Kẻ Bị Truy Nã

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 13 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12

❊ ❊ ❊

Bachmann đang chuẩn bị ra khỏi khu chuồng ngựa của anh. Từ chín giờ sáng nay, những khách hàng lớn từ Berlin đã từng nhóm hai nhóm ba kéo đến phòng chờ của Arni Mohr, nếm thử cà phê của ông ta, gắt gỏng sai phái bọn thuộc cấp, quát vào điện thoại di động, và quắc mắt nhìn vào laptop. Trong bãi đậu xe có hai chiếc trực thăng công. Các tay lái ô tô loại thường phải đành chấp nhận khu chuồng ngựa. Bọn vệ sĩ mặc đồng phục xám lảng vảng trong sân giống như những con mèo lạc.

Và Bachmann, người gây ra tất cả chuyện này, kẻ hô phong hoán vũ, tay chặn bóng lão luyện trong bộ đồ trang trọng duy nhất của anh, đang trổ tài ngoại giao, khi thì nghiêm cẩn bằng giọng khẽ khàng xin ý kiến một ông quan chức cỡ bự nào đó, khi thì vỗ vai một anh bạn thân từ ngoài đường về. Hỏi Bachmann sản phẩm của anh đã phát triển được bao lâu rồi, và nếu anh biết bạn khá rõ, anh sẽ nở nụ cười anh hề mà nói thầm hai mươi lăm năm chó chết, đó là quãng thời gian, bằng cách này hay cách khác, anh đã làm việc cật lực trong lãnh vực bí mật này.

Erna Frey đã rời bỏ anh. Chị phải ở bên con bé tội nghiệp, bây giờ chị gọi Annabel như thế. Nếu chị cần một lý do thứ hai, mà chị thì không cần, thì chị thà băng qua trái đất còn hơn thở chung một bầu không khí với tiến sĩ Keller ở Cologne. Bị mất đi cái ảnh hưởng làm chín chắn vững vàng của chị, Bachmann đi nhanh hơn và ăn nói sáng sủa hơn, nhưng có lẽ quá sáng sủa, giống như chiếc động cơ mất đi một răng.

Trong số những đàn ông đàn bà có nụ cười niềm nở và cái liếc ngang ai là bạn của anh những ngày này, còn ai là kẻ thù? Ủy ban mật nào, bộ nào, giáo phái nào, chính đảng nào có được lòng trung thành hoàn toàn của họ? Theo anh biết, chỉ có một nhúm nhỏ là đã từng nghe một trái bom nổ trong cơn giận, nhưng trong cuộc chiến lâu dài thầm lặng để giành ngôi vị lãnh đạo trong Cục thì họ lại là những cựu chiến binh lão luyện.

Và đó là một bài thuyết khác mà Bachmann tha thiết muốn tặng cho những ông chủ nhanh chóng ngoi lên của thị trường bùng nổ sau 11/9 trong ngành tình báo và liên kết thương mại - một bản cantat khác của Bachmann mà anh chuẩn bị sẵn cho ngày anh được mời trở lại Berlin. Nó cảnh báo bọn họ rằng dù cho bọn họ có đến bao nhiêu đồ chơi gián điệp kỳ diệu tối tân nhất cất trong tủ ly, giải được bao nhiêu mật mã kỳ bí và nghe được bao nhiêu cuộc líu lo tín hiệu nóng, rút ra được bao nhiêu những suy luận thông minh từ thinh không liên quan đến các cơ cấu tổ chúc của kẻ thù, hoặc không rút ra gì cả, và dù cho họ có tham gia bao nhiêu cuộc đấu đá tàn phá lẫn nhau, dù cho bao nhiêu nhà báo dễ bảo đang ganh đua nhau đổi những kho báu kiến thức đáng ngờ của họ lấy những ám chỉ gián tiếp đầy thiên kiến và một thứ gì đó đút vào túi sau, thì cuối cùng chính là một thầy tế bị bỏ rơi, kẻ đưa thư con riêng, nhà khoa học quốc phòng dễ mua chuộc người Pakistan, người sĩ quan trung cấp Iran đã bị bỏ qua không được thăng cấp, kẻ nằm vùng một mình không thể nằm vùng một mình nữa, ai trong số họ sẽ cung cấp cái căn cứ vững chắc của kiến thức mà không có nó mọi thứ còn lại chỉ là cỏ khô cho những kẻ uốn cong sự thật, những nhà tư tưởng và những nhà vạch chính sách làm hỏng hoại trái đất.

Nhưng ai ngồi đó mà nghe anh? Bachmann, như anh là người đầu tiên biết, là nhà tiên tri bị lưu đày ra chốn hoang vu. Trong toàn bộ tập đoàn những nhà tình báo Berlin tụ tập ở đây hôm nay chỉ có một mình Michael Axelrod uể oải, thông minh, và hơi già, lúc này đang cúi xuống nói chuyện với anh, là còn có thể coi là đồng minh.

“Cho đến lúc này mọi việc tốt đẹp cả chứ, Günther?” ông hỏi với nụ cười nửa miệng quen thuộc.

Câu hỏi không phải là không có mục đích. Ian Lantern vừa mới bước vào. Đêm qua, tại một đám cưới gấp rut vì cô dâu đang mang thai mà chính Axelrod làm chủ hôn, ba người bọn họ đã uống với nhau trong tình bạn bè thật sự, tại quầy bar của khách sạn Bốn Mùa. Anh chàng nhỏ thó Lantern đã rất Anh và bối rồi khi đi câu trên ao hồ của Günther, và đã thật thẳng thắn cởi mở về chuyện London đang có kế hoạch sẽ làm gì với Issa nếu họ câu được anh ta - “và hoàn toàn thành thật Günther ạ, hắn ta là đốm sáng nhỏ xíu trong mắt chúng tôi đến nỗi tôi tuyệt đối tin rằng cuối cùng chúng tôi sẽ đến gặp người của các anh mà bảo, ‘Này, chúng mình hãy ngồi lại bàn vụ này và làm bất cứ cái gì các cậu đang làm’ ” - đến nỗi Bachmann biết rằng anh sẽ không tin cậy Lantern trong suốt cả đời mình.

