Kẻ Bị Truy Nã

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3

❊ ❊ ❊

Tin báo đầu tiên về sự có mặt của Issa trong thành phố lọt vào khu trại chật chội của đơn vị Tiếp nhận Ngoại quốc của một cơ quan mang cái tên đàng hoàng ở Hamburg là Cơ quan Bảo vệ Hiến pháp - nôm na là cục tình báo nội địa - vào buổi tối ngày thứ tư gã lang thang trong thành phố, đâu khoảng vào cái lúc gã đang toát mồ hôi run rẩy trước bậc cửa nhà Leyla xin vào.

Đơn vị này, như nó được nhưng chủ nhà bất đắc dĩ biết đến một cách khó chịu, không được đặt trong tòa nhà chính của khu liên hợp ngoài thành phố của cơ quan bảo vệ[1], mà ở xa tít ngoài mảnh sân nhỏ của tòa nhà ấy, sát rạt hàng rào dây thép gai hết mức, chỉ vừa cho một người lách qua mà không bị cứa. Chỗ ở tồi tệ của một đội mười sáu người, đủ cả những nhà nghiên cứu, quan sát, nghe đài, lái xe, vốn là một chuồng ngựa cũ bỏ hoang của SS, với một tháp đồng hồ chết và tầm nhìn không bị vướng cản ra những lớp xe và những mảnh vườn hoang hóa.

Bị Ban Chỉ huy Kết hợp mới được thành lập ở Berlin, kẻ tự coi mình có sứ mệnh tổ chức lại lực lượng tình báo Đức rời rạc và nổi tiếng thiếu hiệu quả, đẩy cho nhiệm vụ bảo vệ, Đơn vị này được coi là vật báo hiệu cho một kế hoạch nhằm xóa bỏ sự phân ranh giới rõ rệt dưới danh nghĩa một tổ chức thống nhất hợp lý. Mặc dầu trên giấy tờ chịu sự chỉ huy của địa phương và không có một số quyền của Cảnh sát Liên bang, nó có trách nhiệm giải trình không phải với Cơ quan Bảo vệ ở Hamburg cũng không phải với đại bản doanh của nó ở Cologne, mà với chính cái Ban đầy quyền lực, mơ hồ ở Berlin ấy, kẻ đã áp đặt nó cho Cơ quan Bảo vệ ngay từ đầu.

Vậy thì cái Ban đầy quyền lực ở Berlin ấy gồm những ai hay những gì? Chỉ riêng sự tồn tại của nó đã làm khiếp đảm cái đám gián điệp chóp bu Đức đang cố thử. Thật ra về danh nghĩa Chỉ huy Kết hợp không gì hơn là một nhúm tay chơi lão luyện được rút ra từ mỗi ngành chính, và được giao nhiệm vụ cải thiện sự hợp tác giữa chúng sau hàng loạt âm mưu khủng bố hụt trên đất Đức. Sau một thời kỳ thai nghén sáu tháng - tường thuật chính thức là như thế - những khuyên cáo của nó sẽ được chuyển sang các trung tâm quyền lực song trùng của tình báo Đức, Bộ Nội vụ và Phủ thủ tướng, để xem xét, và sự thể diễn ra cũng gần như thế.

Hay là không phải thế.

Vì trên thực tế, thẩm quyền giải quyết của Ban Chỉ huy Kết hợp có một ý nghĩa rung trời chuyển đất: chẳng kém sự sáng tạo ra một hệ thống chỉ huy-kiểm soát hoàn toàn mới bao trùm tất cả các ngành tình báo lớn nhỏ và, cho đến bây giờ không phải là lệ thường đối với chế độ Liên bang Đức, được điều khiển bởi một điều phối viên tình báo kiểu mới - Sa hoàng - với quyền lực chưa từng có.

Vậy thì điều phối viên đáng sợ này có thể là ai?

Không ai nghi ngờ rằng ông ta được chọn từ các cấp nằm trong bóng tối của chính cái Ban này. Nhưng từ bộ phận nào của nó? Với sự ổn định chính trị của Đức bị kẹt trong một liên minh sớm nắng chiều mưa, ông ta sẽ ngã theo chiều nào? Sự thần phục nào, chương trình nghị sự nào điều phối viên này đưa vào nhiệm vụ khó giải quyết của ông ta? Lời hứa nào ông ta phải giữ? Và chính xác giọng nói của ai ông ta phải nghe theo khi ông ta thực thi chính sách mới của mình?

Cảnh sát Liên bang, chẳng hạn, có tiếp tục bỏ xa các bảo vệ bị bao vây trong trận đấu quyền lực lâu dài nhằm giành vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực tình báo nội địa? Cục Tình báo Đối ngoại Liên bang có thể vẫn chỉ là tổ chức duy nhất được trao quyền hoạt động bí mật ở nước ngoài? Và nếu đúng thế thì cuối cùng nó có thanh lọc bản thân sạch khỏi những que củi mục cựu binh, những nhà ngoại giao giả hiệu phá rối những cơ sở tình báo hải ngoại của nó không? Khi cần phải bảo vệ các tòa đại sứ Đức trong thời gian có những cuộc nổi dậy dân sự thì không nghi ngờ tất cả đều là những người giỏi, nhưng trong cái công việc tinh vi là tuyển mộ và điều hành những mạng lưới ngầm thì kém lão luyện hơn nhiều.

Vậy không có gì đáng ngạc nhiên là, do bị nhiễm cái tâm trạng hồ nghi và lo âu tràn ngập trong toàn bộ giới tình báo Đức, các mối quan hệ giữa bọn can thiệp bí mật ở Berlin và những chủ nhà miễn cưỡng ở Hamburg may lắm là lạnh nhạt, tác động đến cả những khía cạnh nhỏ nhất trong giao tiếp hằng ngày giữa họ; hoặc là mối quan tâm do sự có mặt của Issa ở bên này sân dấy lên không nhất thiết phải được đáp lại ở bên kia. Không có con mắt giàu tưởng tượng - có người nói siêu tưởng - của Günther Bachmann hay thay đổi của Đơn vị thì việc xuất hiện lén lút của người đàn ông tự gọi mình là Issa có thể không bao giờ bị phát hiện.

• • •

Và cái anh chàng Günther Bachmann từ Berlin đến - anh ta là ai, chính xác anh ta là ai kia chứ?

Nếu có một người nào trên thế giới này mà gián điệp là cách gọi duy nhất khả dĩ dành cho anh ta, Bachmann là một người như thế. Là người biết nhiều thứ tiếng, hậu duệ của một chuỗi các cuộc hôn nhân pha trộn chủng tộc khỏi đầu từ một phụ nữ lai Đức-Ukraina rực rỡ, và nghe đâu là tay sĩ quan duy nhất trong đơn vị của mình có trình độ học vấn chưa quá bậc trung học, Bachmann ở tuổi ba mươi đã chạy ra biển, đã đi bộ vất vả qua Hindu Kush, đã bị bỏ tù ở Colombia và đã viết một quyển tiểu thuyết nghìn trang chưa xuất bản.

Tuy nhiên cách nào đó, trong quá trình đạt được những trải nghiệm khó tin này, anh ta đã phát hiện ra cả quốc tịch lẫn sứ mệnh của mình: lúc đầu như một điệp viên thời vụ của một tiền đồn xa xôi của Đức, sau là một quan chức mật ở hải ngoại mà không có cấp bậc ngoại giao; ở Warsaw vì biết tiếng Ba Lan; ở Aden, Beirut, Baghdad và Mogadishu vì biết tiếng Ả-rập; ở Berlin vì phạm tội, trong khi anh ta tạm nghỉ chân sau khi cho ra đời một xì căng đan gần như anh hùng ca mà giới buôn chuyện chỉ tóm được những phác thảo sơ sài nhất của nó: một sự sốt sắng quá mức, tin đồn nói thế; một âm mưu tống tiền đi quá xa; một lần tự tử, một ông đại sứ Đức bị triệu hồi gấp gáp.

Rồi thận trọng, dưới một cái tên khác, quay trở lại Beirut, làm lại cái việc anh ta luôn luôn làm giỏi hơn ai hết, nếu không nhất thiết theo sách - nhưng từ bao giờ “sách” đó đã là một trang bị cần thiết ở Beirut? - tức là rà soát, chiêu mộ và điều hành, bằng bất cứ cách nào, những điệp viên sống trong vùng đó, đó là tiêu chuẩn vàng của việc thu thập tin tức tình báo thực sự. Cuối cùng ngay cả Beirut cũng trở nên quá nóng đối với anh ta, và một cái bàn viết ở Hamburg hình như bỗng nhiên trở thành một nơi an toàn nhất, nếu không phải cho Bachmann, thì cũng cho các sếp của anh ta ở Berlin.

