ.

Bữa nay chúng tôi mời, họ khăng khăng.

Dứt khoát không được, xin để nó cho tôi. Brue phản đối. Nhà băng bao giờ cũng trả tiền.

Nhưng họ đông hơn nên ông thành thiểu số. Ngoài ra, bữa ăn này còn là sáng kiến của họ. Nên Brue làm đúng cái điều mà ông biết người ta chờ ông làm, ông ngồi xuống và lấy tư thế thoải mái, biết quá rõ là các ông bạn Foreman và Lantern rất có khả năng lừa ông, như ông đã gặp nhiều trong giao dịch kinh doanh. Được, cứ để họ thử xem. Nếu họ là kẻ lợi dụng thì ít nhất họ cũng là những kẻ lợi dụng văn minh, và có trời biết không phải lúc nào cũng thế. Sau một kỳ nghỉ cuối tuần khủng khiếp và không một tín hiệu nhỏ từ phía Annabel, chưa kế đến cuộc đối thoại không thành đầy lo âu với Frau Elli, ông không còn tâm trí nào mà phân tích phê phán.

Và ông lại khoái dân Anh nữa chứ, mẹ kiếp. Là kẻ xa xứ, ông mang nặng một nỗi u hoài nhớ nơi chôn nhau cắt rốn. Tám năm buồn nản trong trường nội trú Scotland đã để lại trong ông một khoảng trống mà cuộc sống ở nước ngoài không thể lấp đầy: có lẽ điều ấy giải thích tại sao ngay từ đầu ông đã xuôi chèo mát mái với anh chàng Foreman này,

trong khi cái anh chàng Lantern nhỏ con kia cứ như một chú nhóc tinh quái liếc nhìn từ người nọ sang người kia với nụ cười nể trọng.

“Tôi e là Ian không động đến rượu,” Foreman xin lỗi hộ bạn khi Lantern không uống ly vang mà Mario rót cho. “Một trong những hạt giống mới. Không như mấy thằng ngốc già chúng ta. Nào uống vì mấy thằng ngốc già!”

Và uống cả vì Annabel Richter, người cứ phóng xe đạp qua đầu tôi khi cô cảm thấy thôi thúc.

• • •

Sau đó một lần nữa Brue phải vật lộn để nhớ lại họ đã nói những chuyện quái quỷ gì mà lâu đến thế trước khi bàn vào công việc. Họ có những bạn bè chung ở London, và có lẽ, nhưng không chắc chắn lắm, Brue có cảm giác rằng những bạn bè chung biết Foreman rõ hơn Foreman biết họ. Nhưng nếu thế Brue không quan tâm gì mấy về điều đó. Những người giao thiệp làm ăn làm thế thường xuyên. Chẳng có gì là độc ác trong chuyện này cả. Ông nói ông đã tưởng họ nên nói vào chuyện chính, nhưng dường như hai ông chủ tiệc không có gì phải vội vã. Và ông đã nói đủ về truyền thông liêm khiết và lành mạnh của Freres, và suy đoán đúng mực về việc thị trường tài chính Phố Wall có mạnh không, nào là với việc cho vay thế chấp dưới chuẩn - ơn trời, Freres đã bước thận trọng trên mặt trận ấy! - và liệu việc tăng giá hàng tiêu dùng có ảnh hưởng đến sự di chuyển về phía tài sản hữu hình trên thị trường toàn cầu hay không, rồi bong bóng châu Á có tự phồng lên nữa không hay nằm nguyên đó, và sự tăng vọt bên trong nền kinh tế Trung Quốc có nghĩa là chúng ta nên đi lùng nhân công giá rẻ ở nơi khác chăng? Những chủ đề mà Brue khá thông thạo do đọc các ấn phẩm tài chính, nhưng trên thực tế ông không có ý kiến gì về chúng cả: điều này cho phép ông tiếp tục nghĩ miên man về Annabel Richter mà không làm phiền những người đang tiếp chuyện ông.

Và đây lại còn những vấn đề Ả-rập nữa. Ai trong hai người này dẫn câu chuyện đến đó, ông không thể biết. Có phải là Ted, người nghĩ đúng rằng cha của Brue là nhà ngân hàng đầu tiên của Anh quốc đã tranh thủ được những nhà đầu tư Ả-rập bất bình sau cuộc hỗn loạn 1956 - hay là Ian? Không sao: ai trong hai người đó là người bày ra con thỏ thì người kia cũng săn nó. Và thật ra điều đó là đúng, Brue thừa nhận một cách thận trọng, không nhắc đến cái tên nào, rằng một vài thành viên thứ yếu của các gia đình Kuwait hay Xê-út có tài khoản trong Freres, mặc dầu chính Brue, là người vốn nặng chất Âu, chưa hề hoàn toàn chia sẻ nhiệt tình của cha ông với thị trường này.

“Nhưng không có oán giận gì chứ?” Foreman lo lắng hỏi. “Không có ác ý gì chứ?”

Trời ơi, không, Chúa tha tội, Brue trả lời. Mọi việc ngọt như chuối. Vài người đã chết, vài người đã biến đi, và vài người còn ở lại. Chỉ là những người Ả-rập giàu thích gửi tiền những ngân hàng nào người giàu Ả-rập thường gửi, và Freres ngày nay không thật sự là có khả năng chào mời những chiếc lọng vàng cỡ ấy.

Lúc này họ đã có vẻ thỏa mãn với câu trả lời của ông. Nhìn lại tưởng như câu hỏi này đã nằm sẵn trong danh sách điều tra của họ, và họ khéo léo luồn nó vào câu chuyện. Và có lẽ, một cách vô thức, chính do nhận ra điều này, ông đã xoay chuyển câu chuyện về bản thân họ, dù có hơi muộn.

“Vâng, thế bây giờ, ý các vị thế nào? Các vị đã biết rõ uy tín của chúng tôi, nếu không các vị đã chẳng cất công đến đây. Xin hỏi chúng tôi có thể giúp gì cho các vị? Hay như chúng tôi thường nói, chúng tôi có thể làm gì cho các vị mà các anh bự không thể?” - Vì không có cái nhà băng chó chết của tôi thì các anh đến đấy làm đếch gì.