Nhưng điều anh không mong đợi là Martha, người đã lao vào phòng chờ của Arni Mohr theo sát gót Lantern cứ như anh ta là sứ giả được chỉ định cho cô, mà có lẽ thế thật: cô Martha rực rỡ uy nghi, nhân vật số hai kinh khủng của Cục[1] ở Berlin - hai trong số có trời biết bao nhiêu - ăn mặc như là Thần Chết trong chiếc áo dài xa tanh đỏ tham đính đầy những đồng xê-quin trang trí đen. Và khép nép sau Martha, theo sát gót đến mức y có thể dùng cái thân hình to lớn của cô để che cho mình, không ai khác là anh chàng Newton cao tới hơn mét tám, biệt danh Newt, đã có thời là phó chỉ huy các chiến dịch tại Đại sứ Hoa Kỳ ở Beirut và là người tương nhiệm của Bachmann ở đó, kẻ vừa trông thấy ông bạn cũ đã chạy ra khỏi hàng và nhảy cẫng đến chỗ anh, ôm lấy anh mà hét, “Mẹ kiếp, Günther, lần trước tôi còn thấy anh ưỡn ẹo trong quầy bar của khách sạn Commodore! Anh làm cái chó gì ở Hamburg thế?”

Và Bachmann, trong khi cười cợt và nói chung cư xử như một anh bạn tốt, khẽ hỏi Newton cũng câu hỏi đó: Nhân danh Chúa, phân bộ Berlin Cục Tình báo Trung ương đang làm cái trò gì ở Hamburg mà chõ cả vào đất của tao? Ai mời bọn nó đến và tại sao? Và vừa khi Newton và Martha bỏ đi kiếm những con mồi khác, anh hỏi câu ấy với Axelrod, nóng nảy và dồn dập.

“Họ là những người quan sát vô hại. Bình tĩnh đi. Chúng ta thậm chí chưa bắt đầu.”

“Quan sát cái gì? Newt không quan sát. Hắn cắt cổ người ta.”

“Họ cảm thấy họ có quyền lợi ở Abdullah. Họ tin rằng ông ta đã cùng cung cấp tài chính cho một cuộc tấn công vào một khu nhà ở của họ ở A-rập Xê-Út, cộng với một vụ giội bom không nổ nhắm vào cơ sở nghe ngóng tin tức tình báo của Mỹ đặt ở Kuwait.”

“Vậy thì sao? Theo những gì chúng ta biết, ông ta cũng cung cấp tài chính đánh tòa Tháp Đôi. Chúng ta cố gắng tuyển mộ ông ta, chứ không phải phán xét ông ta. Làm sao họ đến được đây? Ai đã cho họ vào?”

“Ban Chỉ huy Kết hợp. Cậu nghĩ là ai được?”

“Ai trong Ban? Bộ phận nào của Ban? Bộ phận nào trong số nửa tá bộ phận trong Ban? Anh muốn nói Burgdorf đã cho họ vào? Burgdorf mang chiến dịch của tôi dâng cho người Mỹ?

“Nhất trí,” Axelrod gắt, đúng lúc Martha bỏ Arni Mohr và, giống như một chiếc tàu thủy lớn, hướng về phía anh kéo theo Ian Lantern đằng sau làn nước của mình.

“Tại sao, Günther Bachmann như tôi đang sống và thở đây!” cô ta rống lên bằng giọng gọi từ tàu nọ sang tàu kia, cứ như thể mãi đến bây giờ cô ta mới thấy anh ở phía chân trời. “Tại sao anh vẫn còn ở tù trong vùng nàỳ?” - nắm tay anh và kéo anh về cái thân thể phì nhiêu của cô ta, như thể cần anh trọn vẹn. “Anh gặp lan còi của tôi rồi chứ? Tất nhiên anh đã gặp. lan là con chó xù Anh quốc của tôi. Tôi dắt cậu ta đi dạo ở Charlottenburg mỗi buổi sáng. Đúng không, lan?”

“Đều đặn,” Lantern nói, lại gần bên cô ta với vẻ biết ơn. “Và cô ấy còn dọn sạch sau tôi nữa đấy,” anh ta nói thêm với một cái nháy mắt với anh bạn mới Günther.

Axelrod đã rút đi. Phía bên kia căn phòng Burgdorf đang thì tham với cấp phó của ông ta, tiến sĩ Otto Keller, nhưng mắt thì liếc về phía Bachmann, nên có lẽ hai người đang bàn về Bachmann. Những con người đường hoàng thẳng thắn thường có vẻ ngoài phù hợp với cương vị, nhưng Burgdorf sáu mươi tuổi dưới mắt Bachmann giống như một đứa trẻ bực tức, hờn dỗi vì anh em nó được mẹ thương hơn. Cánh cửa kép mở ra. Ngực ưỡn ra phía trước, hai tay kính cẩn để hai bên, Arni Mohr ông bầu đang mời khách vào dự tiệc.

Xôn xao vì sự có mặt của người Mỹ, và cũng hoang mang vì chuyện đó, Bachmann ngồi ngay vào chiếc ghế dành cho anh ở cuối chiếc bàn hội nghị dài. Mohr đã đặc cách dành cho anh vị trí danh dự này - hay là vị trí của người tối dạ? Đúng, Bachmann là người khỏi xướng ra chiến dịch này, và là người thỉnh cầu; nhưng nếu thất bại, anh cũng là người có tội. Quyết định của Ban Chỉ huy Kết hợp bất chấp cuộc đấu đá nội bộ trước đó là bởi tập thể theo chính sách cứng rắn, như Axelrod vừa mới nhắc anh. Do đó người theo đuổi độc lập như anh là đối tượng mang nguy cơ, cũng như lợi ích chung, được chấp nhận hay bác bỏ bằng sự đồng thuận. Có lẽ do nhận biết điều này nên các phe đối địch Burgdorf và Axelrod có vẻ đã siết chặt hàng ngũ để phòng thủ cho nhau ở đầu kia bàn, để cho các thuộc cấp chiếm khoảng trống giữa họ và những kẻ gây hấn.