Nhưng Bachmann không bao giờ là người bị đá ra rìa. Kẻ nào bảo Hamburg là một vị trí trừng phạt là chưa hiểu mình nói gì. Nay bị kẹt giữa tuổi tứ tuần, anh ta là một gã lai bẩn thỉu nhếch nhác, dễ bùng nổ, hai vai bè bè chắc nịch, tàn thuốc lá lúc nào cũng bám đầy trên ve áo vest, cho đến khi nó được Erna Frey tuyệt vời, người cộng sự lâu dài và trợ lý của anh ta, phủi đi. Anh ta là một người năng nổ, có sức lôi cuốn và thuyết phục, một người say mê làm việc, với một nụ cười mê hoặc. Anh ta có bộ tóc màu hung đỏ trông quá trẻ so với những nếp nhăn chằng chịt trên trán. Giống như một diễn viên, anh ta có thể nịnh bợ, dỗ dành hay hăm dọa. Anh ta có thể có giọng lưỡi ngọt ngào và những lời thô tục trong cùng một câu nói.

“Tôi muốn thả lỏng hắn và để cho hắn đi lại,” anh ta nói với Erna Frey khi họ đứng kề vai nhau trong căn phòng nhỏ ấm ướt nhớp nháp của tốp nghiên cứu trong chuồng ngựa cũ của SS, nhìn Maximilian, tay đột nhập máy tính tài giỏi của bọn họ, đang làm hiện những hình ảnh kế tiếp của Issa lên các màn hình của cậu ta. “Tôi muốn nó nói chuyện với bất cứ ai người ta bảo nó nói, và cầu nguyện bất cứ khi nào người ta bảo nó cầu nguyện, và ngủ ở bất cứ chỗ nào người ta bảo nó ngủ. Tôi không muốn bất kỳ ai xía vào việc của nó trước khi chúng ta can thiệp. Mấy thằng chó chết ấy ở bên kia sân lại càng không.”

• • •

Việc Issa bị phát hiện lần đầu tiên, nếu có thể gọi như thế, không gây cho ai mối quan tâm rõ rệt nào. Chính một thông báo tìm kiếm theo các quy tắc hiệp ước châu Âu do đại bản doanh cảnh sát Thụy Điển tại Stockholm phát ra khuyến cáo tất cả các bên ký kết rằng một kẻ nhập cư bất hợp pháp người Nga, tên, ảnh và các đặc điểm được cung cấp, đã thoát được sự bắt giữ của Thụy Điển, hiện nay không biết ở đâu. Chỉ một ngày cũng có thể tạo ra nửa tá thông báo như thế. Trong các trung tâm tác chiến của bảo vệ ở phía bên kia sân, nó được lưu ý một cách thích đáng, tải xuống và được bổ sung vào dãy các thông báo tương tự trang trí cho các bức tường của phòng nghỉ và bị bỏ qua.

Tuy nhiên những điểm đặc trưng của Issa đã lọt vào võng mạc con nội nhãn của Maximilian, bởi vì nhiều giờ tiếp theo đó, khi không khí bên trong căn phòng nhóm nghiên cứu của Bachmann dày đặc thêm, các đội viên từ các góc khác nhau của khu chuồng ngựa bắt đầu kéo đến để chia sẻ sự kích động này. Ở tuổi hăm bảy, Maximilian gần như nói lắp hoàn toàn, có trí nhớ giọng như một từ điển cổ ngữ mười hai tập, và một trực giác để ghép những mảnh vụn thông tin xa lạ lại với nhau. Nhưng đã qua giờ ăn tối từ lâu trước khi cậu ta ngồi phịch xuống ghế đan các ngón tay vào nhau đặt sau cái đầu tóc hoe của cậu.

“Chạy lại lần nữa đi, Maximilian,” Bachmann ra lệnh, phá vỡ bầu không khí im lặng như trong nhà thờ bằng một đoạn ngắn tiếng Anh hiếm hoi.

Maximilian đỏ mặt lên và thử lại lần nữa:

Tam ảnh căn cước của Issa từ cảnh sát Thụy Điển hiện lên, mặt giữa, hai bên, với chữ TRUY NÃ chạy chéo qua và tên gã bằng chữ in hoa giống như một lời cảnh báo: KARPOV, Issa.

Một đoạn văn ngắn mười dòng bằng chữ đánh máy in đậm, mô tả gã là một chiến binh Hồi giáo bỏ trốn, sinh ra ở Grozny, Chechnya, hai mươi ba năm trước, được báo cáo là hung dữ, phải hết sức cẩn thận khi tiếp cận.

Đôi môi mím chặt. Không hề gợi một nét cười.

Đôi mắt căng mở to sau những ngày đêm ngồi trong bóng tối khủng khiếp của container. Râu không cạo, hốc hác, tuyệt vọng.

“Làm thế nào chúng ta biết hắn có khai tên thật không?” Bachmann hỏi.

“Hắn không khai thật đâu.” Lần này là Erna Frey, trong khi Maximilian đang đánh vật để trả lời. “Hắn khai một cái tên Chechnya nhưng đồng bọn của hắn trong container phản hắn. ‘Tên nó là Issa Karpov,’ bọn chúng bảo thế. ‘Một tên quý tộc Nga trốn thoát.’ ”

“Quý tộc?”

“Báo cáo nói thế. Đồng bọn của hắn đoan chắc là hắn kiểu cách. Có phần đặc biệt. Làm sao có thể kiểu cách trong container vẫn là một bí ẩn chúng ta vẫn chưa biết.”

Maximilian khắc phục được tật nói lắp của cậu ta. “Cảnh sát Thụy Điển đoán hắn đã quay lại tàu và hối lộ bọn thủy thủ,” cậu ta nói một hơi. “Và cảng cuối cùng của con tàu là Copenhagen” - chữ này trở thành một chiến thắng vẻ vang của ý chí trước tự nhiên.

Hình ảnh mờ ảo một người đàn ông gầy còm có râu trong chiếc áo choàng dài màu tối, khăn trùm đầu và mũ chóp hoa văn vằn vện từ sau xe tải tụt xuống vào giữa đêm khuya vắng.

Lái xe tải vẫy tay.

Người khách ra đi không vẫy lại.

Những nét đặc trưng quen thuộc của phòng đợi nhà ga chính ở Hamburg, những chiếc taxi màu vàng nhạt đậu thành từng hàng dãy.

Vẫn hình dáng còm nhom ấy nằm duỗi dài thẳng đơ trên một chiếc ghế băng.

Vẫn dáng người còm nhom ấy ngồi dậy, nói với một người đàn ông béo đang khoa tay múa chân, nhận từ ông ta một chiếc cốc bằng giấy đựng thức uống, uống.

So sánh chéo giữa ảnh căn cước của Issa và những ảnh đã được máy tính tăng độ rõ nét của người đàn ông có râu trên ghế băng nhà ga.

Một ảnh khác cho thấy toàn thân người đàn ông có râu đang đứng nơi phòng đợi nhà ga.

“Bên Thụy Điển đã đo hắn,” Maximilian nói sau một hai lần cố sức. “Hắn cao. Xấp xỉ hai mét.”

Trên màn hình, một chiếc thước đo ảo hiện lên bên cạnh người có râu nằm xuống, rồi ngồi dậy. Chiếc thước ảo đo được một mét chín ba.

“Việc quái gì mà cậu lại quyết định đi chụp ga xe lửa Hamburg?” Bachmann phản đối. “Ai đó đã cho cậu một bức ảnh căn cước từ Thụy Điển của một gã đi Đan Mạch, và cậu lại đi rà soát những thằng lang thang say rượu ở nhà ga xe lửa Hamburg? Tôi nghĩ tôi phải cho bắt cậu vì tâm thần!”

Đỏ mặt lên vì sướng, Maximilian vung một cánh tay lên để gây chú ý một cách không cần thiết, còn lại bàn tay kia cậu ta tiếp tục nhấp chuột lên màn hình:

Hình ảnh phóng to vẫn của chiếc xe tải đó, trong phòng chờ nhà ga, cảnh bên, không đánh dấu.

