“Frau Elli,” Brue bắt đầu, ra hiệu thông lệ quen thuộc.
“Ông Tommy,” Frau Ellenberger đáp, chuẩn bị tinh thần cho một cuộc trao đổi đầy nghi lễ giữa họ nữa. Bà đã nhầm. Hôm nay Brue có một cung cách hành chính.
“Tôi vui mừng báo tin để chị biết từ chiều nay chúng ta sẽ đóng lại tài khoản Lipizzaner cuối cùng, Frau Elli ạ.”
“Tôi thấy nhẹ nhõm, ông Tommy ạ. Đáng lẽ phải từ lâu rồi.”
“Tối nay tôi sẽ tiếp nguời yêu cầu sau giờ giao dịch. Đó là ý muốn rõ ràng của anh ta.”
“Tối nay tôi không bận gì. Tôi sẽ rất vui nán lại thêm,” Frau Elli trả lời với vẻ hăm hở kỳ lạ.
Không biết bà hối hả muốn tống khứ các tài khoản Lipizzaner - hay là muốn gặp thằng con hoang của đại tá Grigori Borisovich Karpov?
“Cám ơn chị, điều ấy không cần đâu, Frau Elli ạ. Khách hàng này khăng khăng đòi sự riêng tư hoàn toàn. Tuy nhiên nhờ chị làm ơn lục hộ đống giấy tờ và đặt chúng lên bàn tôi.”
“ Tôi hiểu là người yêu cầu đó có một chiếc chìa khóa, ông Tommy?”
“ Theo luật sư của anh ta, anh ta có một chiếc chìa khóa rất thích hợp. Và chúng ta có chìa khóa của chúng ta. Đâu?”
“Trong hầm bí mật, ông Tommy. Trong tủ két âm tường. Dưới dãy số kép.”
“Bên cạnh các két sắt?”
“Bên cạnh các két sắt.”
“Tôi luôn nghĩ chính sách của chúng ta là để các chìa khóa két sắt càng xa các két sắt càng tốt.”
“Cái này là từ thời ông Edward. Ở Hamburg ông đã áp dụng một chính sách nhẹ nhàng hơn.”
“Được, vậy chị làm ơn tìm chiếc chìa khóa ấy lại cho tôi.”
“Tôi sẽ cần cô chánh thủ quỹ giúp một tay.”
“Sao vậy?”
“Cô ấy là người giữ dãy số kia, ông Tommy ạ.”
“Tất nhiên. Chị có cần nói với cô ấy là để làm gì không?”
“Không, ông Tommy ạ.”
“Vậy làm ơn đừng nói. Và hôm nay chúng ta đóng cửa sớm. Tôi muốn mọi người rời khỏi ngân hàng muộn nhất là ba giờ chiều nay.”
“Tất cả mọi người ư?”
“Mọi người trừ tôi, nếu chị không thấy phiền.”
“Tốt lắm, ông Tommy,” bà nói thêm.
Nhưng nét tức giận trên mặt bà khiến ông thấy bất an, lại càng không yên vì ông không hiểu. Vào lúc ba giờ chiều, nhà băng ra về hết, như đã được chỉ thị, và Brue gọi điện cho Lantern để xác nhận. Vài phút sau có tiếng chuông gọi cửa. Một mình trong tòa nhà, Brue thận trọng bước xuống cầu thang thì thấy bốn người mặc quần áo bảo hộ màu xanh đứng trên bậc của, và đằng sau họ một chiếc xe tải nhẹ màu trắng đậu trong sân trước nhà băng cho thấy là thuộc về Công ty Điện lực Ba Đại dương ở Lübeck. Trong nghề nghiệp, không có gì đáng ngạc nhiên, chúng tôi gọi chung là bọn chó chết, Lantern thổ lộ như vậy để chuẩn bị tinh thần cho ông trước cuộc xâm nhập này.
Người lớn tuổi nhất trong bốn người có hai chiếc răng vàng của mấy thằng cướp biển.
“Ông Brue?” hắn hỏi, răng vàng lóe lên.
“Các ông muốn gì?”
“Chúng tôi được giao nhiệm vụ kiểm tra hệ thống của ông, thưa ông,” hắn nói một thứ tiếng Anh nặng trịch.
“Được, vào đi,” Brue trả lời càu nhàu bằng tiếng Đức. “Làm bất cứ việc gì mà các ông phải làm. Nhưng đừng làm hư vữa tường đấy, nếu các ông không phiền.”
Ông đã cật lực nói với Lantern rằng Frères có sẵn camera cả trong lẫn ngoài. Nếu bọn chó chết của Lantern thật sự cần thêm camera nữa, sao chúng không đơn giản chỉnh lại đường dây hiện có? Nhưng điều đó chưa đủ cho bọn người mà giờ Lantern gọi là “những người bạn Đức của chúng ta”. Trong suốt giờ sau đó, Brue đi quanh quẩn bất lực trong văn phòng của mình trong khi những người kia làm công việc của họ: sảnh lớn, khu vực tiếp tân, cầu thang, phòng máy tính nơi thủ quỹ ngồi, phòng thư ký, phòng rửa mặt, hầm bí mật mà ông phải mở khóa bằng chùm chìa khóa riêng cho họ vào.
“Và bây giờ, xin vui lòng, phòng riêng của ông, ông Brue. Nếu ông cho phép,” người có nụ cười vàng chóe nói.
Brue đi đi lại lại ở tầng dưới trong khi họ làm ô uế phòng riêng của ông. Tuy nhiên, dù ông có thể tìm xem có chỗ nào hư hại, ông vẫn không thể tìm được một dấu vết công trình của họ. Và khi ông trở lại chiêm lĩnh cơ ngơi của chính mình thì nó cũng có vẻ như còn y nguyên.
Với những biểu lộ kính trọng vô nghĩa, họ ra đi, và Brue lại cô độc một mình và bỗng nhiên cảm thấy điều đó, ngồi sụp xuống một đống bên bàn làm việc của ông, thậm chí không buồn động tay tới đống giấy tờ cũ của Lipizzaner mà Frau Ellenberger đã để lại đó cho ông xem.
Nhưng chẳng bao lâu một Brue khác tự khẳng định mình, không biết rằng con người cũ hay phiên bản mới là không thích hợp. Ông là Brue tái tạo. Sải bước đi trong phòng, hai tay đút túi, ông nhìn săm soi chăm chú vào bức vẽ tay cây phả hệ nhà Brue nguyên bản mà trong ba mươi lăm năm đã là sự nhắc nhở hằng ngày về sự không tương xứng của ông. Không biết các ông bạn Đức của chúng ta có gắn con rệp nào vào đằng sau nó không? Có phải bản thân nhà sáng lập vĩ đại đang chăm chú theo dõi từng bước đi của ta không?
Được, cứ để cho cụ nhìn. Vài tuần nữa kể từ hôm nay cụ sẽ được nhìn từ một thùng rác xanh lá.
Nhún nhảy trên gót chân, ông liếc nhìn lại căn phòng: phòng của tôi, bàn làm việc của đối tác của tôi, chiếc mắc áo gỗ chết tiệt hiệu Randall ở Glasgow của tôi, giá sách của tôi: không phải của cha tôi, không phải của ông tôi, không phải của cụ tôi. Và những cuốn sách trong đó, mặc dầu thậm chí tôi chưa bao giờ mở một cuốn nào: cũng là của tôi. Và đã đến lúc họ biết điều đó; là lúc mà bản thân tôi biết điều đó. Là của tôi để tôi có thể làm điều gì tôi muốn. Đốt đi, bán đi hay mang cho những người cùng khổ trên trái đất.
Hay hủy chúng đi. Vì bản thân tôi cũng vừa mới bị hủy diệt, ha ha.
Và sau khi nghĩ chút tục tằn này - nghiền ngẫm nó, nhấm nháp nó - ông nhắc lại to thành tiếng, một cách lịch sự và bằng thứ tiếng Anh chuẩn, trước hết cho Lantern, sau cho những người bạn Đức của Lantern, và cuối cùng cho tất cả những người đang rình nghe ông ở khắp nơi. Liệu bọn họ đã mở ra nghe chưa? Hủy diệt cả cái ấy nữa.