Để nhấn mạnh vai trò quan sát viên của họ, Mohr đã dành cho Martha và Newton một chiếc bàn riêng - nhưng, điều làm Bachmann càng sửng sốt hơn nữa, là hai đã biến thành ba một cách không tài nào hiểu nổi, nhờ sự bổ sung một phụ nữ vai vuông cỡ tuổi bốn mươi với hàm răng hoàn hảo và mái tóc vàng tro dài. Và nếu như thế vẫn còn chưa đủ, trong khoảng thời gian ngắn ngủi từ lúc anh chàng mét tám Newton ôm Bachmann, hoặc là anh ta mới nuôi bộ râu, hoặc có lẽ Bachmann đã không phát hiện ra nó khi hai người ôm ghì nhau: một vệt râu đen nhọn được tỉa tót cẩn thận vắt vẻo trên cái cằm nhọn, đúng chỗ ta sẽ muốn tương một quả đấm vào, trừ khi ta bị gã Newton đó hạ nốc ao trước.

Anh chàng lịch sự ngọt ngào Lantern, dù là người nước ngoài, cũng là tay chơi được cho nhập cuộc. Anh ta được xếp ngồi ở bàn chính, nhưng ở một chỗ đủ gần với bàn của những người quan sát để có thể thì thầm vào tai Martha. Ngồi bên trái Lantern là Burgdorf, nhưng khá cách xa anh ta, vì Burgdorf bảnh bao, tươi rói và đẹp đẽ, không thích người khác ngồi gần. Cách hai chỗ về bên dưới là hai nữ nhân ám ảnh thuộc đội chống rửa tiền Berlin. Thiên hướng của họ là thích làm cho mình già trước tuổi bằng cách giải những câu đố như: làm thế nào số tiền chuyển khoản mười ngàn đô la do một tổ chức từ thiện Hồi giáo ở Nuremberg quyền được nhờ thiện ý lại tự hóa thân thành năm trăm lít thuốc nhuộm tóc trong một ga ra sân sau ở Barcelona.

Những khuôn mặt còn lại bày ra trước mắt Bachmann toàn là quan chức hay tệ hơn: những nhân vật chóp bu từ Kho bạc; một bà có vẻ mặt đưa đám từ Văn phòng Thủ tướng; một vụ trưởng trẻ đến vô lý từ Cục Cảnh sát Liên bang và một cựu biên tập viên hải ngoại của báo Berlin có chuyên môn thạo giết chết những bài báo.

Bachmann đã nên bắt đầu chưa? Mohr đã đóng cửa và khóa lại. Tiến sĩ Keller cau có nhìn điện thoại di động và nhét tọt nó vào túi. Lantern khích lệ Bachmann bằng nụ cười dạn dĩ như muốn nói rằng, Nhào vô đi, Günther. Và thế là Bachmann nhào vô.

“Chiến dịch FELIX,” anh mở đầu. “Tôi có thể coi là tất cả các vị ở đây đều đã đọc qua tài liệu không? Không có ai chưa đọc chứ?”

Không có ai chưa đọc. Mọi gương mặt điều quay hướng về anh.

“Vậy xin mời giáo sư Aziz cung cấp cho chúng ta một hồ sơ về mục tiêu của chúng ta.”

Trước hết hãy làm họ choáng bằng Aziz, và để phần khó gặm nhất cho đến cuối, Axelrod đã khuyên thế.

• • •

Trong hai mươi năm, Bachmann đã yêu Aziz: khi Aziz là trưởng toán của anh ở Amman; khi ông ngồi mục xương trong một nhà tù ở Tunisia còn mạng lưới của ông bị treo cổ và gia đình ông phải ẩn náu; và đến một ngày Aziz tập tễnh ra khỏi cổng nhà tù trên đôi chân trần bị đánh giập nát bước lên chiếc xe của đại sứ quán Đức đang đợi để đưa ông ra sân bay sang định cư ở Baravia.

Và bây giờ anh vẫn yêư Aziz, khi cửa bên mở ra và Maximilian theo bố trí xuất hiện chớp nhoáng, và một dáng người bé tí, vẻ lính tráng, tóc đen, quần áo đen, để ria mép nhẹ nhàng bước vào phòng đen ngồi trên một chiếc bục kê cao ở phía cuối bàn: Aziz, một điệp viên định cư, chuyên gia hàng đầu của Ban Chỉ huy Kết hợp về những lãnh vực ít được biết đến của thánh chiến Hồi giáo - và về những hoạt động và trầm tư mặc tưởng của ông bạn học thời trước từ những ngày còn ở Cairo: tiến sĩ Abdullah.

Chỉ trừ có một điều Aziz không gọi ông ta là Abdullah. Ông gọi ông ta là BIỂN CHỈ ĐƯỜNG, đó là bí danh kỳ quái do Axelrod chọn để che giấu khi nhác đến cuốn cẩm nang tinh thần của tất cả các chiến binh Hồi giáo, gọi là Những tấm biển chỉ dẫn dọc đường được viết bởi người thầy tinh thần của họ là Sayyed Qutub khi ngồi cho hết án trong một nhà tù ở Ai Cập. Giọng của Aziz trầm trọng, và có nhạc đệm bằng nỗi đau.

“BIỂN CHỈ ĐƯỜNG về mọi phương diện chỉ là một giáo sĩ,” ông mở đầu, lấy vai trò luật sư biện hộ. “Ông là một học giả thông thái và hoàn toàn chân chính. Ông là người ngoan đạo không ai có thể nghi ngờ. Ông là người chủ trương con đường hòa bình. Ông thật lòng tin rằng sử dụng bạo lực để lật đổ các chính phủ Hồi giáo thối nát là trái với luật tôn giáo. Gần đây ông đã cho xuất bản một bản dịch mới những lời dạy của Đấng tiên tri Mohammed ra tiếng Đúc. Đó là một bản dịch xuất sắc. Tôi không biết có bản nào tốt hơn không. Ông sống giản dị và ăn mật ong” Không có ai cười. “Ông là người mê ăn mật. Trong cộng đồng Hồi giáo, ông nổi tiếng vì mê thích mật ong. Người Hồi giáo thích phân loại người theo thiên hướng. Ông là người của Thượng đế, người của kinh Koran và người của mật ong. Nhưng thật bất hạnh, theo chúng tôi biết thì ông còn là người của bom. Vụ này chưa được chứng minh, nhưng cái chứng cứ thì rất thuyết phục.”