Foreman ngừng ăn và dùng khăn ăn chấm nhẹ lên môi, trong khi ngó quanh sang các bàn trống để tìm câu trả lời, rồi nhìn Lantern, người này, ngược lại, dường như không nghe thấy gì. Với đôi bàn tay tỉa tót của một tay đưa ngựa, ông ta đang thực hiện cuộc giải phẫu con cá vược biển, da về một bên đĩa, xương về một bên, còn chính giữa là một kim tự tháp nho nhỏ làm bằng thịt cá.

“Ông có khó chịu không nếu tôi đề nghị tắt nó đi một lát?” Foreman hỏi khẽ. “Nó làm tôi nhức đầu muốn chết, thật đấy.”

Brue nhận ra Foreman muốn nói tới chiếc điện thoại di động mà ông để bên cạnh mình, sẵn sàng để lỡ biết đâu Annabel gọi đến. Sau vài giây hoang mang, ông tắt nó đi và bỏ vào túi áo, cùng lúc Foreman nghiêng về ông từ phía bên kia bàn.

“Nào, bây giờ thì cài khóa dây an toàn vào và nghe cho rõ đấy,” ông ta khuyên bằng giọng thì thầm bí mật. “Chúng tôi từ Cục Tình báo Anh, ô kê? Ma hiện hồn. Ian đây từ đại sứ quán ở Berlin. Tôi từ bên London. Tên tuổi của chúng tôi là hợp pháp. Nếu ông không thích chúng, xin mời kiểm tra tại tòa đại sứ của Ian. Lĩnh vực của tôi là nước Nga. Hai mươi tám năm rồi đấy. Chúa phù hộ cho tôi. Đó là lý do tại sao tôi biết người cha quá cố đáng kính của ông, Edward Amadeus. Hồi đó tên tôi là Findlay, đó là cái tên ông ấy biết. Có lẽ ông đã từng nghe ông già ông nhắc đến tôi một đôi lần?”

“Tôi e rằng không.”

“Tuyệt. Đó là Edward Amadeus của ông. Im lặng đến cùng. Nói toạc ra, tôi chính là người đã cho ông ấy cái chữ OBE.”

• • •

Brue có lẽ đã hy vọng một cách hợp lẽ rằng Foreman sẽ tạm dừng tại đấy một phút, cho ông cơ hội để hỏi thêm vài câu cho rõ, trong số hàng nghìn câu hỏi đang lồng lên trong đầu ông, nhưng Foreman không có ý định cho một sự nghỉ ngơi như thế. Đã chọc được một lỗ thủng trong hàng phòng thủ của Brue, ông ta đang dấn tới để củng cố thắng lợi của mình. Đúng, lúc này ông ta ngồi ngả người thoải mái trên ghế, đầu ngón tay chụm vào nhau, và một vẻ hiền lành, thậm chí nhu mì, toát ra trên nét mặt dãi dầu mưa nắng của ông ta, trông như hình ảnh một khách tiệc trưa đang trình ra những nhận xét của ông ta về tình trạng của vũ trụ. Giọng nói của ông ta, được điều chỉnh cho tầm nghe ngắn, cao và vui vẻ một cách bí ẩn. Có tiếng nhạc trong bếp - Brue nhận ra tiếng đàn luýt - và Foreman nói trên nền nhạc ấy. Ông ta đang vẽ ra bức tranh một thời xa xưa và đã chết như cha của Brue, nhưng, giọng như bóng ma của cha ông, đã không chịu nằm xuống: những năm cuối của Chiến tranh Lạnh, Tommy ạ, khi chàng hiệp sĩ Xô viết đang chết trong áo giáp và toàn bộ nước Nga bốc mùi thối rữa.

Ông ta không nói đến lòng trung thành lớn hơn của những người Nga đã làm gián điệp cho ông ta, những lý tưởng của họ hay những động cơ cao hơn của họ: Nếu muốn cám dỗ một quan chức Xô viết liều mạng cho chủ nghĩa tư bản thì, Tommy, tin tôi đi, ông phải hiến cho hắn tất cả những gì là chủ nghĩa tư bản: tiền và hàng đống tiền.

Và ông không chỉ cho hắn tiền không thôi, bởi vì chừng nào hắn còn đang làm việc cho ông thì hắn không thể tiêu số tiền đó, không thể khoe khoang nó, không thể tuồn cho con hắn hay cho vợ hắn hay cho tình nhân của hắn. Nếu hắn thử làm thế thì hắn là thằng ngu chết tiệt và đáng bị tóm, mà bình thường hắn vẫn là thằng ngu như thế. Vậy nên anh phải chào mời kẻ sẽ là gián điệp tương lai một gói trọn.

Thành phần quan trọng nhất trong cái gói này là một nhà băng phương Tây vững chãi và linh hoạt, và có một truyền thống dày dặn, vì ông cũng biết rõ như tôi, Tommy, là mấy gã người Nga của các ông vốn yêu các truyền thống. Thành phần nữa quan trọng không kém trong cái gói đó là một hệ thống kín để chuyển của cướp hắn khó nhọc mới kiếm được cho những người thừa kế và người được chỉ định của hắn mà không cần đến các thủ tục pháp lý bình thường: bản sao di chúc có chứng thực, thuế thừa kế, công bố đầy đủ bạch hóa toàn bộ tài sản và những câu hỏi không tránh khỏi về xuất xứ những khoản tiền ấy, tất cả những chuyện mà ông đã biết, Tommy.

“Câu chuyện con gà và quả trứng là thế đó,” ông ta tiếp tục bằng giọng dễ mến trong khi Brue cố tập trung tư tưởng. “Trong trường hợp này, quả trứng có trước. Một quả trứng vàng. Một đại tá Hồng quân tị nạn, hắn biết gió thổi chiều nào nên đã quyết định bán hạ giá tài sản của hắn trước cuộc Đại Sụp đổ. Hắn suy luận theo cách các ông lập luận. Giá cổ phiếu của Tập đoàn Xô viết đang tuột dốc, do đó hắn muốn bán cổ phần cổ phiếu của hắn trước khi chúng trở thành hàng ế. Và hắn có nhiều để bán. Hắn cũng có một số bạn bè thú vị để giới thiệu cho chúng tôi. Những gã đồng chí hướng với hắn, những kẻ sẵn sàng bóp cổ mẹ chúng vì mấy đồng ngoại tệ mạnh. Tôi sẽ gọi hắn là Vladimir, ô kê?” ông ta đề nghị.