Rồi với sự cân nhắc kỹ lưỡng ông đi sắp xếp bố trí: Issa ngồi đây, Abdullah kia, và mình sẽ ngồi gắn ở đây đằng sau bàn viết.
Còn Annabel?
Annabel không bị nhét xuống cuối lớp, cám ơn. Trong nhà tôi thì không có chuyện đó. Cô ấy ở đây, là khách của tôi và cô ấy sẽ được đối xử cực kỳ trân trọng theo cách mà tôi cho là cô xứng đáng.
Trong lúc nghĩ thế, ông phát hiện ra chiếc ghế của ông nội lẩn trong một góc tối tăm nhất mà ông đã nhét vào, chiếc ghế gớm guốc được khắc chạm có hình gia huy Brue trên đầu, và vải len kẻ ô vuông Brue thêu trên vải bọc đã bạc màu. Lôi nó ra khỏi chỗ ẩn dật, ông ném vài chiếc nệm lên nó và lui lại đứng ngắm nghía công trình của mình: cô ấy thích ngồi như thế, lưng thẳng băng, làm tôi mất yên tĩnh vì những nguy hiểm mà cô ấy đang chịu.
Ông đi đến chiếc tủ lạnh trong góc tường, như một chi tiết cuối cùng, lấy ra vài chai nước khoáng không có ga và đặt chúng trên chiếc bàn cà phê sao cho chúng sẽ trở về nhiệt độ trong phòng vào lúc cô ấy đến. Ông tính rót cho mình một ly scotch, nhưng cưỡng lại. Còn một việc quan trọng cuối cùng phải thực hiện trước khi bắt đầu cuộc gặp mặt buổi tối, và ông thật sự nóng lòng mong ngóng nó.
• • •
Brue khăng khăng đòi địa điểm tại khách sạn Atlantic mà không đưa ra lý do. Lantern đã cho trinh sát từ trước, nên ngoan ngoãn đồng ý với lựa chọn của ông. Thời gian ấn định là bảy giờ, đúng thời gian ông gặp Annabel lần đầu tiên. Vẫn những mùi hương hôm trước tràn ngập tiền sảnh. Vẫn Herr Schwarz đứng trực. Vẫn đủ thứ tiếng hỗn độn vọng ra từ quầy bar. Vẫn tay chơi dương cầm không được ai tán thưởng đang chơi những bản nhạc tình khi Brue ngồi vào chỗ cũ của ông, vẫn dưới những bức họa ca ngợi nghề buôn, và vẫn căng mắt về cánh cửa xoay ấy. Chỉ có thời tiết là khác. Ánh chiều tà ngày xuân đang chiếu trên đường phố, giải thoát cho khách qua đường và làm họ cao hơn. Hay Brue cảm thấy thế, bởi vì bản thân ông cảm thấy nhẹ nhõm hơn và cao hơn.
Ông đã đến sớm nhưng Lantern và hai cậu trai của anh ta còn đến sớm hơn, và giống như ba viên chức hành chính bậc trung ngồi vào giữa vị trí của Brue và cửa xoay, có lẽ để chặn đầu ông lại trong trường hợp ông lao ra cùng tấm hộ chiếu của Issa. Bên kia lối đi và gần lối vào phòng phục vụ thịt nướng có hai phụ nữ ngồi, đó là những người đã lao đến giúp Annabel ở nhà hàng Louise. Trông họ có vẻ sẵn sàng làm lại việc ấy: nghiêm trang không cười và thận trọng khi họ chăm chú lao vào cuộc đối thoại không làm ta tin được cùng một tấm bản đồ thành phố.
Cô không mang theo ba lô.
Đây là cái đầu tiên Brue nhận thấy ở cô khi cô bước qua cửa kính xoay. Không ba lô, bước đi chậm rãi hơn, không xe đạp. Một chiếc Volvo màu cát đưa cô đến cửa, và nó không phải taxi, vậy nó phải là chiếc xe của bọn người coi giữ cô.
Cô vẫn quàng chiếc khăn quanh cổ như một chiếc hijab hôm nào ở nhà Leyla. Chiếc váy luật sư đen khắc khổ và chiếc blouse dài tay với áo khoác đập vào mắt ông như một thoáng ngạc nhiên. Chúng gợi lên hình ảnh một luật sư hiện diện ở tòa án, hay vừa từ đó về, cho đến khi ông nhớ ra rằng chính ông cũng chọn bộ com lê màu sẫm nhất cho cuộc gặp đêm nay với tiến sĩ Abdullah.
“Nước nhé?” ông thận trọng đề nghị. “Không chanh? Nhiệt độ phòng? Pha như lần trước?”
Cô nói, “Vâng, làm ơn,” nhưng không mỉm cười.
Ông gọi hai cốc nước, một cho ông. Bắt tay cô, ông chỉ cho phép mình liếc xéo qua mặt cô vì sợ điều mà ông có thể thấy trên đó. Trông cô mệt mỏi và mất ngủ. Môi cô mím chặt để tự chủ.
“Và tôi nghĩ cô có những người hộ tống ở đây, đúng không?” ông nói cố ý vui vẻ. “Chúng ta có thể mời họ qua uống một chút, nếu cô muốn. Một chai sâm banh chẳng hạn.”
Một cái nhún vai giống như Georgie.
Ông đang cố ý làm bộ làm tịch vì cô. Ông đang diễn một trò hề Anh ngu xuẩn. Ông đang dùng hài kịch theo cái cách chẳng để làm gì, nhưng đó lại là cách duy nhất mà ông biết. Ông là một diễn viên nghiệp dư già nua, đang chuẩn bị cho vai diễn lớn của cô, và muốn bộc lộ cho cô thấy rằng ông yêu cô.
“Tôi nghĩ cô đang được bảo vệ có hơi kém, thật đấy Annabel ạ. Căn cứ theo cái chúng ta dường như xứng đáng với những người điều khiển chúng ta. Cô chỉ có hai tên súc sanh, trong khi tôi có ba. Những tên của tôi ngồi đằng kia, nếu mà cô thèm ngó một cái.” Ông ra hiệu chỉ thẳng theo hướng bọn họ. “Gã trẻ tuổi nhỏ con vận bộ com lê là đầu não của bọn chúng. Tên gã là Lantern. Ian Lantern từ sứ quán Anh ở Berlin, cô có thể kiểm tra lại với ông đại sứ bất cứ lúc nào. Hai tên kia là, ờ nói thẳng là cấp dưới một chút. Chẳng có mấy tí trong đầu. Tôi nghĩ cô có đeo thiết bị nghe?”
“Có.”
Hình như ông thấy chớm một nụ cười? Ông tin thế. “Tốt. Vậy chúng ta yên trí có những người nghe nghiêm chỉnh. Hay là cô nghĩ” - như thể có một nỗi lo bất ngờ xâm chiếm ông - “hay là cô nghĩ những tên súc sanh của cô chỉ nghe trộm cô, còn những tên của tôi thì chỉ nghe tôi?. Không, đơn giản là điều đó không thể xảy ra, nhỉ? Tôi không phải là chuyên gia điện tử, nhưng bọn họ không thể dùng những bước sóng khác nhau. Hay là có thể?” Ông nhìn săm soi bên phải bên trái qua vai cô, làm ra vẻ kiểm tra. “Thật ra không nên quá lo lắng về bọn chúng,” ông vừa nói vừa lắc đầu tự trách. “Suy cho cùng, đêm nay chúng ta là ngôi sao mà. Bọn họ chỉ là khán thính giả. Bọn họ chỉ biết nghe mà thôi,” ông giải thích và được tặng thưởng một nụ cười đầy khích lệ, không phòng thủ đến nỗi nó giống như cả một thế giới mới mẻ để đắm mình vào.
“Ông đã có hộ chiếu của anh ấy,” cô nói, vẫn với nụ cười. “Người ta bảo tôi ông thật có lòng tốt.”