Bachmann liếc trộm một vòng quanh bàn. Mật ong, Thượng đế và bom. Mọi con mắt dồn vào vị giáo sư nhỏ thó có dáng dấp lính tráng, bạn cũ của tay đánh bom ăn mật ong.

“Cho đến cách đây năm năm ông vẫn còn mặc những bộ com lê may đo. Ông là một tay diện bảnh. Nhưng khi ông bắt đầu xuất hiện trên truyền hình Đức và tham gia các thảo luận công khai, ông ăn mặc xoàng xĩnh hơn nhiều. Ông muốn để người ta nhìn thấy vẻ khiêm nhường của ông. Lối sống đạm bạc của ông. Đó là sự thật. Tôi thật không hiểu vì sao ông ấy làm thế.”

Những thính giả của ông cũng không hiểu vì sao.

“Cả đời mình, BIỂN CHỈ ĐƯỜNG chân thành chiến đấu để vượt qua những chia rẽ giáo phái trong nội bộ Umma. Về điểm này tôi nghĩ ông rất đáng khâm phục.”

Ông ta ngập ngừng. Hầu hết những người có mặt, nhưng không phải tất cả, biết rằng bằng từ Umma, ông muốn nói đến cộng đồng Hồi giáo trên toàn thế giới.

“Trong những hoạt động gây quỹ của mình, BIỂN CHỈ ĐƯỜNG ngồi trong ban trị sự của các tổ chức từ thiện thuộc nhiều giáo phái, cái này chống đối gay gắt cái kia, nhằm mục đích khuếch trương và phân phối zakat” Aziz tiếp tục, đưa mắt đoán nhanh phản ứng của thính giả.

“Zakat là hai phẩy năm phần trăm thu nhập của người theo đạo Hồi, mà theo luật Hồi giáo phải được hiến tặng cho những sự nghiệp hữu ích như trường học, bệnh viện, cung cấp thực phẩm cho những người nghèo khó cơ nhỡ, làm học bổng cho sinh viên và cho trẻ mồ côi. Những trẻ mồ côi Hồi giáo. Chúng là tình yêu lớn của ông. Vì các trẻ mồ côi của chúng ta, BIỂN CHỈ ĐƯỜNG đã tuyên bố suốt phần còn lại của cuộc đời mình, ông sẽ đi khắp trái đất không hề chợp mắt ngủ. Chúng ta cũng nên ngưỡng mộ ông về chuyện này nữa. Thế giới Hồi giáo có rất nhiều trẻ mồ côi. Và từ thời trẻ bản thân BIỂN CHỈ ĐƯỜNG cũng là một trẻ mồ côi: sản phẩm của những trường học kinh Koran khắc nghiệt, vô cùng khắc nghiệt.”

Nhưng có một mặt trái cho sự tận tâm ấy, như sự siết lại trong giọng nói của ông cho thấy:

“Những trại trẻ mồ côi, tôi muốn đề xuất với các ngài, là một trong nhiều điểm mà các xã hội chính nghĩa và khủng bố không thể không gặp nhau. Các trại trẻ mồ côi là nơi trú ẩn cho con cái của những người đã chết. Trong số những người chết có nhiều người tử vì đạo, đàn ông và đàn bà cống hiến đời mình để bảo vệ đạo Hồi, trên các chiến trường hoặc trong các trận đánh bom liều chết. Những người hiến tặng từ thiện không thể đặt câu hỏi tử vì đạo theo kiểu nào. Do đó tôi sợ rằng trong bối cảnh này mối liên hệ với những kẻ cung cấp cho khủng bố là không thể tránh khỏi.”

Nếu cử tọa mà có lầm rầm một tiếng amen mê mẩn, chắc Bachmann cũng không lấy làm ngạc nhiên.

“BIỂN CHỈ ĐƯỜNG là một người can đảm,” giáo sư Aziz nhắc lại, lấy vai trò luật sư bào chữa. “Khi theo đuổi sứ mệnh của đời mình, ông đã chừng kiến cảnh ngộ của những anh chị em Hồi giáo của ông ở một số nơi tồi tệ nhất trên trái đất, tôi muốn nói là tuyệt đối tồi tệ. Trong ba năm cuối ông đã đích thân liều mạng đến dải Gaza, Baghdad, Somalia, Yemen, Ethiopia; và cả Lebanon nữa, nơi ông đã trực tiếp nếm trải sự tàn phá của Israel đối với đất nước này. Tôi e rằng điều ấy không thể biện minh được cho ông.”

Ông hít một hơi sâu, như để nạp đầy lòng can đảm vào người, mặc dầu theo Bachmann nhớ thì can đảm là thủ Aziz không hề thiếu.