Hình ảnh phóng to vẫn của chiếc xe tải đó, cảnh hậu. Maximilian phóng to biển đăng ký xe. Nó bị che lấp một phần bởi một cái nút bằng giẻ đen. Một mặt của tấm huy hiệu Liên minh Châu Âu và hai chữ số đầu trong số đăng ký Đan Mạch là nhìn rõ. Maximilian gắng sức nói nhưng không thành công. Cô bạn gái xinh đẹp của anh, Niki có dòng máu Ả-rập từ bộ phận ghi âm sang đỡ lời cho anh.

“Người Thụy Điển thẩm vấn những kẻ đi lậu vé khác về hắn,” cô ta nói trong khi Maximilian gật đầu. “Hắn đang trên đường tới Hamburg. Tìm nơi khác không ăn thua đâu. Mọi việc ở Hamburg đã được sắp đặt sẵn cho hắn.”

“Hắn có nói được sắp đặt như thế nào không?”

“Không. Hắn rất kín miệng và bí hiểm. Những kẻ cùng đi cho rằng hắn là một thằng dở người.”

“Vào lúc chúng ra khỏi container thì chúng đều là những thằng hâm. Hắn nói tiếng nước nào?”

“Tiếng Nga.”

“Chỉ tiếng Nga thôi à? Không nói tiếng Chechnya?”

“Theo những người Thụy Điển thì không. Có thể họ đã không thử hắn.”

“Nhưng Issa là tên thánh của hắn. Như Jesus. Jesus Karpov. Hắn có một họ Nga và một tên thánh Hồi giáo. Làm thế chó nào mà lại thế được chứ?”

“Niki đâu có làm lễ đặt tên thánh cho hắn, Günther thân mến,” Erna Frey lẩm bẩm.

“Và hắn không có tên đệm đặt theo cha,” Bachmann càu nhàu. “Có chuyện gì với tên đệm Nga của hắn rồi chứ? Chẳng lẽ hắn đã bỏ lại trong nhà tù?”

Thay vì trả lời anh ta, Niki quay trở lại câu chuyện mà cô nói thay cho người yêu: “Maximilian đã nảy ra một ý hay bất chợt, anh Günther ạ. Anh ấy đoán rằng nếu Copenhagen là cảng ghé tiếp theo của tàu, còn Hamburg là điểm đến của hắn, thì sao ta không kiểm tra hình ảnh video trong phòng chờ ga Hamburg mỗi khi có chuyến tàu Copenhagen đến?”

Tằn tiện lời khen như mọi lần, Bachmann làm như không nghe thấy cô. “Có phải cái thằng Issa Không-có-tên-đệm Karpov này là người duy nhất ra khỏi chiếc xe tải Đan Mạch có biển số bị che không?”

“Hắn có một mình. Đúng, Maximilian nhỉ? Đơn độc.” Maximilian nhiệt tình gật đầu. “Không có ai khác xuống chiếc xe tải Đan Mạch còn tài xế thì ở lại trong cabin.”

“Vậy nói xem lão già béo là ai?”

“Lão già béo à?” Niki thoáng bối rối.

“Lão béo với chiếc cốc giấy. Một lão già béo nói chuyện với gã trai của chúng ta trong phòng đợi nhà ga. Lão đội một chiếc mũ thủy thủ đen. Tôi là người duy nhất trông thấy lão béo ấy à? Đâu phải. Gã trai của chúng ta trả lời lại lão béo kia. Bọn chúng nói bằng tiếng gì? Nga? Hay Chechnya. Hay Ả-rập? Latin? Tiếng Hy Lạp cổ? Hay chàng trai của chúng ta nói tiếng Đức mà chúng ta không biết?”

Maximilian lại một lần nữa giơ tay lên. Tay kia anh đang nhấp chuột vào hình ảnh lão già béo, đưa lão lại gần hơn. Anh cho hiện thời gian thực, rồi cho chuyển động chậm: một người đàn ông có tuổi, mập mạp, hói, có dáng dấp quân nhân, đi ủng kỵ binh, trang trọng đưa một chiếc cốc bằng nhựa hay bằng giấy. Trong cử chỉ của lão có một vẻ gì trịnh trọng quái lạ, gần như một thầy tế. Và, đúng, lão già béo và chàng trai của chúng ta rõ ràng có nói qua nói lại.

“Bây giờ cho xem cổ tay hắn.”

“Cổ tay?”

“Của thằng con trai,” Bachmann gắt. “Cổ tay phải của thằng đó, vì Chúa, khi hắn cầm cốc cà phê. Chiếu gần cho tôi xem.”

Một chiếc vòng tinh xảo, bằng vàng hay bạc. Một quyển sách mở nhỏ xíu đung đưa bên dưới.

“Karl đâu? Tôi cần Karl,” Bachmann quát, xoay lại và hai tay dang rộng như thể anh ta vừa bị cướp. Nhưng Karl đang đứng ngay trước mặt anh: Karl trước kia là một đứa trẻ đường phố ở Dresden với ba án hình sự vị thành niên, và một bằng đại học về nghiên cứu xã hội. Karl có nụ cười bẽn lẽn, ngượng ngập.

“Karl, cậu ra ngay nhà ga cho tôi. Có thể cuộc gặp tình cờ giữa lão béo và chàng trai của chúng ta chẳng tình cờ chút nào. Có thể anh chàng của chúng ta đang nhận lệnh hay gặp đầu mối liên lạc của hắn. Hay có lẽ chúng ta đang xem một ông già buồn bã mà việc tốt nhất trong đời là đưa cà phê cho những chàng lang thang trẻ tuổi đẹp trai ở nhà ga vào lúc hai giờ sáng. Nói chuyện với những người điều hành tổ chức từ thiện chuyên cứu giúp những người thất cơ lỡ vận ở đó. Hỏi xem họ có biết lão béo đã đưa cho chàng trai của chúng ta cốc gì đó giữa nửa đêm là ai không? Có thể lão là một nhân viên thường xuyên. Đừng chìa những bức ảnh ra kẻo cậu làm họ sợ đấy. Trổ tài mồm mép của cậu, và tránh xa bọn cảnh sát ga. Hãy chuẩn bị sẵn trong đầu một chuyện cổ tích. Có thể lão béo là một ông chú đã lạc nhau lâu ngày của cậu. Có thể cậu nợ tiền ông ta. Nhớ đừng làm bể chiếc bình sứ nào đấy. Tắt tiếng, tàng hình, kiểu nào cậu làm được, nghe chưa?”

“Rõ.”

Bachmann đang nói với tất cả - Niki, cô bạn Laura của cô, một vài thám tử đường phố vừa lên gác theo sau Karl, Maximilian, Erna Frey:

“Vậy là có cả ở đây rồi, các bạn. Chúng ta đang tìm kiếm một người, người này không có tên đệm và không có những quan hệ bình thường. Những ghi chép về hắn cho chúng ta biết hắn là một chiến binh Chechnya-Nga, đã phạm tội man rợ, đã hối lộ để trốn khỏi nhà tù Thổ Nhĩ Kỳ - và hắn làm cái quái quỷ gì ở đó không biết nữa - đấm mõm bọn cảnh sát Thụy Điển ở cảng, lót tay để chuồn về chiếc tàu mà hắn đã từ đó lên, lén ra khỏi bến tàu Copenhagen, thuê xe tải chở hắn đến Hamburg, nhận một cốc thức uống từ tay một lão già béo trong cuộc nói chuyện có trời biết là bằng tiếng nước nào, và đeo một chiếc vòng vàng có cuốn kinh Koran. Một người như thế đáng để chúng ta kính nể đôi chút. Amen?”

Nói xong, anh ta nện gót về phòng của mình, có Erna Frey lúc nào cũng đi theo như chiếc bóng.

• • •

Họ đã lấy nhau chưa?

Về mọi phương diện đã biết, Bachmann và Erna hoàn toàn trái ngược nhau, bởi vậy có lẽ họ đã lấy nhau. Trong khi Bachmann miễn cưỡng tập thể thao, hút thuốc, chứi thề, nốc rượu như điên và ít khi yên tâm kiên trì làm cho xong một việc gì nếu nó không trôi chảy, Erna Frey lại cao ráo, khỏe mạnh, với mái tóc cắt gọn ghẽ và bước đi dứt khoát. Đeo cái tên thánh của một bà cô không chồng, và bị cha mẹ giàu có gửi vào nhà nữ tu Hamburg dành cho con gái nhà quý tộc, chị nổi bật với những đức tính của người Đức nghiêm khắc: trinh bạch, siêng năng, từ tâm, trung hiếu và trọng danh dự - cho đến khi một cảm giác châm biếm cay độc và một thái độ hoài nghi lành mạnh xóa đi tất cả. Một phụ nữ nào khác chắc đã bỏ ngay cái tên thánh cổ lỗ để thay bằng một tên mới thời trang hơn, nhưng Erna thì không. Trong các trận quần vợt, những cú đập xoáy, những cú vô lê của chị hạ các đối thủ cả nam lẫn nữ. Trong các cuộc du ngoạn núi Anpơ, chị bỏ xa các chàng trai cỡ nửa tuổi chị. Tuy nhiên niềm say mê lớn nhất của chị là bơi thuyền buồm một mình, và người ta bảo chị đã dành dụm từng xu để mua cho mình một chiếc thuyền buồm nhẹ đi vòng quanh thế giới.