“À, lòng tốt thì tôi không biết, nhưng tôi nghĩ chắc cô muốn được thấy nó. Tôi nghĩ tôi cũng đã muốn được thấy nó. Dạo này đơn giản là ta chẳng biết ta đang làm việc với ai. Đáng tiếc là tôi chưa thể trao nó cho cô. Tôi chỉ có thể cho cô xem, sau đó đưa lại cho cậu Lantern, ở phía bên phải chúng ta, anh ta sẽ phải trả nó lại cho một trong những người của cô, họ sau đó sẽ cấp hiệu lực, nếu có thể diễn đạt như thế, ngay khi vị khách hàng của chúng ta làm xong cái việc mà anh ấy có ý định làm - và được mong đợi làm.”
Ông đưa hộ chiếu ra cho cô. Không che giấu, mà đưa thẳng nó qua bàn với vẻ phô trương khiến cho cả hai nhóm theo dõi khỏi phải giả vờ đang làm chuyện gì khác chứ không phải theo dõi họ.
“Hay là có những thay đổi bên phía nhà cô?” ông hớn hở tiếp tục. “Thiết yếu để đối chiếu các bản thuật lại với những người này, tôi thấy vậy. Họ không phải loại người mà chúng ta có thể gọi là đầy lòng trung thực. Họ miêu tả nó cho tôi thế này đây. Cô sẽ đưa khách hàng của chúng ta đến ngân hàng, anh ta làm thủ tục thanh toán sau đó được đưa - trực tiếp, tôi chắc chắn thế - đến một cơ quan mà tôi không được phép biết địa chỉ, tại đó anh ta sẽ điền vào các mẫu sao ba bản, và sẽ được nhận hộ chiếu Đức. Cái ta đang có đây, bây giờ sẽ tức thì có hiệu lực. Vậy có thống nhất không? Hay chúng ta có một khó khăn gì?”
“Nhất trí,” cô nói.
Cô cầm hộ chiếu từ tay ông và xem kỹ. Đầu tiên là ảnh, rồi đến vài con dấu nhập cảnh xuất cảnh vô thưởng vô phạt, không có gì quá mới. Rồi đến ngày hết hạn, ba năm bảy tháng kể từ hôm nay.
“Tôi cần đi với anh ấy để nhận cái này,” cô nói làm cho ông vui vì thấy lại vẻ quả quyết trước đây của cô.
“Tất nhiên cô sẽ đi. Là luật sư của anh ấy, cô làm thế nào khác được.”
“Anh ấy ốm. Anh ấy cần thời gian nghỉ ngơi.”
“Tất nhiên anh ấy cần. Và sau tối nay, anh ấy có thể thong thả bao nhiêu tùy thích,” Brue nói. “Và tôi có một ít tài liệu cho riêng cô.” Ông lấy lại hộ chiếu và đặt một phong bì chưa dán vào bàn tay chờ đợi của cô. “Không cần đọc ngay bây giờ đâu. Tôi e rằng nó chẳng phải vật báu đáng ngại gì đâu. Chỉ là một mẩu giấy. Nhưng nó cũng trả lại tự do cho cô. Không có các cuộc truy tố trả thù hay bất cứ chuyện gì thuộc loại đó, miễn là cô không làm lại chuyện đó, mặc dầu lẽ đương nhiên là tôi muốn cô làm thế. Và nó cũng cám ơn cô đã nhập cuộc, ấy là nói vậy. Đó là về cái gần với một lời cầu hôn nhất mà họ có được trong vụ này.”
“Tôi không quan tâm chuyện được trả tự do.”
“Thôi nào, tôi thật tình nghĩ cô nên quan tâm đấy,” ông đáp.
Nhưng lúc này ông không nói tiếng Đức nữa mà chuyển sang nói tiếng Nga, và ông thích thú thấy là việc ấy đã gây nên một đợt bối rối hốt hoảng trong hai phe ở hai đầu lối đi. Những cái đầu vụt ngẩng lên, những cái đầu quay sang hỏi nhau một cách thất vọng qua gian bên: có ai trong chúng ta ở đây biết tiếng Nga không? Những biểu hiện hoang mang cho thấy là không có.
• • •
“Và bây giờ chúng ta có vài phút riêng một mình với nhau - hay tôi hy vọng thế,” - Brue tiếp tục bằng thứ tiêng Nga cổ điển học ở Paris, “có vài vấn đề tuyệt mật và hết sức riêng tư tôi muốn trình bày với cô. Tôi có thể làm thế không?”
Ông vui mừng thấy nét mặt cô bừng sáng một cách thần kỳ.
“Ông có thể làm thế, ông Brue.”
“Cô đã nói đến nhà băng của tôi. Cái ngân hàng chết tiệt của tôi. Không có nó, anh ấy đã không đến đây. Được, bây giờ anh ấy đã ở đây rồi. Và chúng ta tin rằng anh ấy có thể ở lại. Có phải cô vẫn mong giá anh ấy đừng đến?”
“Không.”
“Thế là tôi nhẹ cả nguời. Tôi cũng mong cô biết rằng tôi có một đứa con gái mà tôi rất yêu tên là Georgina, tôi gọi nó vắn tắt là Georgie. Nó là đứa con của cuộc hôn nhân trước mà tôi đính ước khi tôi còn chưa hiểu bản chất của hôn nhân. Hay là ở khía cạnh này, tình yêu. Lúc đó tôi không thích hợp cho hôn nhân và không thích hợp để làm bố. Bây giờ chuyện đó xa xưa rồi. Georgie sắp có con và tôi sẽ học để làm ông ngoại.”
“Điều ấy thật tuyệt.”
“Cám ơn cô. Tôi đã đợi để đuợc nói với một ai đó, và hôm nay tôi đã nói đuợc rồi, nên tôi rất vui lòng. Georgia bị trầm cảm. Tôi không tin biệt ngữ loại này, nhưng trong trường hợp của nó tôi tin rằng các chẩn đoán phù hợp với thực trạng. Nó phải đuợc cân bằng. Tôi nghĩ thuật ngữ là vậy. Nó sống ở California. Với một nhà văn. Nó lại bị chứng biếng ăn. Nó đã thành như một con chim chết đói. Không ai có thể làm gì đuợc. Thật là một chuyện buồn. Ly hôn không giúp gì được. Nó khôn ngoan chạy sang Hoa Kỳ. Đến California. Bây giờ nó đang ở đây.”
“Ông đã nói rồi.”
“Tôi xin lỗi. Ý tôi là, nó đã bình tâm trở lại. Tôi mới nói chuyện với nó cách đây mấy đêm. Đôi khi tôi nghĩ, khoảng cách nói chuyện qua điện thoại càng xa thì càng dễ dàng nghe xem nó có đuợc hạnh phúc không. Trước đây nó đã sinh được một đứa con, nhưng đứa bé chết. Lần này thì không, tôi chắc về chuyện này. Tôi biết đứa bé sẽ không chết. Tôi lạc đề mất rồi. Thứ lỗi cho tôi. Tôi chợt nghĩ, khi chuyện này xong, tôi sẽ nghỉ ít ngày và bay sang thăm nó. Có thể ở chơi một thời gian. Thú thực với cô, ngân hàng đang hấp hối. Tôi không thể bảo rằng tôi sẽ nhớ nó. Mọi thứ đều có tuổi thọ của mình. Và rồi tôi nghĩ: một khi tôi đã ở đó và quen một chút, và cô cũng đã bình tâm, cô có thể xem xét đến chơi với chúng tôi ít ngày - mọi phí tổn do tôi chịu, rõ rồi. Đưa theo ai đó tùy cô - và bắt đầu làm quen với Georgie một chút, và con của nó. Và chồng nó nữa, tôi chắc là rất kinh khủng.”
“Tôi thích thế lắm.”
“Cô không cần phải trả lời ngay bây giờ. Đây không phải khảo bài. Chỉ cần nghĩ đến chuyện đó. Đó là tất cả những gì tôi định nói. Thôi bây giờ chúng ta quay lại tiếng Đức kẻo các thính giả của chúng ta bồn chồn lắm rồi.”
“Tôi sẽ đến,” cô nói, vẫn bằng tiếng Nga. “Tôi thích thế. Tôi không cần suy nghĩ. Tôi biết tôi sẽ đến.”