“Tôi phải nói với các ngài rằng trong những trường hợp này, với người Hồi giáo hay không Hồi giáo cũng vậy thôi, luôn luôn có cùng một câu hỏi: Nếu những bằng chứng thuyết phục ấy là đúng thì một người như BIỂN CHỈ ĐƯỜNG đã làm một ít việc tốt cốt là để làm những việc xấu? Hay ông ta làm một ít việc xấu để làm việc tốt? Theo biện hộ của tôi, mục đích của BIỂN CHỈ ĐƯỜNG luôn luôn là làm việc tốt. Hỏi ông về những lợi ích có thể chấp nhận được của bạo lực, ông sẽ luôn luôn trả lời rằng khi giải quyết vấn đề khủng bố, chúng ta phải phân biệt giữa một mặt là sự nổi dậy hợp pháp chống lại sự chiếm đóng và mặt khác là chính sách khủng bố rõ ràng mà chúng ta không tán thành. Hiến chương Liên Hiệp Quốc cho phép kháng chiến chống lại chiếm đóng. Chúng ta tán thành quan điểm này, và mọi người Âu tự do cũng thế. Tuy nhiên” - ông bỗng trở nên đăm chiêu tiếc nuối - “tuy nhiên, những gì chúng ta đã biết trong trường hợp này - và BIỂN CHỈ ĐƯỜNG theo những bằng chứng thuyết phục không phải là ngoại lệ - là những người tốt chấp nhận một chút ít xấu như yếu tố cần thiết cho công việc của họ. Đối với một số người tỷ lệ là hai mươi phần trăm. Với những người khác là mười hai hoặc mười. Với những người khác nữa, thậm chí chỉ có năm. Nhưng năm phần trăm cái xấu có thể thật sự là rất xấu, ngay cả khi chín mươi lăm phần trăm còn lại là rất tốt. Họ biết những lập luận này. Nhưng trong đầu họ” - ông vỗ lên đầu mình - “họ coi chúng là chưa được giải quyết. Họ dành một chỗ cho khủng bố trong đầu họ và đấy không phải là chỗ tiêu cực hẳn. Họ coi nó” - hình như ông đang rà soát lương tâm mình và giả vờ đó là lương tâm của Abdullah? - “như một đóng góp đau đớn nhưng cần thiết cho sự đa dạng vĩ đại là Umma. Không may, điều đó không xác lập được một lý do. Tôi dám nói, nó xác lập một sự giải thích. Do đó, trong khi BIỂN CHỈ ĐƯỜNG có thể đinh ninh trong đầu điều gì ông ta coi là con đường đúng, ông ta sẽ không thật sự đi xa đến mức nói thẳng vào mặt những chiến binh rằng họ đã sai. Bởi vì trong lòng ông ta, ông ta không hoàn toàn chắc chắn. Đó là nghịch lý không thể giải quyết được của ông, và không phải chỉ có mình ông ta như thế. Vì chẳng phải tất cả mọi tín đồ thật sự đều đi tìm con đường đúng sao? Và chắng phải các mệnh lệnh của Thượng đế là khó hiểu? BIỂN CHỈ ĐƯỜNG có thể căm ghét những hành động của bọn chiến binh. Có lẽ thế. Nhưng ông là ai mà nói rằng bọn họ thiếu sùng đạo, hoặc không được Thượng đế dẫn dắt, hơn chính bản thân ông - luôn luôn cho rằng các chứng có thuyết phục sẽ thuyết phục chúng ta?”

Bachmann liếc qua Burgdorf, rồi liếc nhanh sang Martha, bởi vì tay trùm gián điệp Mỹ và người có thể sẽ là ông hoàng của tình báo Đức đang cùng nhìn chằm chằm như nhau, và cái nhìn là hướng vào nhau. Đó là cái nhìn không biểu lộ một điều gì cả, không bật lên một tín hiệu nào vượt ra ngoài sự tồn tại một mối liên hệ riêng tư. Rồi tay Lantern cảnh giác cũng nhìn thấy cái nhìn chằm chằm ấy và cố gắng nhập cuộc, ngửa người hết cỡ ra lưng ghế đến khi gần sát với vành tai đầy trang sức của Martha, và thì thầm điều gì vào đó nhưng cũng chẳng gây được ấn tượng gì trên nét mặt cô ta.

Nếu Aziz mà có nhìn thấy tương tác ấy thì ông cũng không thèm để ý.

“Chúng ta cũng phải xem xét khả năng này” ông tiếp tục. “Cái ông BIỂN CHỈ ĐƯỜNG này, nhờ có nguồn gốc và những quan hệ nảy sinh từ đó, đang chịu áp lực tinh thần từ những đồng đạo của ông. Điều đó có thể xảy ra. Sự hợp tác của ông không chỉ được thừa nhận, mà còn bị đòi hỏi. ’Nếu ông không giúp chúng tôi, tức là ông phản bội chúng tôi.’ Có lẽ BIỂN CHỈ ĐƯỜNG còn phải chịu những hình thức ép buộc khác nữa. Ông ấy có một người vợ trước và những đứa con đáng yêu từ cuộc hôn nhân trước nay đang sống ở Ả-rập Xê-út. Chúng ta không biết,” ông nhấn mạnh một cách nhọc nhằn. “Chúng ta sẽ không bao giờ biết. Có lẽ - bản thân BIỂN CHỈ ĐƯỜNG cũng sẽ không bao giờ biết ông đã trở nên con người hiện nay của ông như thế nào – cứ cho rằng đó con người hiện nay của ông.1’ Ông chuẩn bị tinh thần để đưa ra một nhận định mà theo họ hiểu thì nghe như một lời thỉnh nguyện cuối cùng, dù chưa chắc họ đã hiểu đúng. “Có thể BIỂN CHỈ ĐƯỜNG không muốn biết - có thể ông thật tình không biết - năm phần trăm kia sẽ đi tới đâu. Cho tới mối liên hệ cuối cùng, có lẽ không ai biết. Một nhà thờ thì phải có cái mái. Một bệnh viện cần có chái nhà. Và nhờ ân sủng của đấng Allah nhân từ, có một kẻ trung gian mang cho họ tiền. Nhưng những tiền đồn nghèo nhất của Hồi giáo không nổi tiếng nhờ sổ sách kế toán chi tiết. Bởi vậy kẻ trung gian mới có thể giữ lại đủ mà mua thuốc nổ để làm vài ba cái đai bom tự sát.” Ông đưa ra một thông điệp cuối cùng. “Chín mươi lăm phần trăm trong BIỂN CHỈ ĐƯỜNG biết và yêu những gì ông làm. Nhưng năm phần trăm của ông ta không muốn biết, và không thể biết. Xin lỗi.”

Bachmann muốn hỏi ông ta xin lỗi về cái gì?

“Vậy ông ta là người thế nào?” một giọng nam đột ngột hỏi một cách nóng nảy. Đó là giọng Burgdorf.

“Bằng hành động của ông ta, Herr Burgdorf? Bằng ảnh hưởng của ông ta, ông muốn nói vậy phải không? Giả sử rằng những bằng chứng ấy là đúng?”

“Chẳng phải đó là vấn đề chúng ta đang bàn luận ở đây sao? Một khi chúng ta đã đưa ra giả thuyết đó? Những hành động của ông ta?”