Thế nhưng trong công việc, cái đôi đũa lệch này là vợ chồng, chia sẻ cùng một phòng, điện thoại, hồ sơ, máy tính, mùi cơ thể và thói quen của nhau. Khi Bachmann bất chấp nội quy châm một điếu thuốc Nga kinh tởm, Erna làm bộ ho sặc sụa lên và mở toang của sổ ra. Nhưng sự phản đối của chị cũng chỉ đến đấy. Bachmann có thể tiếp tục phì phèo khói um cả phòng mà chị không nói thêm một lời. Họ có ngủ với nhau không? Theo lời đồn thì họ đã thử và tuyên bố rằng nó là lĩnh vực tai họa. Tuy vậy những đêm hai người thức khuya, họ không ngần ngại lăn vào ngủ với nhau trong căn phòng trực chật hẹp ở cuối hành lang.

Và khi đội lính mới tò te tập hợp lần đầu tiên trong căn phòng dài ở tầng trên của dãy chuồng ngựa mới vội vàng trang hoàng lại để được Bachmann chào đón bằng rượu vang Baden ưa thích của anh ta, với món thịt lợn rừng và trứng cá đỏ do Erna Frey tự tay chế biến, thì hai người biểu lộ một thứ tình cảm vợ chồng ngọt ngào, ăn ý đến nỗi các vị khách không thấy ngạc nhiên khi họ nắm tay nhau: cho đến khi Bachmann đảm nhận lấy việc giải thích cho đám lính mới tập trung về của anh ta là họ được giao cho làm cái khỉ gió gì. Bài nói của anh ta, lúc suồng sã lúc thống thiết, một phần là bài học lịch sử theo phong cách riêng của anh, một phần là lời kêu gọi xung trận. Không trách nó được mệnh danh là bản cantat của Bachmann. Nó như sau:

• • •

“Khi sự kiện 11/9 xảy ra, có hai điểm bình địa,” anh ta tuyên bố, nói với họ khi thì từ một bên căn phòng dài, khi thì từ cuối phòng, đột ngột hiện ra trước họ như một con ma lùn, bên dưới những xà nhà trước mặt họ, hai bàn tay nhổ từng từ như nhổ đinh khi nói. “Một điểm ở New York. Một điểm nữa các anh không nghe nói đến nhiều, chính là ở đây, Hamburg này.”

Anh ta vung một cánh tay về phía cửa sổ.

“Cái mảnh sân ngoài kia là một đống đổ nát cao chừng ba chục mét, tất cả là giây. Và các ông trùm chó chết của giới tình báo Đức chúng ta sục đầu vào lục soát kỹ trong đó để cố tìm ra chỗ chết tiệt nào họ đã sai lầm thảm hại đến thế. Chúng ta có các thiên tài từ khắp nơi trên bán cầu bay đến thành phố này để cho lời khuyên và tránh đòn. Những nhà bảo vệ cấp cao nhất cho hiến pháp thiêng liêng của chúng ta từ Cologne đến, cầu Chúa bảo vệ chúng ta khỏi những kẻ bảo vệ” - mọi người cười, nhưng anh ta tỉnh bơ - “bọn gián điệp quan liêu từ cục tình báo đối ngoại đặc sắc của chúng ta, các quý ông quý bà thanh lịch từ ủy ban giám sát tình báo Bundestag toàn năng của chúng ta, đám người Mỹ từ số cục vụ tình báo nhiều hơn số tôi từng nghe tiếng - có đến mười sáu cái theo thống kê mới nhất - vấp ngã nhào vào nhau mà đến đổ cứt lên bậc cửa nhà bất kỳ ai ngoài nhà bọn chúng. Tôi bảo các anh: trong mấy tuần ấy có nhiều thằng đê tiện thông thái đến để phun ra sự khôn ngoan của chúng tới mức những thằng cha tội nghiệp đang cố chỉ huy và dọn dẹp cái đống đổ nát kia không thể không ước chúng ghé tới sớm hơn một hai tuần. Như vậy đã không có Mohammed Atta và không có những con khỉ tru tréo từ các phương tiện truyền thông đến đái lên đầu bọn họ.”

Anh ta làm một vòng quanh gian phòng dài, hai khuỷu tay khuỳnh ra, hai bàn tay nắm chặt.

“Hamburg đã làm hỏng bét cả. Tất cả những người khác đã làm hỏng, và Hamburg hứng hết.” Anh ta làm hề, đóng cả hai vai trong một cuộc họp báo tưởng tượng: “ ‘Thưa ngài, xin ngài vui lòng cho biết cơ quan của các ngài chính xác có bao nhiêu phát thanh viên A-rập đang hoạt động ở đây trong thành phố này vào thời gian này?’ “ anh ta nhảy sang trái, nói quang quác. “ ‘Theo thống kê mới nhất, một rưỡi.’ “ Rồi lại sang phải: “ ‘Thưa ngài, chính xác những ai bị các ngài đặt máy ghi âm nghe trộm và theo dõi khắp ngang cùng ngõ hẻm trong những tháng sắp đến Armageddon[2] nay?” Rồi lại sang trái: “ ‘Vâng, thưa bà, giờ tôi mới nghĩ đến thì... một cặp người Hoa bị tình nghi ăn trộm các bí mật kỹ nghệ tinh xảo của chúng ta... một thiếu niên tân-Quốc xã dùng sơn vẽ chữ thập ngoặc lên các mộ chí Do Thái... một phân đội Hồng quân thế hệ mới... ồ, và hai mươi tám cựu cộng sản già nua muốn khôi phục GDR[3] thân yêu xưa.’ ”

Anh ta biến mất khỏi tầm mắt mọi người để xuất hiện ở góc cuối căn phòng với bộ mặt người đàn ông ủ rũ.

“Hamburg là một thành phố tội lỗi,” anh ta bình thản tuyên bố. “Một cách có ý thức hay không có ý thức. Thậm chí có lẽ Hamburg đã giật dây bọn không tặc kia. Chúng chọn chúng ta? Hay chúng ta chọn chúng nó? Hamburg các anh gửi tín hiệu gì cho kẻ khủng bố Hồi giáo bình thường chống Do Thái nhất quyết phải húc đổ thế giới phương Tây? Những thế kỷ bài Xê-mít à? Hamburg có đấy. Những trại tập trung à? Hamburg có đấy. Thôi được, tôi công nhận với các anh: Hitler không sinh ra ở Blankenese. Nhưng đừng nghĩ rằng hắn không thể sinh ra ở đấy. Băng Baader-Meinhof à? Ulrike Meinhof[4], sinh ra không xa đây, là đứa con gái nuôi đáng tự hào của Hamburg. Cô ấy thậm chí còn được bọn Ả-rập huấn luyện. Kết bè kết đảng với lũ rồ bọn chúng rồi cùng đi không tặc với chúng. Có thể Ulrike là một kiểu tín hiệu. Quá nhiều người Ả-rập yêu người Đức vì những lý do vớ vẩn ấy. Có thể bọn không tặc của chúng ta cũng vậy. Chúng ta có bao giờ hỏi bọn chúng đâu. Và giờ chúng ta cũng sẽ không bao giờ hỏi.”

Anh ta yên lặng hồi lâu, rồi dường như bốc lên.