Còn tôi thì gọi hắn là Grigori Borisovich Karpov, Brue nghĩ. Và Annabel cũng thế. Sau những cơn sốc đầu tiên, một sự bình tĩnh không ngờ đã chiếm lĩnh tâm hồn ông.

“Vladimir là cục cứt, nhưng hắn là cứt của chúng tôi, như tục ngữ thường nói. Xảo trá như ma, hám lợi dễ mua chuộc, nhưng được tiếp cận những bí mật quân sự hết sức quý. Trong nghề chúng tôi, đó là cách dẫn đến tình yêu thuần túy. Hắn có chân trong ba cơ quan tình báo, hắn đã phục vụ trong các lực lượng đặc biệt của Liên Xô ở châu Phi, Cuba, Afghanistan và Chechnya, và ăn chơi phóng đãng khó tưởng tượng nổi. Hắn biết mọi anh em sĩ quan sa đọa, biết những âm mưu đen tối của chúng, biết cách dọa chúng và biết cách mua chúng. Hắn điều hành một tổ chức mafia Hồng quân năm năm trước khi bên ngoài nước Nga ai cũng biết có mafia trong Hồng quân: máu, dầu lửa, kim cương, heroin ra đi từ Afghanistan trên những chuyến máy bay vận tải của Hồng quân. Khi đơn vị của hắn bị cho phục viên, Vladimir cho mấy anh chàng của hắn mặc com lê hiệu Armani nhưng vẫn giữ súng. Chúng còn thương lượng với đối thủ cạnh tranh bằng cách nào khác nữa?”

Brue đang làm đúng cái việc lúc này ông quyết định làm: không nói gì cả, nhìn có vẻ chăm chú nhưng thờ ơ, và thầm tự hỏi tại sao Foreman lại đi nói với ông tất cả những chuyện này, nói tỷ mỉ đến thế, và cố sức tỏ ra vui vẻ thân tình với ông, như thể cả ba người đã là anh em trong một vụ làm ăn chung còn chưa được tiết lộ.

“Vấn đề của chúng tôi là - không phải mới xảy ra cho công việc của chúng tôi lần đầu, hay lần cuối - để làm cho Vladimir vui, chúng tôi không chỉ mở tài khoản nhà băng cho hắn và rót tiên vào đó, mà còn phải rửa tiền luôn cho hắn nữa.”

Thật đáng ngạc nhiên, vì bây giờ Brue đang bắt đầu hiểu thì Foreman dường như lại cảm thấy cần phải bào chữa cho việc này.

“Ờ, tôi muốn nói là, nếu chúng tôi không làm, thì người Mỹ có thể đã làm và làm hỏng việc. Chính vì thế mà chúng tôi đến để có lời nói nhỏ với cha của ông. Vladimir thích Vienna. Hắn đã được phái đến đó đôi lần. Hắn khoái điệu van-xơ, những nhà thổ ở Vienna và món schnitzel của dân Vienna. Còn chỗ nào tốt hơn để hắn thỉnh thoảng sang thăm viếng tiền của hắn hơn là thành Vienna cổ kính thân yêu này? Và cha của ông, vâng, là người dễ lĩnh hội một cách tuyệt diệu. Sắc sảo, thật thế. Đó là một trong những điều ngộ nghĩnh trong câu chuyện kỳ cục này. Những người càng nghiêm túc bao nhiêu trong cuộc sống xã hội thì càng nhanh chân chạy đến khi những gián điệp chúng tôi huýt cói. Lúc chúng tôi đề nghị vấn đề Lipizzaner, ông ấy không có mặt. Nếu chúng tôi cho ông già của ông quyền tự do hành động, chắc ông ấy đã biến toàn bộ nhà băng của ông ấy thành một chi nhánh của Tình báo. Chúng tôi có chút hy vọng rằng, khi chúng tôi giải thích vấn đề nhỏ của chúng tôi cho ông, ông cũng sẽ cảm thấy như vậy, đúng không, Ian? Không phải chuyện cái chi nhánh” - cả hai cười khoái trá - “ơn Chúa, chúng tôi không làm cách đó! Ờ, chỉ bàn tay giúp đỡ chìa ra chỗ này chỗ kia thôi.”

“Chúng tôi trông mong ở ông, Tommy ạ,” Lantern hùa theo bằng cái giọng miền Bắc nhỏ nhẹ của anh ta và nụ cười lúc nào cũng sẵn trên môi của một kẻ thấp hèn đang cố làm vừa lòng người khác.

Và một lần nữa Foreman có thể nhã ý dừng lại một chút, nhưng ông ta đang đến gần điểm trọng yếu nhất của câu chuyện và không muốn lãng đi. Mario đang quẩn quanh với thực đơn tráng miệng. Tâm trí Brue cũng đang vẩn vơ, nhưng trong phòng làm việc riêng đóng kín của cha ông ở Vienna, điên tiết viết kịch bản phần cuối lời quở trách còn dở dang mà ông giữ bên mình về các tài khoản Lipizzaner: Vậy cha là một gián điệp của Anh quốc, bây giờ họ đang bảo con thế, bán rẻ Freres lấy một tấm huân chương nước Anh. Thảm hại thay khi cha đã không cảm thấy đủ khả năng để tự mình nói với con điều đó.

• • •

Giai đoạn cuối cùng trong đời binh nghiệp của Vladimir là Chechnya, Foreman đang nói. Và nếu Brue đem tất cả những điều ông vừa nghe về chuyện cực kỳ nhơ bẩn xấu xa ấy nhân lên mười lần, ông sẽ có một ý niệm sơ bộ về chuyện gì đã xảy ra: người Nga đã nghiền nơi ấy thành tro bụi, còn người Chechnya đáp lễ mỗi khi có dịp.