Burgdorf, đứa trẻ lớn đầu gắt gỏng ấy, vốn nổi tiếng về thái độ ghê tởm đối với cái lối phóng khoáng nước đôi. Người ta đồn rằng ông đã quát vào mặt Axelrod trong một cuộc cãi vã nhỏ chỗ công cộng. “Michael, chỉ xin cho tôi những cố vấn một-mặt thôi. Đừng có cho tôi những kẻ nói với tôi ‘một mặt thì, mặt khác thì’ nữa!”

“BIỂN CHỈ ĐƯỜNG là cả một trung tâm, Herr Burgdorf ạ,” từ trên diễn đàn, giáo sư Aziz thừa nhận một cách buồn bã. “Không phải trong bản chất những việc ông ta làm, mà trong những chi tiết. Chỗ này cắt xén một tí, chỗ khác đi trệch một tẹo – tổng cộng không lớn. Ở mức độ hoạt động hiện nay của bọn khủng bố, những món tiền ấy không cần lớn lắm. Vài ngàn đô la là đủ. Ở những chỗ tệ hơn, chỉ vài trăm đô la sẽ được việc. Nếu nói đến Hama, còn ít hơn.”

Hình như ông còn muốn nói thêm điều gì. Có lẽ ông đang nhớ lại những gì một vài trăm đô la có thể làm được. Burgdorf cắt ngang:

“Như vậy là ông ta tài trợ cho khủng bố,” ông ta to tiếng vặn lại, giải thích vấn đề cho nhiều người.

“Quả thật, Herr Burgdorf, đúng thế. Nếu những gì chúng ta tin là đúng. Chín mươi lăm phần trăm thì không. Chín mươi lăm phần trăm của ông ấy cứu trợ những người nghèo khổ ốm đau cơ nhỡ của Umma. Nhưng năm phần trăm của ông ấy tài trợ khủng bố. Một cách có ý thức, và bằng tài khéo léo. Do đó ông ta là người xấu. Đó là bi kịch của ông ta.”

Axelrod đã thấy trước sẽ đến khoảnh khắc này và ông đã chuẩn bị cho nó.

“Giáo sư Aziz, ông có định đề nghị điều gì khác không? Theo những gì chúng tôi nghe được theo sự ám chỉ, ông có đồng ý rằng - nếu được khích lệ đúng, chẳng hạn, và có được sự hội tụ đúng những áp lực và những bất hạnh - BIỂN CHỈ ĐƯỜNG là một đối tượng lý tưởng để chúng ta chiêu hồi về con đường hòa bình - như chính bản thân ông nhiều năm về trước, từ những ngày ông còn là một anh em Hồi giáo trợ giúp hành động trực tiếp?”

Giáo sư Aziz cúi chào tạm biệt cử tọa và được hộ tống ra ngoài. Ông đã được kiểm tra an ninh - nhưng sao phải liều? Nhìn ông ra đi, Bachmann nghe lỏm được Martha cố tình nói với Lantern làm như che giấu vụng về: “Nói cho cậu biết, lan ạ. Tôi sẽ bằng lòng với năm phần trăm ấy ngay bây giờ.”

• • •

Những sinh hoạt rời rạc xôn xao tiếp theo sau khi Aziz đi rồi. Martha đứng lên ra khỏi phòng với điện thoại di động áp vào tai, cuốn theo Newton và cô nàng vai to tóc hoe vàng. Có vẻ như Mohr đã dành riêng một phòng mà Cục có thể tiến hành quan sát một cách vô hại. Burgdorf nghiêng người qua Keller thì thầm vào tai ông ta trong khi hai người nhìn ra hai hướng ngược nhau. Còn Bachmann trong khi cố gắng dập đi những lo âu đang chồng chất trong lòng, cầu nguyện với chính mình bằng ngôn ngữ của bản cantat không thể hát nên lời:

Chúng ta không phải là cảnh sát, chúng ta là tình báo. Chúng ta không bắt giữ đối tượng. Chúng ta phát hiện ra họ và hướng họ vào những mục tiêu tốt đẹp hơn. Khi chúng ta nhận dạng được một mạng lưới, chúng ta quan sát nó, chúng ta nghe ngóng nó, chúng ta thấm nhập vào nó và theo từng mức độ chúng ta kiểm soát nó. Những cuộc bắt giữ chỉ có ý nghĩa tiêu cực. Chúng phá hỏng những thành quả quý giá đã thu lượm được. Chúng khiến ta quờ quạng trên bảng vẽ, dò tìm nửa kia của mạng lưới giống như nửa mà ta đã tóm được. Nếu Abdullah không phải là mắt lưới của một mạng lưới đã biết, đích thân tôi sẽ làm cho ông ta thành một mắt lưới. Nếu cần phải thế. Tôi sẽ bịa ra một mạng lưới, riêng cho ông ta. Việc này đã được việc cho tôi trong quá khứ, và nó sẽ được việc trong trường hợp Abdullah, chỉ cần cho tôi một cơ hội. Amen.

• • •

Trong tay nhà nghiên cứu huyền thoại tên là Frau Zimmermann mà Bachmann đã gặp khi bà viếng thăm chớp nhoáng đại sứ quán Beirut, BIỂN CHỈ ĐƯỜNG đang tự chuyển biến từ học giả tôn giáo ăn mật có năm phần trăm tì vết thành kẻ khát máu cấp tiền cho khủng bố.

Trên một màn ảnh phía trên cái đầu to bè của Frau Zimmermann, những sơ đồ giống như những cây phả hệ đã xuất hiện, cho thấy những tổ chức từ thiện Hồi giáo đáng kính dưới quyền kiểm soát của BIỂN CHỈ ĐƯỜNG được coi là đang bị ông ta lạm dụng để bơm tiền và vật chất cho bọn khủng bố. Không phải cả năm phần trăm các giao dịch của ông ta đều là về tài chính. Những kẻ khốn cùng ở Djibouti đang kêu gào cầu xin một trăm tấn đường ư? Một trong các tổ chức từ thiện của BIỂN CHỈ ĐƯỜNG sẽ đảm bảo gửi ngay. Tuy nhiên, trên đường lô hàng này đến Djibouti, những con tàu ân huệ tình cờ ghé vào một hải cảng Berbera tầm thường nào đó ở bờ biển miền Bắc nước Somalia bị chiến tranh tàn phá, để gửi một thư hàng khác, bà giải thích, tay đập chiếc que đầy giận dữ chỉ lên tấm bảng như để xua đuổi một con côn trùng xâm nhập.