“Và đây là một số tin tốt lành về Hamburg,” anh tiếp tục một cách vui vẻ. “Chúng ta là dân miền biển. Chúng ta là một thành bang khôn ngoan từng trải, tự do khuynh tả, rộng mở. Chúng ta là những thương nhân đẳng cấp thế giới, với một hải cảng đẳng cấp thế giới và một cái mũi đánh hơi lợi nhuận đẳng cấp thế giới. Người ngoại quốc không phải là khách lạ đối với chúng ta. Chúng ta không phải là một thành phố trong nội địa buồn tẻ nơi mà những người ngoại quốc trông cứ như người sao Hỏa. Họ là một phần cảnh quan của chúng ta. Trong nhiều thế kỷ, hàng triệu thằng giống như Mohammed Atta đã uống bia của chúng ta, ngủ với gái điếm của chúng ta rồi quay trở về trên những con tàu của họ. Và chúng ta không chào đón hay tiễn họ, hoặc hỏi họ làm gì ở đây, bởi vì chúng ta coi việc họ ở đây là đương nhiên. Chúng ta là Đức, nhưng là tách riêng khỏi Đức. Chúng ta hay hơn nước Đức. Chúng ta là Hamburg, nhưng chúng ta cũng là New York. Ô kê, chung ta không có những tòa Tháp Đôi. Nhưng tòa tháp ấy thì ở New York cũng không còn nữa. Nhưng chúng ta hấp dẫn. Chúng ta thậm chí vẫn tỏa mùi hay đến những kẻ lẽ ra không nên ngửi thấy.”

Một lúc im lặng nữa khi anh ta đang cân đo những gì mình vừa nói ra. “Nhưng nếu chúng ta nói đến tín hiệu, tôi nghĩ tôi đã phỉ báng sự khoan dung đa dạng tôn giáo và sắc tộc nịnh bợ, mới có. Bởi vì một thành phố tội lỗi đang sửa chữa những tội lỗi quá khứ của nó - phô trương lòng khoan dung không mệt mỏi, không phân biệt, đáng ngạc nhiên của nó - ờ, đó cũng là một loại tín hiệu. Thực tế nó là một lời mời gọi kẻ khác đến mà thử thách chúng ta.”

Anh ta nhắm thoải mái vào chủ đề ưa thích của mình, cái chủ đề mà mọi người mong đợi nghe, cái lý do họ bị lôi khỏi Berlin hay Munich rồi bị hạ táng xuống những chuồng ngựa SS xập xệ ở Hamburg này. Anh ta đang bực tức sự thất bại làm mất tinh thần của các cơ quan tình báo phương Tây - và nhất là cơ quan tình báo Đức - không tuyển mộ được một nguồn tại chỗ tươm tất nào để chống lại mục tiêu Hồi giáo.

“Bộ các anh tưởng sau ngày 11/9 mọi sự đều thay đổi cả sao?” anh ta hỏi, nối giận với họ, hay với chính anh. “Các anh có nghĩ rằng ngày 12/9, cục tình báo đối ngoại tuyệt vời của chúng ta, bị thiêu cháy bởi cái nhìn toàn cầu về mối nguy cơ khủng bố, quấn cái khăn rằn lên đầu và đi xuống những khu chợ Hồi giáo ở Aden và Mogadishu và Cairo và Baghdad và Kandahar và mua cho mình vài mẩu tin vụn bán lẻ về việc ở đâu và bao giờ quả bom kế tiếp sẽ được phóng ra và ai sẽ là người bấm nút? Ô kê, tất cả chúng ta đều biết câu đùa đểu này: anh không thể mua một người Ả-rập, nhưng anh có thể thuê. Nhưng chúng ta còn không thể thuê nổi người nào làm chuyện đếch gì hết! Với vài ngoại lệ cao quý mà tôi sẽ không nêu ra làm mệt các anh, hồi ấy nguồn tin tại chỗ của chúng ta như cứt. Và bây giờ nguồn tại chỗ của chúng ta cũng như cứt.”

“Ồ chắc chắn chúng ta có không biết bao nhiêu là nhà báo và doanh nhân Đức nhã nhặn và các nhân viên cứu trợ trong bảng lương của chúng ta, và thậm chí một số người không phải là người Đức, nhưng họ quá hạnh phúc rồi nên không thèm bán cho chúng ta mấy thứ rác công nghiệp để lấy thêm một khoản thu nhập phụ không chịu thuế. Nhưng họ không phải là nguồn tại chỗ. Họ không phải là những người dễ mua chuộc, những kẻ hết nhiệt tình, những thầy tế cấp tiến hay những thiếu niên Hồi giáo trên đường đến nhận đai bom. Họ không phải là những tên nằm vùng của Osama, hay những tên chỉ điểm tài năng của hắn, hay những người đưa thư của hắn hay hậu cần cho hắn, hay người phát lương của hắn. Họ chỉ là những khách lịch sự dự bữa ăn tối.”

Anh ta đợi cho tiếng cười lắng xuống.

“Và khi chúng ta tỉnh ngộ ra về những gì chúng ta chưa có thì chúng ta không thể tìm ra nó nữa.”

Chúng ta, họ để ý. Chúng ta ở Beirut. Chúng ta ở Mogadishu và Aden. Cái chúng ta vương giả của Bachmann. Bachmann đã tìm ra nguồn tại chỗ, thứ thiệt, thứ chiến, và cả cái thế giới ngầm nói thế. Mua chúng hay thuê chúng, ai cần biết? Nhưng có lẽ anh ta cũng đã để mất chúng nữa. Hay có lẽ an ninh buộc anh ta phải bỏ chúng?

“Chúng ta nghĩ chúng ta có thể dụ họ vượt tuyến đến với chúng ta. Chúng ta nghĩ chúng ta có thể nhử họ về bằng những nét mặt tươi cười và những chiếc ví đầy ắp. Chúng ta ngồi trong bãi đậu xe suốt những đêm dài chết tiệt, chờ những kẻ đào ngũ cấp cao vào ngồi ghế sau và thỏa thuận với chúng ta. Không có ai xuất hiện. Chúng ta rà sóng để giải mã của họ. Họ chẳng có mã chó nào cả. Tại sao thế? Bởi vì chúng ta có còn chơi Chiến tranh Lạnh nữa đâu. Chúng ta đang đánh nhau với đồ thừa của một dân tộc được gọi là Hồi giáo, với dân số một tỷ rưỡi, và một cơ sở hạ tầng không hoạt động kém cỏi. Chúng ta cứ tưởng vẫn có thể làm như trước đây vẫn làm, và chúng ta đã sai lầm một cách rõ ràng, ngu xuẩn, khốn nạn.”

Cơn giận của anh ta nguôi đi khi dừng lại để giải lao. “Nghe đây, tôi đã từng ở đó,” anh ta thổ lộ. “Trước khi tôi làm mục tiêu Ả-rập, tôi giỡn mặt đám đối thủ Liên Xô của tôi. Tôi mua và bán người. Tôi tăng gấp đôi lính của tôi, rồi lại tăng gấp đôi nữa, cho đến khi tôi có đầy nhóc. Nhưng không ai chặt đầu tôi. Không có ai đánh bom vợ con tôi khi họ đang tắm nắng ở Bali hoặc đi tàu hỏa đến trường ở Madrid hay London. Luật chơi đã thay đối. Vấn đề của chúng ta là, chúng ta không đổi,” anh ta bật ngón tay đánh tách để kết thúc, và sải bước đi về phía kia của phòng, cho biết sắp có một sự thay đổi tâm trạng lần nữa.

“Và sau ngày 11/9, tổ quốc yêu quý của chúng ta - tôi xin lỗi, Heimat - được miễn, tất nhiên là thế!” anh ta tuyên bố với một tiếng cười cay đắng. “Người Đức chúng ta có thể ở truồng ở bất cứ đâu! Hơn nữa! Không ai dám động đến chúng ta vì chúng ta là người Đức tuyệt vời đến thế và được miễn. Ô kê, chúng ta đã chứa chấp một ít kẻ khủng bố Hồi giáo, trong số đó ba tên đã biến đi và làm nổ tung tòa Tháp Đôi và Lầu Năm Góc. Sao hả? Đó là việc chúng đến đây để làm, và chúng đã làm xong, vấn đề đã được giải quyết. Chúng đã đánh đúng vào tim quỷ Satan Khổng lồ[5], và tự sát luôn. Chúng ta là bệ phóng, lạy Chúa, không phải mục tiêu của bọn chúng! Tại sao chúng ta phải lo lắng? Do đó chúng ta hãy thắp nến cho những người Mỹ tội nghiệp. Và chúng ta cầu nguyện cho những người Mỹ tội nghiệp. Và chúng ta bày tỏ với họ rất nhiều tình đoàn kết không mất tiền mua. Nhưng tôi không cần nói với các anh rằng có nhiều thằng đê tiện trên khắp đất nước này không để tâm quá nhiều đến chuyện Pháo đài Mỹ có nhận được một liều thuốc nào cho chính họ không, và một số thằng đê tiện ấy đang ngồi rất cao ở Berlin, và vẫn còn đang ngồi ở đó. Và khi chiến tranh Iraq xảy ra, và những người Đức tôt bụng chúng ta không dính vào, thì điều đó khiến chúng ta càng được miễn. Xảy ra ở Madrid. Ô kê. Xảy ra ở London. Ô kê. Nhưng không Berlin, không Munich, không Hamburg. Chúng ta đã được miễn tất cả chuyện ấy rồi.