“Nhưng đối với Vladimir và số phận của hắn thì đấy là một bữa tiệc dài hạnh phúc,” ông ta thổ lộ vẫn bằng cái giọng thân mật ấy, như thể câu chuyện đã nằm sâu trong ông ta từ rất lâu, và chỉ có sự có mặt của Brue ở đấy mới dụ được nó ra khỏi ông ta. “Choảng bom, chè chén say sưa, hiếp người, cướp của. Hút dầu từ đường ống và bán cho kẻ trả giá cao nhất. Chúng bắt dân địa phương xếp hàng và bắn họ để trả thù cho những việc chúng đã làm, và được thăng cấp vì những tội lỗi chúng đã gây ra.” Lần này thì Foreman mới cho dừng một quãng ngắn, chỉ để ra dấu đổi hướng câu chuyện. “Dù sao thì đó cũng chỉ là hậu cảnh, Tommy ạ. Và chính trên cái nền hậu cảnh ấy Vladimir đã yêu. Hắn có nhiều vợ ở khắp nơi trên thế giới, nhưng người vợ này vì lý do nào đó làm hắn phải chú ý. Hắn vồ được một phụ nữ Chechnya xinh đẹp, nhốt vào khu nhà sĩ quan ở Grozny, nhưng rồi lại yêu mê mệt cô ta một cách đường hoàng. Và cô ta thuận tình với hắn, hay là hắn tưởng thế. Tình yêu và Vladimir là hai thứ không thể ngồi chung, tôi phải thừa nhận, hay không như cách chúng ta có thể hiểu về thế giới. Nhưng đối với Vladimir, cuối cùng cô ta đã thật sự trở thành điều gì đó có ý nghĩa. Hay hắn bảo với tôi như thế. Lúc đang say sưa. Ở Moscow. Trong khi hưởng kỳ nghỉ phép được thưởng xứng đáng sau khi từ mặt trận Chechnya về.”

Foreman đã trở thành diễn viên trong chính câu chuyện của mình. Nét mặt ông ta mềm lại, và cái giọng thổ lộ tâm tình cũng thế. Brue đang được mời vào cái vòng tròn của những cảm tình kỳ lạ, kéo theo Annabel và chiếc xe đạp của cô.

“Trong nghề chúng tôi, Tommy ạ, khi chúng tôi già đi, những thứ đó cũng chính là những mẩu đời mà chúng tôi sẵn sàng hy sinh tất cả để được nói đến, nhưng không bao giờ có thể. Tôi cá điều này cũng giống như trong thế giới của ông thôi?”

Brue đưa ra một câu trả lời nhạt nhẽo.

“Ta bị nhốt kín trong một căn hộ an toàn hôi hám ở thành Moscow xây cất lộn xộn với tên lính mới tuyển mộ của ông. Ông có cái vỏ bọc đại sứ quán và ông phải mất cả ngày mới đến được đó không bị ai nhận ra. Ông có tối đa một giờ với hắn. Rồi ông nghe những bước chân lên thang gác. Hắn đẩy vi phim qua bàn cho ông, và trong lúc đó ông cố báo tin và lấy tin hắn. ‘Tại sao tướng này tướng nọ nói với anh điều đó? Nói cho tôi biết địa điểm bố trí tên lửa ở chỗ nọ chỗ kia. Anh có thích quy trình tín hiệu mới của chúng tôi không?’ Nhưng thằng lính của ông không nghe. Nước mắt hắn chảy quanh, và điều hắn muốn nói với ông là về cô gái ngồ ngộ mà hắn đã hiếp. Và bây giờ, Chúa giúp hắn, cô gái ấy yêu hắn và mang thai cho hắn một đứa con. Hắn không bao giờ ngờ cơ sự lại xoay ra như vậy. Vậy tôi mừng cho hắn. Chúng tôi uống mừng cô ta. Đây là vì Yelena, hay là tên nào đó của cô ta. Và đây là uống vì đứa bé, cầu Chúa phù hộ cho nó. Đó là, hay đã từng là, nghề nghiệp của tôi. Một sĩ quan an sinh xã hội và nửa gián điệp. Tôi có bảy tháng. Có trời mới biết tôi sẽ làm gì với bản thân mình. Các hãng an ninh tư nhân đều đang nhắm cả vào tôi, nhưng tôi nghĩ có lẽ tôi nên nghiền ngẫm về những thời đã qua,” ông ta nói thêm với một giọng xoa dịu, nở nụ cười buồn mà Brue thấy có phận sự phải gượng gạo đáp lại.

“Vậy đấy là Vladimir đang yêu,” Foreman tiếp tục một cách vui vẻ. “Và giống như mọi cuộc tình lớn, nó không kéo dài. Ngay khi cô ta vừa sinh được đứa bé trai, gia đình cô ta sai một người anh của cô ta lẻn đến trại giết cô ta. Vladimir đau buồn như đáng phải đau buồn. Khi đơn vị của hắn bị gọi về Moscow, và giải tán, hắn mang theo thằng bé. Bà vợ đương quyền ở Moscow không vui tí nào. Bảo Vladimir rằng bà ta căm phẫn khi hắn tống thằng con hoang nhọ đít này cho bà ta. Nhưng Vladimir không bỏ rơi thằng bé. Hắn yêu đứa bé do tình yêu duy nhất trong cuộc đời hắn mang lại cho hắn, và hắn cho thằng bé quyền thừa kế khoản quỹ đen của hắn, và không gì thay đổi được điều đó.”

Chuyện ấy đã kết thúc chưa? Foreman nhướng lông mày và nhún vai như muốn nói: Đời là thế này đây, làm gì được?

“Vậy giờ sao?” Brue hỏi.

“Vậy bây giờ bánh xe lịch sử đã quay trọn vòng, Tommy. Quá khứ là quá khứ, con trai của Vladimir đã được thừa kế di sản và đang trên đường đến thăm con trai của Edward Amadeus để đòi phần của hắn.”

• • •

Lần này thì Brue không chịu thua một cách dễ dàng như họ có vẻ mong đợi. Ông đang dần vào vai, bất kế đó là vai gì.

“Xin lỗi,” ông bắt đầu, sau khi triệu tới một khoảnh khắc suy nghĩ tỉnh táo kiểu ông chủ ngân hàng. “Tôi không muốn làm hỏng cuộc vui của các vị, nhưng tôi tin chắc rằng nếu tôi về ngân hàng ngay lúc này, lục lại các hồ sơ Lipizzaner, và xác định khách hàng nào là người gần giống nhất với mô tả mà ông đã cung cấp, cùng với những điều khoản mà ông ta đã lập nên cho người thừa kế của ông ta...”