“Tuyệt diệu,” bây giờ ông trở lại tiếng Đức, nhìn đồng hồ tay như thể muốn xác định xem ông đã xa văn phòng của mình bao lâu. “Tôi còn có một chút việc khác, đó là danh sách hiến tặng của Abdullah cho Chechnya. Ông ấy có những đề nghị tổng quát liên quan đến cộng đồng Hồi giáo nói chung, nhưng đây là danh sách sơ khởi mà ông đề nghị cho Chechnya. Ông nghĩ vị khách hàng của chúng ta có thể muốn ngó qua một chút trước buổi họp tối nay? Có lẽ nó sẽ làm cho mọi việc trôi chảy hơn. Cho phép tôi nói là tôi mong được thấy cả hai vị vào lúc mười giờ tối nay được không?”
“Được ạ,” cô nói. “Được ạ,” với một cái gật đầu quả quyết để nhấn mạnh lời nói và quay người bước cứng cỏi về phía cửa xoay, nơi những kẻ hộ tống đang chờ cô.
“Không có cuộc nổi loạn nào đâu, Ian,” Brue đảm bảo với Lantern một cách nhẹ nhàng, rồi đưa trả y tấm hộ chiếu của Issa. “Chỉ là cho sự tự do ý chí của chúng ta dạo chơi một chút.”
• • •
Đúng tám giờ rưỡi khi những người đàn bà của Annabel thả cô xuống con đường trước bến cảng để một mình cô leo cầu thang lên tầng áp mái làm những việc mà bây giờ cô coi là lần cuối cùng: lần cuối cùng Issa là tù nhân của cô và cô là tù nhân của anh, lần cuối cùng hai người cùng nghe nhạc Nga dưới ánh đèn cảng chập chờn qua cửa sổ kính hình vòm, lần cuối cùng cô coi anh như đứa trẻ để cho anh ăn và chọc anh cười, như người yêu nguyên vẹn của cô và người thầy của cô về những nỗi đau và niềm hy vọng không thể nào chịu nổi. Chỉ một giờ nữa thôi là cô phải giao anh cho Brue và tiến sĩ Abdullah. Chỉ một giờ nữa thôi là Bachmann và Erna Frey sẽ có được những gì họ muốn. Với sự giúp đỡ của Issa, có thể họ đã có thể cứu được tính mạng của nhiều người vô tội hơn là tu viện có thể cứu suốt đời - trừ một điều là làm sao bạn có thể tính được những người chưa bị giết?
“Đấy là những đề nghị của tiến sĩ Abdullah phải không?” Issa hỏi, bằng một giọng cơ hồ hách dịch trong khi anh đứng dưới ánh đèn trần ở giữa phòng và đọc.
“Một số trong đó. Ông ấy đặt Chechnya ở trên đầu danh sách. Như anh yêu cầu.”
“Ông ấy khôn ngoan. Cái hội từ thiện mà ông ấy nêu tên ở đây nổi tiếng ở Chechnya. Tôi đã nghe nói đến hội từ thiện này rồi. Nó mang thuốc men bông băng đến cho các chiến sĩ can đảm của chúng tôi ở trong núi và cả thuốc gây mê nữa. Chúng ta sẽ ủng hộ hội từ thiện này.”
“Được.”
“Nhưng trước hết chúng ta muốn cứu trẻ con ở Grozny,” anh nói trong khi vẫn tiếp tục đọc. “Và sau đó là những bà góa, những phụ nữ trẻ bị cưỡng hiếp mà không đồng lõa thì sẽ không bị trừng phạt, mà theo ý muốn của Thượng đế, họ sẽ được ăn ở trong những khách sạn đặc biệt. Thậm chí ngay cả khi tội đồng lõa của họ vẫn còn bị nghi ngờ, họ cũng sẽ được như vậy. Đây là ý nguyện của tôi.”
“Được.”
“Sẽ không ai bị trừng phạt, ngay cả bởi gia đình của họ. Chúng ta sẽ chỉ định những người trông nom giỏi cho những phụ nữ này.” Anh lật một trang. “Con cái những người tử đạo sẽ được ưu đãi, đó là ý muốn của Allah. Nhưng với điều kiện cha chúng nó không giết người vô tội. Nếu họ đã giết những người vô tội, là điều Allah không cho phép, chúng ta cũng vẫn sẽ cung cấp nơi ăn chốn ở cho họ. Cô có đồng ý với điều này không, Annabel?”
“Nghe hay đây. Hơi lộn xộn một chút, nhưng tuyệt hay,” cô mỉm cười nói.
“Tôi còn ngưỡng mộ hội từ thiện này nữa. Tôi chưa nghe nói đến nó, nhưng tôi ngưỡng mộ nó. Việc giáo dục con em chúng tôi đã bị sao nhãng nhiều trong cuộc chiến tranh giành độc lập lâu dài của chúng tôi.”
“Sao anh không đánh dấu vào những điểm mà anh thích. Anh có bút chì không?”
“Tôi thích tất cả những cái này. Tôi thích cả cô nữa, Annabel ạ.”
Anh gấp bản danh sách lại và đút vào túi.
Đừng nói điều đó, cô van nài anh từ chỗ đứng của mình ở đầu đằng kia gian gác mái. Đừng bắt tôi phải hứa. Đừng tô vẽ giấc mơ không có đất sống. Tôi không đủ mạnh cho chuyện này. Ngừng lại đi!
“Khi cô đã cải đạo sang tín ngưỡng Thượng đế, đó là tín ngưỡng của mẹ tôi và của nhân dân tôi, và tôi là một bác sĩ quan trọng có học vấn Tây phương và có chiếc xe như của ông Brue, tôi sẽ hiến dâng tất cả thời gian không hành nghề để an ủi cô. Đây là điều tôi cam đoan với cô, Annabel. Khi cô mang bầu mà vẫn chưa quá to, cô sẽ làm y tá trong bệnh viện của tôi. Tôi đã nhận thấy cô có tình thương rất lớn khi cô không quá nghiêm khắc. Nhưng trước hết cô phải được đào tạo đã. Chỉ có chuyên môn về luật thì không đủ để làm một y tá.”
“Tôi không nghĩ là đủ.”
“Cô có nghe không đấy, Annabel? Vui lòng tập trung vào.”
“Tôi chỉ đang xem đồng hồ thôi. Ông Brue muốn chúng ta đến trước tiến sĩ Abdullah. Anh cần phải làm yêu sách trước, ngay cả nếu anh không muốn nhận tiền.’
“Tôi biết rồi, Annabel. Tôi quá quen thuộc với những vấn đề chuyên môn đó. Đó là lý do tại sao chiếc limousine của ông ấy sẽ đến đây để đón tôi đúng lúc. Thế Leyla và Melik có đến dự lễ không?”
“Không, họ đang ở Thổ Nhĩ Kỳ.”
“Thế thì tôi buồn. Lẽ ra họ phải được an ủi về việc tôi sắp làm. Tôi sẽ cung cấp cho trẻ em của chúng tôi một nền giáo dục rộng mở và phong phú. Không phải ở Chechnya đâu, thật không may, ở đó quá nguy hiểm. Trước hết bọn trẻ sẽ học kinh Koran, sau đó, văn học và âm nhạc. Chúng sẽ khao khát đạt được Năm Trụ Cột Hồi Giáo. Nếu chúng trượt, chúng sẽ không bị phạt. Chúng ta sẽ yêu chúng, và sẽ cùng cầu nguyện với chúng thật nhiều. Riêng tôi, tôi không thạo về các bước cần thiết cho sự cải đạo của cô đâu. Một thầy tế thông thái sẽ đảm đương nhiệm vụ đó. Khi nào tôi hình thành xong ý kiến cá nhân tôi về tiến sĩ Abdullah, tôi tôn trọng những tác phẩm của ông, tôi sẽ xem xét xem ông ta có thích hợp không. Tôi chưa bao giờ xúc phạm cô, Annabel.”
“Tôi biết.”
“Và cô cũng không thử quyến rũ tôi. Có những lúc tôi tưởng chừng cô sắp làm chuyện đó. Nhưng cô làm chủ được bản thân.”