Chọn một góc phòng, anh ta nói chéo sang với họ bằng giọng tâm tình hơn.

“Nhưng có hai vấn đề nhỏ, các bạn ạ. Vấn đề nhỏ thứ nhất là Đức đang cung cấp cho Mỹ các căn cứ quân sự năm sao theo các hiệp ước còn lại từ những ngày họ sở hữu chúng ta vì họ đã đánh bại chúng ta. Có nhớ lá cờ đen mà các ông chủ được bầu của chúng ta treo trên cổng Brandenburg không? Chúng tôi cùng than khóc với các anh. Nó không lên đấy do nhầm lẫn đâu. Vấn đề nhỏ thứ hai là sự ủng hộ thản nhiên không đắn đo, không chính đáng, đầy tội lỗi của chúng ta đối với nhà nước Israel. Chúng ta ủng hộ họ chống lại người Ai Cập, người Syria và người Palestine. Chống Hama và Hezbollah. Và khi Israel đánh bom bên ngoài Lebanon, những người Đức chúng ta tự vấn đúng lúc lương tâm bất an của chúng ta và chỉ nói làm thế nào bảo vệ được cái anh Israel nhỏ bé thanh lịch đó. Và chúng ta đã gửi những chàng trai bé nhỏ thanh lịch mặc đồng phục của chúng ta đến Lebanon để làm đủng việc đó - cái việc không làm cho những người Lebanon và những người Ả-rập khác ưa thích chúng ta, họ cảm thấy chúng ta đã vội vã đi bảo vệ một kẻ hay bắt nạt đang hoành hành với sự cho phép và khuyến khích của các ông Bush, Blair và dăm ba chính khách thế giới can đảm khác, những kẻ mà, vì lý do khiêm tốn, muốn rằng tên tuổi của họ không có trong danh sách những người tử trận.

“Và một sự kiện chết tiệt khác mà chúng ta biết là có vài quả bom Lebanon cài ở hệ thông đường sắt Đức chúng ta mà, nếu chúng nổ, chắc sẽ làm cho Madrid và London chỉ như cảnh diễn tập cho buổi công diễn chính thức. Sau đó, ngay cả các chính khách của chúng ta cũng thừa nhận rằng có một cái giá phải trả cho việc công khai bỡn cợt giơ một ngón tay vào mặt người Mỹ và bí mật liếm gót họ. Các thành phố Đức đã là những nạn-nhân-dự-bị. Và đêm nay chúng đang là thế đấy.”

Anh quét mắt qua cử tọa, quan sát nét mặt của từng người một. Bàn tay Maximilian giơ lên, biểu lộ một sự phản đối. Niki ngồi cạnh anh cũng thế. Những người khác làm theo. Điều này làm Günther khoái trá, và anh toác miệng cười.

“Ô kê. Đừng mất công nói thế. Các bạn đang bảo chúng tôi rằng những thằng Lebanon cài bom đó thậm chí đã không biết về đong đổ nát mới nhất của Lebanon khi chúng bắt đầu âm mưu, đúng thế không?”

Các cánh tay hạ xuống. Điều ấy đúng.

“Bọn chúng phẫn nộ vì mấy bức biếm họa ác ý của Đan Mạch về Đấng tiên tri Mohammed và một số báo Đức in lại vì họ nghĩ họ đang rất can đảm và giải thoát bảo vệ tự do cho chúng ta, đúng không?”

Đúng.

“Vậy tôi đã sai sao? Không, tôi không sai! Cái gì đã khiến chúng nó giật bom chẳng nghĩa lý chó gì cả. Cái có ý nghĩa là, mối đe dọa mà chúng ta đang đối phó ấy không nhìn thấy sự khác nhau giữa tội lỗi cá nhân và tội lỗi tập thể. Nó không nói: ‘Anh tốt, và tôi tốt, còn Erna ở đây chẳng tốt gì cả.’ Nó nói: ‘Tất cả chúng ta là một lũ vô dụng những đứa bỏ đạo, những thằng báng bổ, những kẻ giết người, những đứa gian dâm, một lũ ghét Thượng đế, bởi vậy mẹ kiếp cả lũ chúng ta.’ Đối với những thằng ấy, và tất cả những thằng mà chúng ta muốn gặp có nhận thức giống chúng nó, đó là chuyện Tây bán cầu chống đạo Hồi, không có trung dung.”

Và sau đó anh đi vào cốt lõi vấn đề.

“Các nguồn mà chúng ta, những kẻ ngoài lề xã hội mới tập hợp ở Hamburg này đây sẽ tìm kiếm phải được phù phép hiện hồn ra. Họ không biết rằng họ tồn tại, cho đến khi chúng ta bảo họ. Họ sẽ không tìm đến chúng ta. Chúng ta tìm ra họ. Chúng ta vẫn giữ quân số ít. Chúng ta ở ngoài đường. Chúng ta làm những việc tủn mủn, không làm những việc có tầm nhìn lớn. Chúng ta không có những mục tiêu định trước để hướng họ vào. Chúng ta tìm thấy một người đàn ông, chúng ta phát triển hắn, chúng ta xem hắn có được cái gì, và chúng ta xài hắn như hắn có. Hay tìm thấy một người đàn bà cũng thế cả. Chúng ta bắt người ta làm những việc mà không ai khác làm được. Những gã béo phì từ các nhà thờ Hồi giáo nói dăm ba từ tiếng Đức. Chúng ta kết thân với họ và giúp đỡ bạn bè của họ. Chúng ta theo dõi kẻ nhập cư lặng lẽ, dân du cư vô hình trên đường đi đến một nơi nào đó, đi qua từ nhà này đến nhà khác, và nhà thờ này đến nhà thờ khác.

“Chúng ta rà soát những hồ sơ trực tiếp của Herr Arni Mohr và các đồng sự bảo vệ của ông ta bên kia sân, chúng ta xem lại những ca cũ bắt đầu thì rầm rộ sau thì xì hơi, khi nguồn tin tiềm năng hoảng sợ hay chạy sang thành phố khác nơi mà tiền đồn địa phương ngu đặc đến nỗi không biết xử lý hắn cách nào và cũng không muốn xử lý. Chúng ta mặc kệ sự phản đối của chủ nhà chúng ta, và chúng ta lần theo dấu vết bắt được những nguồn cũ tiềm năng này. Chúng ta lại đo thân nhiệt cho họ. Chúng ta hô phong hoán vũ.”

Anh ta nói câu cảnh báo cuối cùng, mặc dầu nó cũng vô chính phủ một cách điển hình.

“Và xin nhớ cho rằng chúng ta bất hợp pháp. Bất hợp pháp như thế nào, vì không phải là một luật sư giỏi như nhiều đồng nghiệp đáng kính của chúng ta, tôi thật sự không biết. Nhưng theo tất cả những điều họ nói với tôi, chúng ta thậm chí không thể chùi đít mà không có sự đồng ý trước bằng văn bản của một hội đồng quan tòa tối cao, tòa thánh, Ban Chỉ huy Kết hợp ở Berlin và Cảnh sát Liên bang yêu dấu của chúng ta, họ chẳng biết đánh hơi ở những thứ rác rưởi, nhưng có đủ quyền hành mà các cục tình báo bị tước đi một cách chính đáng để chúng ta không biến thành Gestapo do nhầm lẫn. Nào bây giờ hãy đi vào công việc cụ thể. Tôi phải uổng một chút.”

• • •

Quầy rượu mở suốt đêm gọi là Hampelmanns nằm ở cạnh con đường rải sỏi gần phòng chờ của nhà ga. Một vũ công bằng sắt rèn có chiếc mũ nhọn đầu đung đưa bên trên hàng hiên mờ tối, và đêm nay, giống như hầu hết các đêm khác, nó mở cửa cho quý ông mà đội của Günther Bachmann lúc đầu biết như là lão già béo.