Ông không cần phải nói thêm. Từ một túi áo vét tông Foreman rút ra một chiếc phong bì trắng gợi cho Brue nhớ đến những hộp nhỏ màu trắng đựng miếng bánh cưới nhão nhoét gói trong khăn ăn mà Georgie, con gái ông, gửi cho những người bạn vắng mặt để ghi nhớ cuộc hôn nhân ngắn ngủi của nó với một chàng nghệ sĩ năm mươi tuổi tên là Millard. Bên trong phong bì là một mảnh thiếp trơn trên đó có chữ tên KARPOV được viết bằng bút bi. Mặt kia, là tên Lipizzaner.

“Thấy quen quen chứ?” Foreman hỏi

“Cái tên ấy à?”

“Đúng thế. Không phải con ngựa. Người đó.”

Nhưng Brue chẳng thế nào hoảng loạn. Một ý chống đối bướng bỉnh đang hình thành trong ông và nó vượt quá bốn phận nhà băng của ông là phải hành động một cách chín chẳn. Nó vượt quá những cơn cứng đầu cứng cố bất chợt của dân Scotland thỉnh thoảng tràn lên ông không hề báo trước, mà ông luôn mau chóng uốn nắn lại. Nó có dây nhợ chằng chịt, và đúng lúc ông có thế tách từng sợi ra, nhưng ông biết rằng Annabel Richter cách này hay cách khác cũng đã bị kết vào đó và cô cần sự bảo vệ của ông, có nghĩa là Issa cũng cần sự bảo vệ ấy. Trong lúc đó ông có thể đã phản ứng lại theo cách tự nhiên nhất đối với ông. Ông biến thành con nhím, như Edward Amadeus thường gọi. Ông thủ thế và xù lông nhím lên. Ông sẽ nói ít nhất, và sẽ để cho họ tự lấp đấy khoảng im lặng.

“Tôi sẽ phải hỏi viên chánh thủ quỹ của tôi. Ở Freres các tài khoản Lipizzaner là một cái gì thuộc một thế giới cách biệt,” ông nói. “Đó là do cha tôi muốn để chúng như vậy.”

“Ông đang nói với tôi rằng ông ấy đã làm!” Foreman la lên. “Cứ dính đến E. A. là con hến câm trong ông sẽ biến thành súng liên thanh ngay! Đúng như tôi đã nói với Ian trước khi ông đến. Đúng không, Ian?”

“Ông ấy đã nói thế, Tommy. Chính xác như thế đấy,” Lantern thấp bé nói với nụ cười đẹp.

“Vậy có lẽ các vị biết về chuyện này nhiều hơn là tôi biết,” Brue gợi ý. “Tôi e rằng những tài khoản Lipizzaner là một vùng không rõ trắng rõ đen đối với tôi. Chúng đã là một cái gai đối với ngân hàng của tôi trong hơn hai thập kỷ qua.”

Lantern, không giống Foreman, không chồm qua bàn để giãi bày tâm sự với Brue, nhưng cái giọng miền Bắc của anh ta thì lại giống Foreman, biết cách giữ cho tiếng nói thấp hơn tiếng nhạc.

“Tommy. Cho chúng tôi xin nói thẳng. Nếu tay thanh niên ta đang nói đến - hoặc một ai đó được hắn ủy thác và có mật khẩu hay số tham chiếu cần thiết - đến ngân hàng của ông - rõ chứ?”

“Tôi đang nghe đây.” Và cả Annabel cũng vậy, một cách chăm chú.

“Và khi người này đưa yêu sách đối với tài khoản Lipizzaner - dọn sạch nó đi, chẳng hạn - lúc nào thì ông biết việc này? Biết ngay không? Vài ngày sau ư? Nó sẽ được thực hiện như thế nào?”

Brue-nhím bỏ câu hỏi không trả lời một lúc lâu đến mức Lantern chắc phải tự hỏi không biết ông đã nắm được nó chưa.

“Trước hết, ta giả định rằng hắn sẽ hẹn gặp và trình bày công việc của hắn,” ông nói một cách dè chừng.

“Và nếu hắn làm xong?”

“Trong trường hợp đó, trợ lý cấp cao của tôi, Frau Ellenberger, sẽ báo động cho tôi trước. Và nếu tất cả diễn ra tốt đẹp, tôi sẽ chuẩn bị sẵn sàng. Nếu có yếu tố riêng tư ở đấy - tôi không chắc nó có áp dụng trong trường hợp này không, nhưng chúng ta cứ cho là có đi, để tranh luận - nếu cha hắn đã từng biết cha tôi, chẳng hạn, và hắn nói ra chuyện này, thì rõ ràng ta sẽ phải tính chuyện tiếp đãi hắn nồng nhiệt hơn. Freres có cả kho kịch bản loại này.” Ông ngừng một lát cho thấm. “Nếu, ngược lại, không có cuộc hẹn nào cả, và tôi đang họp, hoặc đi vắng không có trong văn phòng, thì có khả năng, mặc dầu không chắc lắm, là giao dịch sẽ được thực hiện mà tôi không biết. Điều đó sẽ là không may. Tôi rất tiếc.”

Cứ nhìn cái vẻ lo lắng của Brue thì hình như giờ ông ta đã tiếc thật rồi.

“Dĩ nhiên, Lipizzaner là những tài khoản thuộc một loại hết sức riêng biệt,” ông buồn nản tiếp tục. “Và nói thẳng ra, không phải là loại tử tế. Và nếu chúng tôi suy nghĩ về chúng kỹ một chút, có lẽ chúng tôi đã coi những loại tài khoản nằm ở chỗ chúng tôi lâu như thế hoặc là không hoạt động, hoặc bị khóa. Không thư từ trao đổi trực tiếp với khách hàng. Tất cả giấy tờ và tài khoản đều giữ ở nhà băng. Đại loại như thế,” ông khinh bỉ nói thêm.

Foreman và Lantern liếc mắt nhìn nhau, rõ ràng không chắc chắn ai sẽ đi tiếp và bao xa. Brue hơi ngạc nhiên, Lantern quyết định anh ta sẽ đi nước tiếp.