“Tôi nghĩ chúng ta nên bắt đâu sửa soạn đi là vừa, anh thấy thế nào?”
“Chúng ta sẽ nghe Rachmaninoff.”
Đi ngang qua phòng đến bên cửa sổ vòm, anh mở máy quay đĩa. Nó đang để ở mức âm lượng lớn mà anh thích khi ở nhà một mình. Những hợp âm hùng mạnh bùng lên rung cả các rui nhà. Anh quay ra cửa sổ và cô thấy bóng anh cẩn thận sửa soạn cho cuộc hành trình. Chiếc áo khoác bằng da của Karsten không còn hấp dẫn anh nữa. Anh thích mặc áo choàng cũ màu đen và đội chiếc mũ len của anh hơn, với chiếc túi yên vắt chéo qua vai.
“Nào Annabel. Cô sẽ theo bước tôi, xin mời. Và tôi sẽ bảo vệ cô. Đó là truyền thống của chúng tôi.”
Nhưng đến cửa anh đứng như trời trồng và nhìn cô chằm chằm một lúc với sự thẳng thắn chưa từng thấy trước đó đến nỗi cô thật sự tin rằng anh sắp đóng cửa lại và giữ cô ở bên trong với anh, để tiếp tục mãi mãi cuộc sống ở đây trong cái thế giới riêng của hai người.
Và có lẽ cô đã mong anh làm thế, nhưng đúng lúc đó anh đi thẳng xuống cầu thang và thế là quá muộn. Một chiếc xe limousine dài màu đen đang đứng đợi. Người tài xế giữ cho cửa sau xe mở. Anh ta là một thanh niên tóc vàng hoe, một chàng trai đang độ thanh xuân. Cô bước lên xe. Người lái xe đợi cho Issa lên theo cô, nhưng anh từ chối. Nguời lái xe mở cửa trên và anh leo lên.
• • •
Brue dẫn lối vào nơi làm việc của ông, theo sau ông là Issa rồi đến Annabel trong bộ đồ đen luật sư của cô. Issa, ngay khi vừa quan sát, ông đã nhận thấy sự thay đổi. Người lánh nạn Hồi giáo ngoan đạo đã biến thành đứa con triệu phú của một đại tá Hồng quân. Vừa bước vào phòng anh ta đã trừng mắt nhìn quanh một cách khinh bỉ, như thể dinh cơ nguy nga của nhà băng không phải là cái gì mà anh ta đã quen. Chưa được mời anh ta đã ngồi tót vào chiếc ghế mà Brue định dành cho Annabel, khoanh tay và vắt chân đợi đuợc tiếp chuyện, bằng cách đó bất ngờ đẩy Annabel xuống cuối hàng.
“Frau Richter, cô không muốn đến gần chúng tôi hơn một chút sao?” Brue hỏi bằng tiếng Nga là thứ tiếng cả ba đều nói.
“Cám ơn ông Brue, tôi cảm thấy thoải mái lắm rồi,” cô trả lời với nụ cười mới hiện.
“Vậy tôi xin bắt đầu,” Brue nuốt nỗi thất vọng, tuyên bố.
Và bắt đầu, mặc dầu cái cảm giác là lạ như đứng nói trước một khán phòng đông nghịt chứ không phải trước hai người ngồi cách ông gần hai mét. Nhân danh Brue Freres, ông trang trọng chào mừng Issa như một người con của một khách hàng lâu năm của ngân hàng - nhưng khéo léo tránh đưa ra lời chia buồn về vị khách hàng quá cố.
Issa vênh mặt, nhưng gật đầu ghi nhận. Brue hắng giọng. Ông nói, trong hoàn cảnh hiện nay, ông đề nghị giảm các thủ tục xuống mức tối thiểu. Ông đã được tư vấn bởi luật sư của Issa - hơi cúi chào về phía Annabel - rằng Issa đã đề nghị đòi quyền thừa kế của anh với điều kiện là, ngay sau đó, anh tống khứ nó đi cho các tổ chức từ thiện Hồi giáo được chọn.
“Tôi cũng được thông báo thêm là nhằm mục đích này, anh sẽ được tiến sĩ Abdullah, một chức sắc tôn giáo có danh tiếng, hướng dẫn, tôi cũng đã chuyển những chỉ thị của anh cho ông xem xét. Tiến sĩ Abdullah vui lòng cộng tác với chúng ta ngay sau đây.”
“Tôi sẽ được hướng dẫn bởi đấng Allah,” Issa chỉnh lại ông bằng giọng càu nhàu khó chịu, không nói với Brue mà nói với chiếc vòng cổ tay gắn kinh Koran bằng vàng mà anh đang giữ khư khư trong tay. “Nó sẽ là ý Thượng đế, thưa ngài.”
Nhằm mục đích này - Brue tiếp tục không nản lòng - ông yêu cầu trong hoàn cảnh bình thường hơn người đưa yêu sách chứng minh nhân thân của mình. Tuy nhiên - nhờ khả năng thuyết phục của Frau Richter - ông nhấn mạnh - ông cảm thấy có thể bỏ qua thủ tục này, và giải quyết không chậm trễ yêu sách - lại nói với Annabel – nếu đó vẫn còn là ý muốn của khách hàng cô.
“Đúng thế, thưa ngài! Tôi yêu cầu,” Issa kêu lên trước khi cô kịp trả lời. “Tôi đòi cho tất cả những người Hồi giáo! Tôi đòi cho Chechnya!”
“Vâng, nếu thế, xin mời đi theo tôi,” Brue nói. Và nhặt lên một chiếc chìa khóa nhỏ, được chế tạo hết sức cầu kỳ, từ khay tài liệu của ông.
• • •
Cánh cửa vào hầm bí mật cót két mở. Sau khi các kỹ thuật viên đi rồi, Brue chỉ mở một trong các hệ thống của nó. Những két sắt được xếp dọc theo một bức tường, màu xanh lục, mỗi tủ có hai lỗ khóa. Edward Amadeus, người khoái những cái tên ngộ nghĩnh đặt cho mọi vật, đã gọi nó là chuồng chim câu của ông. Brue biết, một số tủ sắt đã không hề được mở ra trong suốt năm mươi năm. Bây giờ có lẽ nó sẽ không bao giờ còn được mở ra nữa. Ông quay sang Annabel và thấy mặt cô sáng lên đầy vẻ háo hức thận trọng. Đôi mắt cô đăm đăm nhìn ông, cô đưa cho ông bức thư của Anatoly gửi Issa, trong đó số của két sắt viết bằng mực dưới dạng những chữ số in đậm. Ông đã thuộc lòng chúng. Ông thuộc lòng chiếc tủ sắt này, mặc dầu không biết trong đó có gì: trông móp méo hơn các tủ lân cận, nó khiến ông nghĩ đến những hòm đạn Nga. Chữ trên tấm nhãn của nó - một tấm thẻ vàng ố bốn góc được giữ bằng bốn chiếc kẹp sắt nhỏ xíu - được làm bằng chính bàn tay mô phạm của Edward Amadeus: LIP - một nhát bút, con số và ghi chú: Không được hành xử nếu chưa hỏi ý kiến EAB.
“Chìa khóa của anh đâu, xin vui lòng?” ông hỏi Issa.
Trả chiếc vòng lại cổ tay, Issa mở cúc chiếc áo choàng dài và lục trong vạt trước áo ngắn để tìm chiếc ví bằng da sơn dương. Nới lỏng miệng ví, anh rút ra chiếc chìa khóa và dúi vào tay Brue.
“Tôi e rằng việc này chính anh phải làm, Issa ạ,” Brue bảo anh với nụ cười như cha chú. “Anh xem, tôi có cái của tôi đây này.” Và ông giơ chiếc chìa khóa của ngân hàng cho anh xem.
“Issa phải mở trước phải không?” Annabel hỏi với vẻ vui sướng của đứa trẻ chơi trò ăn cỗ.
“Tôi nghĩ đó là thông lệ, cô có nghĩ thế không, Frau Richter?”
“Issa, anh làm theo lời ông ấy đi. Cấm chìa vào lỗ khóa và xoay.”