Cái họ không hay của người đàn ông này, bây giờ họ biết, là Müller, nhưng với mấy ông bạn khách quen của lão ở Hampelmanns này, lão có biệt danh là Đô đốc. Lão được trao trả sau mười năm bị giam giữ ở Liên Xô, đó là sự đền công cho thời gian làm thủy thủ tàu ngầm trong Hạm đội Phương Bắc của Hitler. Karl, đứa trẻ đường phố từ Dresden đã cải tạo, theo dấu vết lần ra lão, sau khi đã qua dây nói biết được tên và chỗ ở của lão, đã âm thầm theo dõi lão từ một chiếc bàn bên cạnh. Maximilian thiên tài vi tính lắp bắp đã phù phép ra được ngày sinh, tiểu sử và hồ sơ cảnh sát của lão, tất cả chỉ trong vòng mấy phút. Và bây giờ đích thân Bachmann đang vượt qua cái cầu thang gạch khói um dẫn xuống quầy rượu ở tầng hầm. Trong khi đó Karl trẻ đường phố lướt ngang qua anh biến vào bóng đêm. Bấy giờ là ba giờ sáng.

Lúc đầu Bachmann chỉ trông thấy những người ngồi gần luồng sáng từ cầu thang rọi xuống. Sau đó anh nhận ra một cây nến điện ở giữa mỗi bàn và dần dần nhìn thấy gương mặt những người ngồi quanh nó. Hai người đàn ông hốc hác vận com lê ca vát đen đang đánh cờ. Ở quầy, một phụ nữ đơn độc mời anh mua rượu. “Cám ơn, lúc khác nhé, cưng,” Bachmann trả lời. Trong một hốc tường bốn đứa con trai mình trần, đang chơi bi-a, hai cô gái mắt đờ đẫn đứng xem. Một hốc tường khác chất đầy những con cáo nhồi bông, những chiếc khiên bạc và những lá cờ nhỏ bạc màu vẽ hai khẩu súng trường bắt chéo. Và trong một hốc thứ ba, vây quanh bởi các mô hình tàu chiến đặt trong những chiếc hộp kính bụi bặm, những thắt dây chão, những băng mũ rách tả tơi, mấy tấm ảnh hoen ố chụp những thủy thủ tàu ngầm thời trai tráng sung sức nhất, ba người đàn ông rất già ngồi bên một chiếc bàn tròn có chỗ ngồi cho mười hai. Hai người gầy yếu, dường như đã nhường toàn bộ uy thế cho người thứ ba, cái đầu hói bóng nhoáng của ông ta, bộ ngực và bụng tròn như thùng phuy khiến ông ta bằng cả hai ông bạn gộp lại. Nhưng cái uy thế đó mới thoạt nhìn thì lại không phải là thần thái toát ra từ Đô đốc. Hai bàn tay to tướng bất động của lão đặt khum khum trên bàn trước mặt, dường như không thể nắm được những kỷ niệm ám ảnh lão. Đôi mắt nhỏ từ lâu đã thụt sâu vào trong cái đầu căng tròn nhẵn thín của lão, dường như đang lộn vào bên trong.

Bằng một cái gật đầu chào chung cả ba người, Bachmann lặng lẽ ngồi xuống bên cạnh Đô đốc, và rút từ túi quần sau chiếc ví đen phô ra tấm ảnh của anh và địa chỉ của một cơ quan bán chính thức không tồn tại chuyên về tìm kiếm người mất tích có trụ sở ở Kiel. Đó là một trong nhiều căn cước thường ngày mà anh thích mang theo để đối phó với những tình huống bất ngờ.

“Chúng tôi đang tìm kiếm người thanh niên Nga trẻ tội nghiệp mà ông đã gặp ở phòng chờ nhà ga mấy đêm trước này đây,” anh giải thích. “Trẻ, cao và đói. Một chàng trai có phẩm cách. Đội mũ chỏm. Ông có nhớ không?”

Lão Đô đốc tỉnh ngay khỏi cơn mơ màng quay cái đầu to tướng sang quan sát Bachmann trong khi phần còn lại của cơ thể lão ta vẫn trơ như đá.

“Chúng tôi là ai?” cuối cùng lão hỏi sau khi đã ngắm chiếc áo khoác da cà tàng, sơ mi, ca vát của Bachmann, và cái vẻ quan tâm thật tình mà - hầu như hợp pháp - vốn là ngón nghề của anh.

“Cậu ấy không được khỏe,” Bachmann giải thích. “Chúng tôi sợ cậu ấy sắp tự hại mình. Hay người khác. Những nhân viên y tế chỗ chúng tôi đang thật sự lo lắng về cậu ấy. Họ muốn đến chỗ cậu ấy trước khi có chuyện gì xấu xảy ra. Cậu ấy còn trẻ nhưng đã có một cuộc sống khó khăn. Như ông,” anh nói thêm.

Đô đốc làm như không nghe anh.

“Anh, ma cô?” lão hỏi.

Bachmann lắc đầu.

“Cớm?”

“Nếu tôi có thể đến với cậu ấy trước khi bọn cớm đến, tôi sẽ giúp được cậu ấy,” anh nói trong khi lão Đô đốc vẫn nhìn anh chằm chằm. “Tôi sẽ giúp được cả ông nữa,” anh nói tiếp. “Một trăm euro tiền mặt cho tất cả những gì ông nhớ về cậu ấy. Không phải trả lại, tôi đảm bảo.”

Lão Đô đốc giơ một bàn tay to bè quệt ngang mồm vẻ đầy suy tư rồi đứng thẳng lên, không hề liếc nhìn mấy ông bạn đang im lặng, lão bước sang hốc tường bên cạnh, không có ai và gần như tối om.

• • •

Lão Đô đốc ăn uống rất lịch sự, dùng rất nhiều khăn giấy để giữ cho mấy ngón tay của lão sạch sẽ, và thêm một lượng ê hề Tabasco mà lão cất trong túi áo vest. Bachmann đã gọi một chai vodka. Lão Đô đốc gọi thêm bánh mì, dưa chuột ngâm giấm, xúc xích, cá trích muối, và một đĩa pho mát Tilsit.

“Bọn họ đến tìm tôi,” cuối cùng lão nói.

“Ai đến?”

“Những người thiện nguyện. Tất cả bọn họ đều biết Đô đốc này.”

“Lúc ấy ông ở đâu?”

“Ở nhà từ thiện. Chú còn ở đâu được nữa?”

“Ngủ à?”

Lão Đô đốc nhếch một nụ cười khinh miệt như thể ngủ là việc mà chỉ người khác mới làm. “Tôi biết tiếng Nga. Tuy là một con chuột trên các bến cảng Hamburg, nhưng tôi nói tiếng Nga thạo hơn tiếng Đức. Anh biết tại sao không?”

“Siberia,” Bachmann gợi ý, và cái đầu to tướng gật gù đồng ý trong im lặng.

“Những người thiện nguyện không biết nói tiếng Nga. Nhưng Đô đốc này biết. Lão kéo một hơi vodka thật dài. “Muốn học làm bác sĩ.”

“Thằng bé đó hả?”

“Ở đây, Hamburg này. Muốn cứu nhân loại. Cứu khỏi ai? Nhân loại, tất nhiên. Một tay Tartar. Hắn nói vậy. Một Mussulman[6]. Được đấng Allah lệnh đến Hamburg học tập để cứu nhân loại.”

“Có lý do gì để Allah chọn nó không?”

“Bù đắp cho tất cả những người khốn khổ mà cha nó đã tàn sát.”

“Nó có nói những người khốn khổ ấy là những ai không?”

“Bọn Nga giết tất cả mọi người, anh bạn ạ. Thầy tu, trẻ con, đàn bà, toàn bộ cái thế giới khốn nạn này.”

“Những người mà cha nó giết có phải dân Hồi giáo không?”

“Nó không nói rõ các nạn nhân là ai.”

“Nó có nói cha nó làm nghề gì không? Đầu tiên làm thế nào cha nó có thể giết đưọc nhiều người khốn khổ thế?”

Lão Đô đốc nốc một ngụm vodka nữa. Rồi ngụm nữa. Rồi rót đầy cốc của lão. “Nó tò mò muốn biết các nhà ngân hàng giàu có của Hamburg có trụ sở ở đâu.”

Đối với tay thẩm vấn già đời như Bachmann, không có mẩu tin nào, dù kỳ quái đến đâu, có thể làm ngạc nhiên. “Ông bảo nó sao?”

“Tôi cười. Tôi có thể cười được. ‘Cậu cần nhà băng để làm gì? Cậu muốn lĩnh séc hả? Có lẽ tôi có thể giúp được cậu.’”

Bachmann hưởng ứng câu đùa. “Thế nó phản ứng ra sao?”