“Chúng tôi cần nói chuyện khẩn cấp với tay thanh niên đó, ông biết đấy, Tommy ạ,” ông ta giải thích, cái giọng miền Trung Anh thì thầm của ông ta hạ xuống thấp hơn nữa. “Chúng tôi cần nói chuyện với hắn riêng và ngay lập tức. Không chính thức, và ngay khi hắn xuất hiện. Trước khi hắn nói chuyện với bất cứ người nào khác. Nhưng phải thật tự nhiên. Điều chúng tôi tuyệt không hề muốn là hắn nghĩ có ai đang nhìn ra ngoài cửa sổ tìm hắn, và toàn thể bộ máy đã được báo động, và có một kế hoạch nào đó ngoài kia đang chờ hắn, ở ngân hàng hay ở bất kỳ chỗ nào khác. Như thế sẽ khiến mọi chuyện tắc tị. Đúng không, Ted?”

“Hoàn toàn chính xác,” Foreman khẳng định trong vai trò người phụ họa mới.

“Hắn sẽ bước vào, hắn xưng danh, nhìn thấy bất cứ ai bình thường hắn có thế thấy. Hắn đưa yêu sách, làm thủ tục giao dịch, và trong khi hắn làm thế, ông sẽ nhấn nút cho chúng tôi. Đấy là tất cả những gì chúng tôi yêu cầu ở giai đoạn này,” Lantern nói.

“Tôi sẽ nhấn nút, chính xác là như thế nào?”

Lại đến Foreman, bổ sung cho Lantern: “Ông sẽ gọi số của Ian ở Berlin. Ngay lập tức. Thậm chí trước khi ông bắt tay gã trai đó, hay gã được đưa lên lầu để dùng cà phê trong văn phòng của ông. ‘Thằng đó đấy.’ Đó là tất cả những gì ông cần nói. Ian sẽ lo phần còn lại. Anh ấy có người. Điện thoại của anh ấy mở suốt ngày đêm.”

“Hai mười bốn giờ, bảy ngày,” Lantern xác nhận, đưa danh thiêp của anh ta qua bàn cho Brue.

Một tiêu ngữ hoàng gia giấy trắng chữ đen. Đại sứ Anh, Berlin. Ian K. Lantern. Cố vấn, Quốc phòng Ở Liên lạc. Một cụm số điện thoại. Một trong số đó được gạch dưới bằng bút bi xanh và đánh dấu sao. Sao họ biết văn phòng của mình trên lầu? Cùng một cách như Annabel biết - đạp xe qua cửa sổ mình ư? Tránh gặp mắt hai người chủ tiệc, Brue bỏ danh thiếp của Lantern vào túi bên cạnh thiếp đánh dấu KarpovLipizzaner.

“Vậy kịch bản mà các bạn đề nghị có lẽ là như thế này,” ông ướm lời. “Xin sửa lại nếu tôi nói sai. Một khách hàng mới toanh vào ngân hàng của tôi. Ông ta là con trai một khách hàng quan trọng, nay đã chết. Và ông ta đưa yêu sách đòi... chắc chắn là một khoản tiền lớn. Và thấy vì tư vấn cho ông ta, như đúng ra tôi cần làm, về việc chúng tôi có thế trông coi khoản tiên đó tốt nhất, và đầu tư khoản đó cho ông ta như thế nào, tôi sẽ giao ông ta vào tay các ông, mà không hỏi ý kiến ông ta.”

“Sai, Tommy,” Lantern sửa lại. Nụ cười không đổi.

“Tại sao?”

“Không phải thấy vì. Mà thêm vào. Chúng tôi muốn ông làm cả hai việc. Trước tiên nháy nhẹ cho chúng tôi. Sau đó cứ thản nhiên như ông chưa làm gì cả. Hắn không biết ông đã báo cho chúng tôi. Cuộc sống cứ tiếp tục hoàn toàn bình thường.”

“Như vậy là lừa đảo.”

“Nếu ông muốn gọi nó như vậy.”

“Trong bao lâu?”

“Tôi e rằng đó là việc riêng của chúng tôi, Tommy.”

Có lẽ Lantern đã hơi thô lỗ hơn ý anh ta muốn, hay có lẽ Foreman với tư cách thằng già đầu hơn cảm thấy thế, nên ông ta thấy cần sửa lại một chút.

“Ian chỉ cần cuộc nói chuyện rất hữu ích, rất kín đáo này với gã trai thôi, Tommy. Ông sẽ không làm hại đến một sợi tóc trên đầu cậu khách hàng mới của ông. Nếu chúng tôi có thể kể cho ông toàn bộ câu chuyện, ông sẽ biết rằng ông chìa bàn tay giúp đỡ rất quan trọng cho ông ta đấy.”

Anh ấy đang chết đuối. Tất cả những gì ông phải làm là chìa một bàn tay ra cho anh ấy, một giọng lễ sinh đang nói với ông.

“Dù sao, tôi nghĩ các ông sẽ đồng ý rằng đấy là một mệnh lệnh quá sức đối với một ngân hàng,” Brue cứ khăng khăng, trong khi hai người kia đưa mắt hội ý. Lần này Foreman đảm nhận việc trả lời.

“Thôi ta cứ giả dụ đấy là một mẩu lịch sử rối ren cần được sắp xếp lại, Tommy ạ. Ông có đồng ý thế không? Một số việc dở dang hỗn độn mà một khách hàng quá cố của ông bỏ lại ngổn ngang.”

“Nếu chúng tôi không bắt chúng ngay bây giờ, chúng có thể quay trở lại ám ảnh tất cả chúng ta một cách khá nghiêm trọng đấy, Tommy,” Lantern hăng hái đồng tình. Những chuyện dở dang, rõ ràng ý ông ta muốn nói thế. Những chuyện dở dang ám ảnh.

“Tất cả chúng ta?” Brue nhắc lại.

Sau khi liếc thêm Lantern một cái, Foreman nhún vai vẻ nhuợng bộ, tỏ ý rằng đã đi xa đến nước này thì đi đến cùng cho rồi.

“Tommy, tôi không chắc tôi có thế tóm gọn đầy đủ không, nhưng tôi sẽ cố. Có một dấu hỏi ở London về việc tất cả những chuyện này có thế ảnh hưởng đến ngân hàng của ông như thế nào, nếu chúng tôi bỏ mặc nó không quan tâm giám sát, nếu nãy giờ ông có theo dõi tôi.”