Và ở Berbera, xảy ra chuyện mười tấn đường đã bị bốc dỡ nhầm. Ờ, những vụ nhầm lẫn như thể có thể xảy ra dù ở Berbera hay Hamburg. Việc nhầm lẫn nhỏ nhặt ấy không bị phát hiện cho đến khi con tàu lại lên đường. Và khi con tàu đến bến cảng mà nó phải đến, Djibouti, thì những người nhận hàng quá đói và quá biết ơn nên khi nhận chín mươi tấn đường thì không ai phàn nàn về mười tấn lẻ đã bay hơi. Trong khi đó ở Berbera, mười tấn đường đang được dùng để mua thuốc nổ, mìn, súng ngắn, và súng phóng tên lửa vác vai cho những chiến binh Somalia mà mục đích sống ở trên đời là làm lan rộng những vụ bạo động và tàn sát với giá rẻ bèo.

Tuy nhiên ai có thể trách cứ cái tổ chức từ thiện đáng kính đó, bằng tấm lòng tốt không phải bàn cãi của nó, đã cung cấp đường cho Djibouti đang chết đói? Và ai dám trách cứ BIỂN CHỈ ĐƯỜNG, kẻ sùng đạo chín mươi lăm phần trăm, người bênh vực lòng bao dung nhân ái và đại đồng giữa mọi dân tộc thuộc mọi tôn giáo?

Frau Zimmermann có thể là một.

Bà cũng có thể nhắc cử tọa về hồ sơ FELIX của họ, cái cung cấp lập luận chi tiết cho những phát hiện của bà. Trong khi đó, cho những kẻ đần, bà có một sơ đồ khác, còn đơn giản hơn sơ đồ ban đầu. Nó bao gồm một quần thể các ngân hàng thương mại, nhỏ lớn, rải rác trên khắp thế giới. Một số là những cái tên quen thuộc, số khác rất có thể có trụ sở ở những ngôi nhà lụp xụp tồi tàn trong những thị trấn miền núi ở Pakistan. Không có cái gì liên kết ngân hàng này với ngân hàng khác. Chúng chỉ cò một điểm chung là một tia đèn pin xuất hiện khi Frau Zimmermann day day que chỉ bảng, theo cách mà một cô gái nhỏ giận dữ dứ dứ chiếc ô của cô vào chiếc xe buýt đang bỏ đi.

Vào một ngày đẹp trời một món tiền vừa phải được gửi vào ngân hàng này, bà nói. Ta giả sử đó là Amsterdam. Cứ gọi cho là mười ngàn đô la. Một ông tốt bụng từ ngoài đường bước vào gửi nó trong đó.

Và khoản tiền ấy nằm lại ở ngân hàng đó. Nó có thể ghi cho một cá nhân, một công ty, một cơ sở hay một tổ chức từ thiện. Nhưng nó không nhúc nhích. Nó vẫn nằm ở bên của chú tài khoản may mắn kia. Có thể kéo dài đến sáu tháng. Một năm.

Rồi một tuần sau, kỳ quặc chưa, một khoản tiền cũng bằng ấy được gửi vào ngân hàng này từ cách xa một ngàn ki lô mét - ta cứ giả sử - Karachi. Và nó cũng nằm nguyên tại chỗ. Không một cú điện thoại, không một cuộc chuyển tiền qua bưu điện. Chỉ có người đàn ông tốt bụng khác từ đường phố đi vào.

“Cho đến một tháng sau, một khoản tiền hoàn toàn tương tự cuối cùng đã đến đây,” Frau Zimmermann nói, giọng gay gắt của bà vút cao lên đây phẫn nộ. Đầu thanh que chỉ dừng lại ở Bắc Cyprus, “ở vị trí này nó được dự định ở lâu dài, nộp vào bằng trao đổi hàng hóa cấm, nếu không có nghiệp vụ tình báo chi tiết chúng ta không mong gì lan ra. Vô số giao dịch kiểu này diễn ra từng giờ. Chỉ có một số rất nhỏ ủng hộ khủng bố hoạt động. Những nguồn tin kết hợp và những dữ liệu máy tính đôi khi chỉ đường cho chúng ta: nhưng chỉ duy nhất một cách. Đó là thế tiến thoái lưỡng nan. Nếu lần này chúng ta lần ra dấu vết đường dây hoạt động này, ai dám nói lần sau chúng ta cũng sẽ lần ra nó? Lần sau có thể lại hoàn toàn khác. Đó là cái đẹp của hệ thống này. Tất nhiên trừ phi kẻ đứng đầu đường dây trở nên tự mãn, hoặc lười biếng và bắt đầu tự lặp lại. Khi đó sẽ hình thành một hình mẫu, và với thời gian, có thể tạo nên một giả thuyết. Điều tối ưu là tìm ra kẻ đứng đầu đường dây và mắt xích đầu tiên của hắn. BIỂN CHỈ ĐƯỜNG là một kẻ đứng đầu đường dây đã trở nên lười biếng.”

Đốm sáng đang lòe ở vị trí thành phố Nicosia. Que chỉ vụt cho nó một nhát kết án, và dừng lại ở đó.