Issa bước tới và nhét chìa vào chiếc khóa bên trái. Nhưng khi anh thử xoay, thì nó kẹt. Thấy trở ngại, anh rút nó ra và tra vào khóa bên phải. Nó xoay. Anh bước lùi lại. Brue bước lên, và với chìa khóa của ngân hàng, ông xoay khóa bên trái. Rồi ông cũng bước lui lại.
Đứng bên nhau, Brue và Annabel Richter nhìn theo khi con trai của đại tá Grigori Borisovich Karpov, với sự khiếp sợ không lẫn lộn được, nhận quyền sở hữu những triệu bạc kiếm được một cách bất chính của người cha quá cố, được Edward Amadeus, OBE quá cố cất giữ cho anh, theo lệnh của tình báo Anh. Mới thoạt nhìn, dường như bên trong tủ không có gì nhiều: một chiếc phong bì lớn màu vàng dính lem dầu, không gắn xi, không địa chỉ.
Hai bàn tay gầy guộc của Issa run rẩy. Mặt anh, dưới ánh đèn trần lại một lần nữa trông giống mặt người tù, đầy những hang hốc và bóng tối, hắt lên một cảm giác ghê tởm.
Bằng ngón tay trỏ và ngón tay cái, anh rút ra một cách khó khăn một đoạn giấy in nổi giống như một tờ giấy bạc lớn. Kẹp chiếc phong bì dưới nách để có lúc dùng lại, anh mở giấy tờ bên trong và, quay lưng về phía Brue và Annabel, anh xem xét nó - nhưng như xem một thứ đồ vật do người tạo tác hơn là xem xét đến thông tin có thể chứa trong ấy, vì chữ viết là bằng tiếng Đức, không phải Nga.
“Có lẽ Frau Richter sẽ muốn dịch nó ở trên gác,” Brue nhẹ nhàng đề nghị sau một phút trôi qua mà Issa chưa hề động đậy.
“Richter?” Issa nhắc lại như thể chưa bao giờ nghe đến cái tên này.
“Annabel. Frau Richter. Luật sư của anh. Nhờ có cô gái ấy anh mới có mặt ở đây hôm nay, và rất nhiều thứ khác nữa, nếu tôi có thể nói như vậy.”
Trở về không biết từ cõi nào mà anh phiêu du bấy giờ, Issa đưa giấy tờ cho Annabel, rồi đưa chiếc phong bì.
“Đây là tiền à, Annabel?”
“Nó sẽ là tiền,” cô nói.
• • •
Lên lầu một lần nữa, khác với cung cách ngày thường của mình, Brue có vẻ qua loa cho xong, sợ rằng Issa khi đối diện với cái thực tế thô bạo về sự tàn ác khủng khiếp của người cha, có thể sẽ rút lại quyết định. Annabel có lẽ cũng cảm thấy một nỗi lo lắng giống như thế, đã nhanh chóng làm theo ám hiệu của ông. Cô lanh lợi dẫn khách hàng lướt qua các điều khoản và điều kiện của trái phiếu vô danh của anh, và hỏi anh có câu hỏi nào không, hỏi câu nào Issa cũng nhún vai ưng thuận một cách lơ đãng. Anh không có câu hỏi nào. Có một giấy biên nhận để anh ký, và Brue đưa nó cho Annabel, mời cô giải thích mục đích của nó cho khách hàng. Lặng lẽ và kiên nhẫn cô nói cho Issa biết giấy biên nhận nghĩa là gì.
Nó có nghĩa là trước khi anh lại cho hết tiền đi thì tiền đó là của anh. Nếu khi ký biên nhận này, anh đổi ý và giữ tiền lại, hoặc tìm cách sử dụng với mục đích khác, thì anh có quyền làm thế. Brue chợt nghĩ rằng khi nói điều ấy với Issa, Annabel đã đặt lòng trung thành với thân chủ của mình lên trên lòng trung thành đối với những kẻ đang lôi kéo và điều khiển cô; và rằng đây là một vấn đề nguyên tắc đối với cô cũng như một hành động dũng cảm đáng kể, đánh liều tất cả những gì mà cô đuợc đưa đến đây để thực hiện.
Nhưng Issa không có ý định thay đổi quyết định. Với cây bút vung vẩy trong tay phải, còn mấy ngón bàn tay trái chụm lại bóp trán, sợi xích vàng lóe ra, Issa ký tờ biên nhận bằng một chuỗi những nét vạch xiên giận dữ. Nhất thời bất cẩn trong cung cách Hồi giáo của mình, Annabel nhoài người ra lấy cây bút từ tay anh, vô tình chạm lướt bàn tay vào tay anh. Anh rụt lại, nhưng dù sao cô cũng đã cầm lấy nó.
Một báo cáo tài chính đã được giám đốc của quỹ Liechtenstein chuẩn bị sẵn. Dựa vào trái phiếu vô danh và giờ là giấy biên nhận đã ký, Issa trở thành chủ nhân duy nhất của quỹ này. Tổng số tài sản của anh, khi Brue chuyển cho tiến sĩ Abdullah là mười hai triệu rưỡi đô la Mỹ; hay như tiến sĩ Abdullah thích mô tả nó cho bạn ông ở Weybridge, Surrey, là mười hai tấn rưỡi gạo Mỹ.
“Issa,” Annabel gọi, cô làm anh tỉnh khỏi cơn mê.
Nhìn chằm chằm vào tờ trái phiếu vô danh, Issa đưa tay quệt ngang hai má hõm, khi đôi môi anh mấp máy khẽ cầu nguyện. Và Brue, người biết những biểu hiện nhỏ nhất của những người bỗng dưng được món tiền từ trên trời rơi xuống - sự lóe sáng cố kìm nén cửa lòng tham, sự hân hoan đắc thắng, sự nhẹ nhõm - tìm kiếm chúng ở Issa nhưng vô ích, cũng như ông đã tìm kiếm chúng vô ích ở Abdullah; hay nếu ông có thấy chúng thì thấy chúng trước hết tự chuyển sang Annabel, rồi biến mất ngay khi vừa xuất hiện.
“Vậy thì,” ông vui vẻ nói, “coi như bây giờ chúng ta không có thêm vấn đề gì cần thảo luận thêm nữa, những điều tôi đã đề nghị với Frau Richter rằng chúng tôi làm - và thật ra tạm thời chúng tôi đã làm, nhằm đưa anh duyệt, Issa - là tạm thời đưa tất cả số tiền vào một tài khoản ở ngân hàng chúng tôi, sao cho nó có thể được chuyển ngay lập tức qua thư chuyển tiền đến những người thụ hưởng mà anh và tiến sĩ Abdullah đã quyết định dưới ánh sáng của những mối quan tâm đạo đức tôn giáo của quý vị” - ông vung cánh tay lên và liếc nhìn chiếc đồng hồ đắt tiền của mình - “trong vòng, ờ, bảy phút nữa kể từ lúc này. Ít hơn, nếu tôi không lầm.”
Ông đã không lầm. Một chiếc xe chạy vào sân trước. Tiếp theo là nhiều giọng nói thầm thì bằng tiếng Ả-rập. Lái xe và hành khách đang chào tạm biệt nhau. Brue nghe được Inshallah và nhận ra giọng của tiến sĩ Abdullah. Ông nghe được tiếng salaam chào tạm biệt. Chiếc xe chạy đi và tiếng hai chân bước đến hiên trước.
“Xin phép một phút, Frau Richter,” ông nói giọng trang trọng và hối hả bước xuống cầu thang cho màn kịch mới.
• • •
Arni Mohr tụ hào về chiếc xe tải do thám của ông ta, và chỉ bỏ nó đi với điều kiện là nó được bố trí ở bên ngoài khu vực cấm mà ông ta và cảnh sát đã vạch ra xung quanh ngân hàng của Brue. Bên trong khu vực này: những trinh sát đường phố của ông và những tay súng của bên cảnh sát; bên ngoài khu vực: chiếc xe tải, Bachmann, đội hai người của anh, và một chiếc xe taxi màu kem không người, dán đầy quảng cáo. Đây là cách bố trí được Keller và Burgdorf duyệt, Axelrod cãi lại không ăn thua, và được Bachmann vùng vằng chấp nhận.