Lantern nhanh nhảu thêm vào lời bảo đảm cá nhân của ông ta. “Chúng tôi nhất định làm mọi việc chúng tôi có thể làm, Tommy. Ở mức cao nhất.”

“Không thể nào cao hơn,” Foreman nhất trí.

“Chỉ một điều nữa thôi, Tommy,” Lantern xen vào, theo cách có thể gọi là cảnh báo. “Có thể ông sẽ gặp một vài tên Đức lạ mặt đánh hơi quanh đấy. Nếu điều đó xảy ra, chúng tôi một lần nữa yêu cầu ông báo cho chúng tôi ngay lập tức để chúng tôi có thể tăm ra bọn chúng. Tất nhiên chúng tôi sẽ làm, không chậm trễ. Miễn là ông cho chúng tôi cơ hội.”

“Bọn Đức muốn cái quỷ gì ở đây chứ?” Brue hỏi, nghĩ rằng ít nhất đã có một người Đúc đang đánh hơi quanh đây, nhưng cô ấy không phải là loại người Đức mà họ vừa cảnh báo ông.

“Có thể họ không mấy cảm tình với các ngân hàng Anh kinh doanh những tài khoản đến trên đất họ,” Lantern gợi ý, hơi nhướng đôi lông mày trẻ trung của anh ta một cách duyên dáng.

Trong taxi, Brue kiểm tra di động của ông, rồi gọi cho Frau Ellenberger. Không, không có một lời nhắn nào từ bà cả, Herr Tommy ơi. Cả trên đường dây gọi thẳng của ông cũng không có.

• • •

Có một nơi, một nơi quý báu, mở cho công chúng nhưng nhưng là coi riêng đôi với ông, mà Brue thường đến mỗi khi ông thấy cuộc sống của mình trở nên ngột ngạt. Nó là một bảo tàng nhỏ trưng bày những tác phẩm của Ernst Barlach, nhà điều khắc. Brue không phải là người ái mộ nghệ thuật, và Barlach không gì hơn là một cái tên trong đầu ông, mà lại còn là một cái tên khá mơ hồ, cho đến một ngày cách đấy hai năm, khi bằng giọng tẻ nhạt Georgie thông báo với ông qua điện thoại xuyên Đại Tây Dương rằng đứa con trai sáu ngày tuổi của cô đã chết. Khi nghe cái tin đó, ông bước xuống phố, vẫy một chiếc taxi và nói với tài xế, một người đứng tuổi, và cứ theo trong bằng lái thì ông ta là người Croatia, chở ông đến một nơi nào kín đáo riêng tư, ông không nói cụ thể là nơi nào. Nửa giờ sau, không thêm một lời trao đổi giữa hai bên, họ tới một tòa nhà gạch thấp ở góc phía xa một công viên lớn. Trong khoảnh khắc kinh hoảng, Brue đã tưởng người ta đưa ông đến một lò thiêu người, nhưng có một phụ nữ ngồi bán vé ở bàn, nên ông mua một vé và bước vào một mảnh sân ảm đạm không có ai ngoài những nhân vật trong huyền thoại thời Trung cổ.

Một dáng người mặc áo thầy tu, lướt đi. Người khác thì chìm đắm trong buồn nản phiền muộn, dáng thứ ba trầm tư, hay tuyệt vọng. Một kẻ nữa đang kêu gào, nhưng vì đau đớn hay vui sướng thì không phân biệt được. Tuy nhiên, điều rõ ràng với Brue là mỗi nhân vật này đều cô đơn như ông, và mỗi người đều đang nói một điều gì; nhưng không ai nghe, mỗi nhân vật đều đang tìm kiếm một niềm an ủi không có được, điều này tự nó là một kiểu an ủi.

Xét toàn cục, thông điệp của Barlach với thế giới là một niềm thương cảm phức tạp sâu xa đối với những khổ đau của nó, đó là lý do từ ngày ấy đến nay, Brue đã đến đấy có lẽ đến mươi mười hai lần, khi thì vì một nỗi thất vọng tạm thời - “sự giận dỗi”, như Edward Amadeus thường gọi - khi thì mọi chuyện ở ngân hàng trở nên tồi tệ, hoặc chẳng hạn như có lần Mitzi nói với ông, đại để là ông không hợp với những tiêu chuẩn cao của bà về một người tình, điều mà ông ít nhiều thừa nhận, nhưng không muốn nghe. Nhưng từ trước đến nay chưa bao giờ ông đến đây trong tình trạng một cơn giận bị hãm lại và đầy bối rối như bây giờ.

• • •

Tôi vẫn tin, ông nói với những thần hộ mệnh của Barlach. Tôi ủng hộ cô ấy, và tôi đã che giấu tình cảm. Tôi đã nói dối theo cách họ nói dối: bằng cách bỏ sót. Trong những lời nói dối của họ có nhiều chỗ bỏ sót đến nỗi vào lúc họ nói xong, tất cả những điều tôi nghe được chỉ là nói dối. Những lời nói dối của gián điệp, không nói to lên nhưng, giọng như những cái tâm rỗng, được miêu tả bằng những gì không được nói ra:

Issa chưa bao giờ và bây giờ cũng vậy, là người Hồi giáo, họ nói dối.

Issa chưa bao giờ là nhà hoạt động Chechnya. Y cũng chưa bao giờ là người hoạt động cho bất cứ ai, họ nói láo.

Issa chỉ là một người bình thường, con của một tên gián điệp tầm thường, giống như tôi, đang đến đòi thừa kế di sản bẩn thỉu của y, từ tôi, họ nói dối.

Y chắc chắn đã không bị tra tấn, hoặc ngồi tù, hoặc trốn tù, lạy Chúa không có!

Và y không mảy may liên hệ gì với một tên được cho là khủng bố Hồi giáo đang chạy trốn, bị Thụy Điển truy nã và bị đưa hình lên tất cả các website cảnh sát - do đó, kể cả website của Mật vụ Anh, kẻ thông tường mọi chuyện, đấy là một giả định hợp lý thôi.

Không với tất cả những điều đó! Vấn đề của Issa - nếu nó có là vấn đề của y - có liên quan đến một lịch sử lộn xộn, dù có thể là gì. Đó là những đầu thừa đuôi thẹo mà những người cha của chúng tôi đã bỏ lại ngổn ngang, và nó khiến chúng tôi cùng nhau mang tội một cách mơ hồ.