“‘Séc? Séc là cái gì?’ Rồi nó hỏi tôi họ sống trong văn phòng hay họ còn có nhà riêng nữa.”

“Rồi ông nói?”

“ ‘Nghe này’ tôi bảo nó. ‘Cậu là một chàng trai lễ phép, và đấng Allah đã bảo cậu trở thành bác sĩ. Vì vậy cậu nên thôi đừng hỏi những câu ngớ ngẩn về nhà băng nữa. Hãy đến nghỉ ở những khu nhà tồi tàn của chúng tôi, ngủ trên một chiếc giường hẳn hoi, và gặp những con người cao quý khác muốn cứu nhân loại.’ ”

“Rồi nó nói?”

“Giúi vào tay tôi năm mươi đô la. Một thằng nhóc Tartar điên, chết đói dở, cho một thằng tội phạm một tờ bạc năm mươi đô la mới cứng để lấy một cốc xúp loãng.”

Sau khi nhận cả tiền của Bachmann nữa, và tọng vào các túi tất cả những gì còn lại trên bàn, cuối cùng là một chai vodka, lão Đô đốc quay về với các bạn thủy thủ của mình ở phòng ăn bên cạnh.

• • •

Suốt vài ngày sau cuộc gặp gỡ này Bachmann lại đắm chìm vào một trạng thái im lặng ưa thích mà Etna Frey không cách nào lôi anh ra khỏi. Ngay cả cái tin Đan Mạch đã bắt giữ người tài xế xe tải vì tội chở người trái phép qua biên giới lúc thoạt nghe cũng không lay động được anh:

“Người tài xe của hắn à?” anh lặp lại. “Có phải người tài xe thả hắn xuống ga xe lửa Hamburg? Người tài xế ấy à?”

“Vâng, người tài xế ấy đấy,” Etna vặn. “Đó là cách đây hai giờ. Em đã chuyển tin này cho anh, nhưng anh quá bận rộn. Copenhagen gửi cho Ban ở Berlin, Ban chuyển cho chúng ta. Một cái tin đáng giá.”

“Quốc tịch Đan Mạch à?”

“Đúng.”

“Người gốc Đan Mạch?”

“Đúng.”

“Nhưng cải đạo Hồi?”

“Không có chuyện đó. Anh đọc e-mail đi. Hắn là tín đồ phái Luther, con của một người theo phái Luther. Tội lỗi duy nhất của hắn là có một người anh trong tổ chức tội phạm.”

Lúc này chị mới tóm được sự chú ý của anh.

“Thằng anh hư điện cho thằng em ngoan cách đây hai tuần và bảo có một thanh niên giàu mất hộ chiếu sắp đến Copenhagen như hành khách trên một tàu hàng đi từ Istanbul.”

“Giàu?” Bachmann chen vào. “Giàu thế nào?”

“Thù lao là năm nghìn đô la trả trước để đưa hắn ra khỏi các bến tàu, còn năm nghìn nữa khi đưa đến Hamburg an toàn.”

“Ai thanh toán?”

“Người thanh niên.”

“Bản thân hắn, khi đến nơi an toàn? Móc từ trong túi của hắn ra? Năm nghìn đô la?”

“Hình như thế đấy. Thằng em ngoan đang nhẵn túi nên nó ngu ngốc nhận việc này. Nó không hề biết tên người khách và nó không nói được tiếng Nga.”

“Thằng anh hư ở đâu?”

“Cũng trong tù. Tất nhiên. Họ giam giữ hai đứa riêng ra.

“Nó nói gì?”

“Nó sợ chết điếng và nó thà ngồi tù còn hơn để bọn mafia Nga chỉ mất một tuần để thịt nó.”

“Thằng trùm mafia đó: dân Nga thường hay Nga Hồi giáo?”

“Đầu mối của thằng anh hư ở Moscow - theo lời thằng anh hư - là một găng-xtơ Nga đáng kính, dũng khí, tiêu xài phung phí, dính với tầng chóp bu của giới tội phạm có tổ chức. Hắn chẳng hơi đâu bận tâm đến bọn Hồi giáo này nọ, và chỉ muôn nhìn cả lũ chúng nó chết chìm trên sông Volga. Hợp đồng của hắn với thằng anh của tay tài xế là để cứu giúp một người bạn. Người bạn ấy là ai, hay đã là ai, thì không phải là chuyện mà một thằng lừa đảo Đan Mạch nhãi nhép có thể tọc mạch.”

Chị ngồi xuống và khép đôi hàng mi đợi Bachmann lẽo đẽo theo sau.

“Ban nói gì về chuyện này?” anh hỏi.

“Ban chỉ làu bàu. Còn đang chú tâm theo dõi một thầy tế có phẩm trật cao hiện sống ở Moscow, là kẻ tuôn tiền cho các tổ chức từ thiện Hồi giáo mờ ám. Người Nga biết hắn làm chuyện đó. Hắn biết rằng người Nga biết hắn làm. Tại sao họ để cho hắn làm là chuyện trí khôn của người thường không thể hiểu. Ban nhất định tin rằng lão thầy tế này là người bạn thất lạc của trùm mafia. Điều này bất chấp sự kiện là, như đến nay người ta đều biết, hắn không có ghi chép gì về các đường dây tuồn tiền cho những tên lang thang người Nga-Chechnya chạy trốn đang trên đường đi học y khoa ở Hamburg. Ồ, nó đã cho thằng này chiếc áo choàng của nó.”

“Ai cho?”

“Thằng em ngoan, kẻ đã đưa chàng trai của chúng ta đến Hamburg thấy thương hại hắn và sợ hắn chết rét trong cái lạnh giá phương Bắc. Nên nó cho hắn áo choàng để mặc cho ấm. Một chiếc áo choàng dài đen. Em còn tin này đặc biệt cho anh.”

“Gì vậy?”

“Herr Igor bên kia sân có một nguồn tin tuyệt mật chôn kín trong cộng đồng Chính giáo Nga ở Cologne.”

“Rồi?”

“Theo nguồn tin dũng cảm của Igor, các nữ tu kín Chính giáo ở một thị trấn không xa Hamburg gần đây đã cho một người đàn ông Nga Hồi giáo trẻ đang chết đói và hơi điên nương náu.”

“Giàu?”

“Tài sản của hắn chưa được xác định.”

“Nhưng lễ phép?”

“Rất. Igor tối nay gặp nguồn tin của ông ấy trong điều kiện cực kỳ bí mật để thảo luận về khoản thanh toán cho phần cuối câu chuyện này.”

“Igor là một thằng ngu và những câu chuyện của hắn là chuyện tào lao,” Bachmann tuyên bố, thu dọn giấy tờ trên bàn nhét vào một chiếc cặp cũ sờn mòn đến nỗi chẳng ma nào thèm lấy trộm.

“Anh đi đâu đấy?” Erna Frey hỏi.

“Sang bên kia sân.”

“Để làm gì?”

“Để nói với những nhà bảo vệ hào hoa phong nhã kia rằng thằng đó là việc của chúng ta. Để bảo họ đừng cho cảnh sát làm phiền chúng ta nữa. Để đảm bảo rằng nếu bằng một dịp tình cờ hiếm hoi nào mà bọn cảnh sát thật lại bắt được hắn thì xin họ vui lòng đừng tống hắn lên xe cảnh sát mà khai chiến, mà hãy tránh cho khuất mắt và thông báo cho chúng ta ngay lập tức. Tôi cần thằng nhỏ này làm những gì nó đến đây để làm, trong chừng mực nó có thể làm được.”

“Anh quên chìa khóa rồi này,” Etna Frey nói.

❀ ❀ ❀

[1] Tức cơ quan Bảo vệ Hiến pháp, tức Tình báo nội địa.

[2] Armageddon nơi xảy ra chiến trận, theo sử thi, dẫn đến ngày tận thế.

[3] Cộng hòa Dân chủ Đức.

[4] Ulrike Marie Meinhof (1934-1976), nữ chiến sĩ cánh tả (Tây) Đức, đồng sáng lập Phân đội Hồng quân.

[5] Biệt danh chỉ Mỹ trong các phát biểu về chính sách đối ngoại của Iran.

[6] Mussulman: tín đồ Hồi giáo.

Vuốt cho phẳng chiếc phong bì, anh moi ra bức thư một trang đánh máy nhàu nát bằng thứ chữ Cyril. Nó có một địa chỉ, ngày tháng và tên người gửi - hay anh giả định thế - bằng chữ in đen lớn chạy trên đầu trang. Bên dưới nội dung không đọc đ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.