“Tôi không thể đấu với họ đến từng chuyện nhỏ nhặt như thế, Günther ạ,” Axelrod nhấn mạnh với giọng tuyệt vọng hơn anh muốn. “Nêu tôi phải bỏ đi một vài con tốt cho con hậu của họ, đối với tôi thế là được,” ông nói thêm, nhắc Bachmann nhớ đến những ván cờ vua mà Bachmann và Axelrod thường chơi trong hầm tránh không kích bên dưới tòa đại sứ Đức ở Beirut.
“Nhưng con hậu là của chúng ta, đúng không?” Bachmann khăng khăng đầy lo lắng.
“Trong những thuật ngữ được mô tả thì đúng. Nếu cậu có thể đưa BIỂN CHỈ ĐƯỜNG về căn hộ an toàn của cậu và nếu cậu có thể nói với ông ấy trên những quy tắc mà chúng ta đã nhất trí, và nếu ông ấy chấp nhận hợp tác, ông ấy sẽ là của chúng ta. Như thế đã trả lời được câu hỏi của cậu chưa?”
Chưa. Nó chưa trả lời được. Nó làm tôi hỏi anh tại sao cần đến ba chữ “nếu” để trả lời là được.
Nó không giải thích được Martha đã làm cái trò gì ở cuộc họp, hay tại sao cô ta cho Newton, tên rạch họng ở Beirut theo cùng.
Hay người đàn bà mặt lưỡi rìu, tóc vàng hoe, vai rộng ấy là ai?
Hay tại sao cô ta phải được đưa lén vào phòng hội nghị giống như một món hàng cấm sau khi tất cả mọi người đã ngồi, và sau đó lẻn ra khỏi phòng giống như một gái điếm khách sạn?
Và tại sao Axelrod, người cũng bực tức về sự có mặt của người Mỹ không kém gì anh, lại không thể ngăn được sự có mặt ấy; và tại sao Burgdorf rõ ràng đã lờ tịt chuyện này.
Chiếc xe tải, không giống như những chiếc khác cùng loại của nó, lại không được nâng cấp lên thành xe tải nặng, hay chuyển thành xe chở hàng, hay xe chở container, mà để thành một chiếc xe vệ sinh đường phố xám xịt, nhếch nhác như trước đây, với tất cả những đồ trang trí ban đầu. Nó còn biết tàng hình, như Arni thường phét lác. Không ai hỏi han đến sự có mặt của nó, không hề hỏi gì vào lúc đêm hôm khuya khoắt, khi nó bò quanh trung tâm thành phố. Trong khi di động nó cũng hoạt động thoải mái như khi đứng yên. Nó có thể tuần tra đường phố với tốc độ ba ki lô mét một giờ mà không ai có thể nói điều gì.
Để tìm chỗ đậu cho nó, Bachmann đã chọn một góc thụt vào cho xe giữa bến Alster và đường cái, cách ngân hàng của Brue chỉ nửa cây số. Dưới ánh sáng đèn đường màu vàng cam, đội của anh có thể say sưa ngắm nhìn qua cửa kính xe một bãi trồng cây hạt dẻ và, qua những khe hình mũi tên được che đi ở đằng sau, bức tượng đồng hai cô bé mãi mãi vẫn trong tư thế chuẩn bị thả diều.
Ngược với Mohr, Bachmann giữ quân số của anh tối thiểu và kế hoạch chơi của anh đơn giản. Để theo dõi dãy màn hình video và hình ảnh thu qua vệ tinh, ngoài Maximilian ra anh còn tuyển dụng thêm người bạn gái không rời của cậu ta, Niki, người nói lưu loát tiếng Nga và tiếng Ả-rập. Để có được các hỗ trợ trong tình huống khẩn cấp không thể lường trước, anh đã chốt hai trong số các tuần cảnh đường phố trong một chiếc Audi cải tiến ngay ở bên ngoài khu vực cấm chờ cho đến khi nào được gọi. Một mình Bachmann chừng nào còn ngồi trong xe tải thì sẽ xử lý tất cả mọi cuộc tiếp xúc với Arni Mohr và với Axelrod trong Ủy ban Kết hợp ở Berlin. Anh đã nài nỉ Etna Frey cùng đi với anh, nhưng một lần nữa chị dứt khoát từ chối không chịu nghe anh dỗ dành.
“Con bé tội nghiệp ấy đã có tất cả những gì nó có thể lấy được từ em, và nhiều hơn nó biết nhiều,” chị trả lời. Và cảm nhận cái nhìn chăm chú của anh, chị nói sau một quãng lặng dài: “Em đã nói dối cô ấy. Chúng ta đã hứa không bao giờ nói dối. Chúng ta nói không bao giờ nói với cô ấy toàn bộ sự thật, nhưng bất kỳ điều gì chúng ta nói với cô ấy đều là thật.”
“Rồi sao?”
“Em đã nói dối cô ấy.”
“Vậy là em đã nói. Về cái gì?”
“Melik và Leyla.”
“Anh xin, thế điều gì em nói với nó về Melik và Leyla là nói dối?”
“Anh đừng cật vấn em, Günther.”
“Anh đang cật vấn em đấy.”
“Chắc anh đã quên em có một Nguồn tin giấu tên ở bên phía Arni Mohr.”
“Tay vợt tennis tồi. Anh chưa quên. Tay vợt tồi của em làm gì để liên quan đến việc nói dối Annabel về Melik và Leyla?”
“Annabel lo lắng cho họ. Lúc ấy vào nửa đêm. Cô ấy sang phòng em và muốn em đảm bảo rằng Melik và Leyla sẽ không phải chịu gì vì đã chứa chấp Issa. Để làm người tử tế thì cần làm những việc tử tế. Cô ấy nói cô ấy đã nằm mơ thay họ. Nhưng em nghĩ cô ấy chỉ nằm thao thức và lo thôi.”
“Thế em bảo sao?”
“Rằng họ vui đám cưới con gái của Leyla và sẽ trở về tươi vui hạnh phúc, và Melik sẽ hạ bất cứ ai nhận thách đấu trên võ đài, còn Leyla sẽ tìm được một người chồng mới và từ nay với họ mọi chuyện đều tuyệt diệu. Đúng là chuyện thần thoại.”
“Sao lại là chuyện thần thoại?”
“Arni Mohr và tiến sĩ Keller ở Cologne đã đề nghị rút giấy phép cư trú của họ với lý do họ đã vi phạm các điều kiện khi chứa chấp một tên tội phạm Hồi giáo và khuyến khích tính chiến đấu trong cộng đồng Thổ Nhĩ Kỳ. Họ yêu cầu báo cho chính quyền ở Ankara biết. Burgdorf đồng ý miễn là việc cầm giữ họ ở Thổ Nhĩ Kỳ phải diễn ra sao cho không làm nguy hại đến chiến dịch BIỂN CHỈ ĐƯỜNG.”
Nói đến đây chị vùng vằng đóng máy tính, cho giấy tờ vào tủ sắt khóa lại và đi về căn hộ an toàn ở bến cảng để chuẩn bị cho việc BIỂN CHỈ ĐƯỜNG đến vào khuya đêm nay.
Ngồi một mình và ức điên người, Bachmann lại gọi cho Axelrod lần nữa. Câu trả lời tồi tệ đúng như anh đã sợ.
“Hãy vì Chúa, Günther! Cậu còn muốn mình đánh bao nhiêu trận nữa đây? Cậu muốn mình phải xông vào Burgdorf và bảo hắn rằng chúng ta trước nay vẫn do thám cánh bảo vệ hả?”
• • •
Trong hai giờ qua các tin tức tình báo của chiến dịch tuôn vào xe tải với tốc độ đều đặn và tất cả đều tốt.