Nhưng Chúa nhân từ, nếu tôi làm mọi việc mà người ta bảo tôi làm, Foreman và Lantern, với sự trợ giúp của cấp cao nhất của họ, sẽ giúp tôi thoát khỏi rắc rối. Và trong khi họ làm vụ này, họ cũng sẽ cứu tôi khỏi tay người Đức.

• • •

Tuy nhiên Brue không tự mâu thuẫn khi ông nói lời tạm biệt với Barlach rồi bước vào công viên đầy nắng. Ông đã không hành động sai lầm. Một tiếng kêu gào mang hồn Barlach vừa vui sướng vừa khổ đau dâng đầy trong ông khi ông nhận ra tình cảm có thật của mình. Từ cuộc gặp ở Atlantic, duờng như xa lắc xa lơ, Annabel Richter đã là một sức mạnh dẫn hướng, ông dám nói rằng một sức mạnh tinh thần. Từ thời khắc ấy, ông không nhìn và nghĩ điều gì mà không hỏi ý kiến cô trong đầu: như thế này có đúng không, liệu Annabel có tán thành không?

Ban đầu ông tự coi mình là nạn nhân bị ngược đãi của một vụ chiếm đoạt thù địch. Sau đó ông đã nhếch mép nhạo mình: mi, một gã sáu mươi, vật lộn với lượng nội tiết tố sinh dục đang dần cạn. Cái chữ tình yêu đáng sợ đó, dù nó có nghĩa gì đối với ông, không có chỗ nào để đi vào cuộc đối thoại của ông với chính mình. Tình yêu là Georgie. Tất cả những cái còn lại - cái thứ hơi thở nóng hổi, hổn hển, những thề non hẹn biển - nói thẳng ra, là dành cho người khác. Xuyên qua những điệu bộ giả vờ, ông tự hỏi những cái đó có thật chỉ dành cho những kẻ khác, nhưng đó là việc riêng của họ. Dù sao chăng nữa, khi có một người chỉ bằng nửa tuổi ông ập vào cuộc đời ông và nhận lấy vai trò người thầy đạo đức, ông hãy ngồi dậy và lắng nghe, ông phải làm thế. Và nếu tình cờ cô ta lại còn là người phụ nữ hấp dẫn và thú vị nhất, và là mối tình vô vọng nhất từng đến với ông, thì còn hơn thế nữa.

Thế còn tình dục? Khi cưới Mitzi, ông nhận ra ông đã liều quá sức mình. Ông không lấy thế làm khó chịu với bà, và nhìn bề ngoài bà cũng thế. Nếu buộc phải đưa ra ý kiến, có lẽ ông sẽ cãi rằng bà đã để ông sống trong lối mà ông đã quen đi rồi gửi hóa đơn cho ông, thế là sòng phẳng. Ông khó có thể trách bà vì có những khát khao mà ông không thỏa mãn nổi.

Bây giờ cuối cùng thì ông cũng đã có thế hiểu bản thân. Ông đã nhầm những nhu cầu của mình. Ông đã đầu tư bản thân ông vào sai thị trường. Bấy lâu ông đâu có tìm kiếm ái ân. Nó là cái này đây. Và bây giờ ông đã tìm thấy cái này, đối với ông điều này là cái khá bất ngờ và quan trọng làm sáng tỏ bản chất của ông. Nội tiết tố cạn kiệt không phải là vấn đề. Vấn đề là cái này,cái này là Annabel.

Và chính là vì cái này, cũng giống như vì bất kỳ lý do nào khác, mà ông đã nói dối Lantern và Foreman. Họ đã nói về cha ông như thể ông ấy là tài sản của họ. Họ đã hoạnh họe thằng con nhân danh ông cha, và tưởng họ sở hữu cả hắn nữa. Họ đã đi lạc tới quá gần mảnh đất chỉ của mình ông và Annabel, và ông đã không để họ lại gần. Khi làm vậy ông đã có ý thức và cố ý bước vào vùng nguy hiểm của cô, mà giờ ông chia sẻ cùng cô. Và như vậy thì, đời sống của ông đã trở nên sống động và quý giá đối với ông, vì nó mà ông biết ơn cô từ tận đáy lòng.

• • •

“Và nhà Brue Freres đang lụn bại, người ta nghe nói thế,” Mitzi nói. Cùng tối hôm đó. Họ đang ngồi trong phòng khách có cửa lớn, ngắm khu vuờn. Brue nhấp ngụm Calvados, món quà của một khách hàng người Pháp.

“Thật thế ư?” ông nhẹ nhàng hỏi lại. “Anh chưa nghe. Người ta nghe chuyện đó từ ai, liệu anh có hỏi thế được không?”

“Bernhard, anh ấy nghe được từ ông bạn già Haug von Westerheim của anh, ông ấy đáng ra phải biết những chuyện này. Đúng không?”

“Chưa. Anh chưa nghe.”

“Anh đang thất bại phải không?”

“Không đáng quan tâm. Tại sao?”

“Anh hình như không thể kiểm soát các tín hiệu của mình. Phút trước anh đang còn nhảy tâng tâng như con chó con, phút sau anh đã ghét tất cả. Có phải là một phụ nữ không, Tommy? Em có cảm giác mấy ngày gần đấy anh xa lánh em.”

Ngay cả theo luật của trò họ đã chơi - và không chơi -câu hỏi cũng thẳng thừng một cách bất thường, và Brue cho phép mình một khoảng thời gian lâu bất thường mới lật lại.

“Một người đàn ông,” ông trả lời, phải nghĩ tới Issa mà lẩn tránh; nghe thế Mitzi nở một nụ cười hiểu biết và quay về với quyển sách của bà.

❀ ❀ ❀

[1] Lantern có nghĩa là ngọn đèn.

Vuốt cho phẳng chiếc phong bì, anh moi ra bức thư một trang đánh máy nhàu nát bằng thứ chữ Cyril. Nó có một địa chỉ, ngày tháng và tên người gửi - hay anh giả định thế - bằng chữ in đen lớn chạy trên đầu trang. Bên dưới nội dung không đọc đ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.