Chuyến đi đêm hôm trước của BIỂN CHỈ ĐƯỜNG rõ ràng là sai lầm, vì theo mẫu hành động đã biết của ông, thì ông không bao giờ sử dụng điện thoại công cộng. Ông ta cũng không có thói quen để vợ con ở nhà không được bảo vệ mà ra đi trong đêm hôm khuya khoắt. Đêm nay theo lệ thường ông đề nghị một ông bạn sốt sắng là kỹ sư cầu đường đã nghỉ hưu giúp đỡ: một người Palestine tên là Fuad, trong đời không có gì thích hơn là làm tài xế chở học giả tôn giáo vĩ đại đi một vòng và trao đổi với ông những ý tưởng sâu sắc. Đêm qua, Fuad đã đi nghe một bài giảng ở viện văn hóa địa phương của ông. Đêm nay ông rỗi rãi, và hai người trông coi của BIỂN CHỈ ĐƯỜNG có thể canh giữ nhà, nơi đúng là của họ.
Nhưng BIỂN CHỈ ĐƯỜNG sẽ qua đêm ở đâu trong Hamburg sau cuộc họp ở nhà băng - hay ông nghĩ ông sẽ nghỉ ở đâu? Nếu có bạn bè nào đang đợi ông - nếu ông đã đặt phòng ở khách sạn - nếu ông liều lái xe về nhà mà ngủ trên giường của mình - cái phép tám giờ của Bachmann với ông ta sẽ rút lại chỉ còn ba bốn giờ.
Nhưng ở điểm này ít nhất ông trời đã mỉm cười với những người đặt kế hoạch. BIỂN CHỈ ĐƯỜNG đã nhận lời nghỉ lại nhà em rể của Fuad, một người Iran tên là Cyrus, nơi mà Fuad thường nghỉ lại, và Cyrus đã giao chìa khóa nhà cho Fuad vì anh ta và gia đình đang đi thăm bạn bè ở Lübeck đến sáng mai mới về.
Còn hay hơn nữa, BIỂN CHỈ ĐƯỜNG sẽ tự đi đến đó ngay sau khi kết thúc công việc ở nhà băng. Fuad cố xin đi theo để đợi ở ngoài nhà băng, nhưng BIỂN CHỈ ĐƯỜNG khăng khăng không chịu.
“Tốt nhất ông hãy làm ơn đến ngay nhà ông em rể tốt của ông, cầu đấng Allah phù hộ cho ông ấy, và nghỉ ngơi thoải mái đi, Fuad ạ,” ông thúc giục ông kia qua điện thoại nhà. “Đó là mệnh lệnh tôi ra cho ông, bạn thân quý ạ. Trái tim của ông quá lớn so với lồng ngực của ông. Nếu ông không cẩn thận, Thượng đế sẽ kéo ông về với Người trước thời hạn của ông đấy. Tôi sẽ tự gọi taxi đi thẳng từ nhà băng, ông đừng lo.”
Bởi vậy mới có chiếc taxi không người đậu ngay cạnh chiếc xe tải.
Bởi vậy tấm ảnh căn cước của Bachmann gắn trong giấy bóng kính trên giấy phép của thành phố bên trên tấm bảng đồng hồ của chiếc taxi.
Bởi vậy chiếc áo khoác tồi tàn và chiếc mũ lính thủy của Bachmann treo trên cửa thùng chiếc xe tải. Nếu mọi việc suôn sẻ theo kế hoạch thì đây là quần áo anh sẽ mặc khi đưa BIỂN CHỈ ĐƯỜNG bị bắt cóc về căn hộ an toàn trên bến cảng, để buộc ông ta đi vào con đường đúng đắn.
“Em muốn ba điều ước thành sự thật vào lúc rạng đông,” Erna bảo anh, trước khi ra đi. “Em muốn nắm chắc BIỂN CHỈ ĐƯỜNG trong tay. Em muốn FELIX và cô gái tội nghiệp kia được trả về nơi hoang dã và em muốn anh ngồi trên tàu hỏa với tấm vé một chiều đi Berlin. Hạng bình dân.”
“Còn em?”
“Lương hưu và chiếc thuyền buồm đi biển của mình.”
• • •
BIỂN CHỈ ĐƯỜNG đến Brue Frères vào đúng 22:00.
Vào lúc 20:30, theo các báo cáo mà thám tử của Arni Mohr gửi về, Fuad đã lái chiếc xe BMW 3351 hai chỗ ngồi, niềm tự hào của đời ông, đến tận cửa nhà BIỂN CHỈ ĐƯỜNG. Những lời nói về ý định sử dụng chiếc xe này đến quá muộn nên mấy con rệp nghe trộm không bắt được.
Ra khỏi nhà, BIỂN CHỈ ĐƯỜNG trông rất phấn chấn. Những lời dặn dò vợ con ở nhà, được các micro định hướng bên kia đường thu lại, là hãy cảnh giác và ngợi ca đấng Allah. Những người nghe được đều quả quyết rằng họ đã nhận ra có một “linh cảm thế nào đó” trong giọng nói của ông. Người thì bảo rằng “linh tính chuyện chẳng lành”, người khác thì nghe thấy ông nói “giống như sắp sửa đi một chuyến đi dài không hẹn ngày về”.
Vào lúc 21:14, trực thăng theo dõi báo cáo chiếc BMW đã an toàn đến khu ngoại ô Tây Bắc thành phố, ở đó nó chạy vào một bãi đậu xe có vẻ như để cầu nguyện và giết thời gian trong khi BIỂN CHỈ ĐƯỜNG vào cuộc hẹn gặp ở nhà băng. Trái với tập quán Ả-rập, người ta biết rằng đúng giờ đối với BIỂN CHỈ ĐƯỜNG là một ám ảnh.
Do vậy mà, hai phút sau - vào lúc 21:16 - các thám tử đường phố của Bachmann báo hiệu FELIX và Annabel đã được đón an toàn và đưa đến nhà băng của Brue trên chiếc limousine mà FELIX nằng nặc đòi và Arni Mohr đã vui lòng cho.
Từ khu vực cấm Mohr xác nhận họ đã đến nơi an toàn. Điều này hoàn toàn không cần thiết, bởi vì Bachmann đã trông thấy trên màn hình của Maximilian, nhưng nghĩ kỹ thì trước nay Arni có bao giờ ngại lặp lại.
Vào lúc 21:29, Bachmann biết từ nhiều nguồn tin cũng như Axelrod ở Berlin rằng Ian Lantern đã cố gắng xoay xở vào được bên trong khu vực cấm và đậu xe ở một ngõ cụt có vị trí để nhìn vào nhà băng, và một khách lạ không nhận mặt được ngồi trong ghế trước chiếc xe Peugeot của hắn.
Kinh ngạc, nhưng bây giờ đang chiến dịch, Bachmann biết kìm nén để không thét lên giận dữ. Thay vì thế, anh hỏi Axelrod qua đường dây mã hóa, nhẹ nhàng và điềm tĩnh, rằng chính xác là ai có quyền cho mời Lantern dự bữa tiệc này.
“Hắn cũng có quyền ở đấy ngang với cậu đấy, Günther ạ,” Axelrod chỉ ra.
“Rõ ràng là nhiều hơn.”
“Cậu có cô gái mà cậu lo lắng, hắn có tay chủ nhà băng của hắn.”
Nhưng lời giải thích này vô nghĩa đối với Bachmann. Cứ cho Lantern là kẻ khống chế Brue. Nhưng có phải hắn là kẻ đứng bên cầm tay chỉ việc cho Brue và bằng sở trường của hắn giúp ông nếu ông diễn vụng vai của mình? Công việc duy nhất để lại cho Lantern mà Bachmann nắm được là quắp lấy ông già của anh ta ngay khi cuộc họp kết thúc, lau trán cho ông ta, phỏng vấn ông ta và khen rằng ông ta thật tuyệt vời. Nhưng như thế thì đâu cần phải lảng vảng quanh đó như một ông chồng đưa bà vợ đi đẻ, cách mục tiêu chỉ một trăm mét. Và người khách của hắn là đứa quái nào thế nhỉ? Làm sao ôngbà ta lại dính vào chỗ này?
Nhưng Axelrod đã cắt máy, và Maximilian đang giơ tay lên. Fuad ông kỹ sư về hưu đã đưa BIỂN CHỈ ĐƯỜNG đến ngân hàng Brue Frères.