“Việc chuyển tiền vô hình cũng giống như giải mã,” Frau Zimmermann tiếp tục bằng giọng miền Nam nước Đức của một bà giáo khó tính. “Sự lặp lại là điều mà nhà điều tra mơ ước. Dựa trên ba năm quan sát hãng tàu biển cực kỳ tầm thường này, có một hồ sơ dài về bốc dỡ nhầm thực phẩm và các hàng hóa khác lên những nơi khả nghi mà chẳng thèm đến lấy lại” - cái tên vô thưởng vô phạt CÔNG TY HÀNG HẢI BẢY NGƯỜI BẠN bỗng nhiên hiện lên dưới dạng hàng chữ đỏ chạy trên đầu hòn đảo trong khi que chỉ vẫn cương quyết nằm nguyên chỗ cũ - “và trên cơ sở thanh toán của mắt xích đầu tiên của BIỂN CHỈ ĐƯỜNG vào tài khoản từ thiện này, ngân hàng này” - Riyadh sáng lên, cùng với tên của ngân hàng bằng tiếng A-rập và tiếng Anh -”và khoản tiền tương ứng được trả vào ngân hàng này” - que chỉ di động lên Paris - “và cùng số tiền đó chạy vào ngân hàng này” - chúng ta đang ở Istanbul - “tất cả vào những tài khoản mà bây giờ chúng ta đã có khả năng nhận dạng trước, vậy chúng ta nói rằng đó là một giả thuyết rất sáng tỏ về sự dính líu của BIỂN CHỈ ĐƯỜNG vào việc cung cấp tài chính cho khủng bổ. Nếu BIỂN CHỈ ĐƯỜNG sạch, chúng tôi tin rằng không bao giờ ông ta lại có mối liên lạc trực tiếp với một công ty tàu biển kém cỏi, chỉ dùng một người này. Tuy nhiên đích thân ông ta đã thuê công ty này không chỉ một lần, mặc dầu đã biết - và có lẽ chính ông ta đã biết - rằng nhiều lần nó đã giao hàng không đúng chỗ. Đây không phải là chứng cớ. Nhưng với tư cách là một cơ sở để giả định thì nó rất thuyết phục.”

Khi màn hình tự cuốn lên xà nhà, giọng nói tỷ mỉ của Frau Zimmermann bị cắt ngang bởi giọng toang toang tàu-gọi-tàu của Martha hùng vĩ vọng qua gian phòng.

“Khi chị nói giả thuyết rõ ràng, Charlotte” - không biết thế quái nào cô ta biết tên thánh của bà này, Bachmann tự hỏi, và thế quái nào cô quay trở lại đây mà mình không để ý? - “có phải ở đây chị muốn nòi giống như chứng cớ không? Ông ta đi nước mà chúng ta muốn ông ấy đi – nước đi mắt xích đầu tiên - và sau đó chúng ta có chứng cớ à? Chúng có có thể đứng vững trước một tòa án Hoa Kỳ?”

Frau Zimmermann đỏ bừng mặt phản đối rằng câu hỏi vuợt quá mức lương của bà để trả lời thì Axelrod đã khéo léo đỡ lời bà.

“Loại tòa án nào của các cô mà chúng ta đang nói ở đây hả Martha? Các tòa án binh bên cô xử kín, hay là loại tòa án kiểu cũ khi bị cáo được phép biết hắn bị kết tội gì?”

Một vài người tự do hơn bật cười, số còn lại giả vờ không nghe thấy.

“Herr Bachmann,” Burgdorf gắt. “Anh có một đề nghị hành động. Cho chúng tôi nghe đi.”

• • •

Một người làm ra thời tiết không sẵn lòng có cái nhìn săm soi không thạo qua vai mình trong khi anh ta làm ảo thuật. Bachmann có những nhạy cảm của người nghệ sĩ về chia sẻ quá trình sáng tạo. Tuy nhiên anh cố gắng gia ơn cho cử tọa. Bằng lối nói khiêm tốn của dân ngoại đạo nhằm mục đích lôi cuốn những người ngoài rìa nghề tình báo, anh bắt đầu trình bày các lý lẽ, mà nhờ sự trợ giúp biên tập của Erna Frey và Axelrod, đã hình thành cốt lõi nội dung của bài phát biểu viết vội. Anh giải thích rằng, mục tiêu của chiến dịch này là tìm ra chứng cớ phạm tội của BIỂN CHỈ ĐƯỜNG những đồng thời giữ nguyên uy danh và địa vị cao trọng của ông ta và về lâu dài còn tăng tiến thêm nữa, và giữ nguyên vẹn tất cả các mối quan hệ từ thiện của ông ta. Tức là chiếm lấy năm phần trăm của ông ta và dùng ông ta như một cái ống và một trạm nghe ngóng. Cưỡng lại thiên hướng trội hơn của mình, Bachmann buộc mình dùng cụm từ “cuộc chiến chống khủng bố”. Do vậy bước đi đầu tiên là quan trọng nhất: phải thỏa hiệp với BIỂN CHỈ ĐƯỜNG một cách tuyệt đối, để ông ta biết ông ta được thỏa hiệp và cho ông ta một cơ hội lựa chọn giữa giữ nguyên đuọc vai trò lãnh tụ tinh thần kiệt xuất của Umma, hay là...

“Hay chính xác là cái gì? Nói rõ ra đi, Günther?” Martha, nhà quan sát vô hại ngắt lời.

“Sự lăng nhục công khai và khả năng ngồi tù.”

“Khả năng?”

Axelrod giải cứu: “Đây là nước Đức, Martha.”

“Chắc chắn rồi. Đây là nước Đức. Các anh xử hắn và giả sử nhé, vụ này bị kẹt lại. Hắn sẽ ngồi tù mấy năm? Sáu năm, ba trong số đó hưởng án treo? Mấy người các anh không hiểu nhà tù là gì. Ai sẽ thẩm vấn?”

Axelrod không nghi ngờ gì chuyện ai sẽ. “Ông ta thuộc về nước Đức và ông ta sẽ được thẩm vấn theo luật pháp nước Đức. Nếu như ông ta từ chối hợp tác. Tuy nhiên, sẽ tốt hơn nhiều nếu ông ta ở yên vị và cộng tác với chúng tôi. Chúng tôi tin ông ấy sẽ cộng tác.”

“Tại sao? Hắn là một tên khủng bố cuồng tín. Có lẽ hắn thà tự nổ tung còn hơn chịu cộng tác.”

Lại Bachmann: “Đó không phải là điều chúng tôi đọc thấy ở ông ta, Martha. Ông ta là một người yêu gia đình, điềm tĩnh, đáng kính trong khắp Umma, được ngưỡng mộ ở phương Tây. Từ ngày ông ta ở tù đã ba mươi năm rồi. Chúng tôi không yêu cầu ông ta phải thành một kẻ phản bội. Chúng tôi hiến cho ông ấy một định nghĩa khác về lòng trung thành. Chúng tôi bảo vệ địa vị của ông ấy ở đây, chúng tôi hứa cho ông ấy quyền công dân Đức mà ông ấy xin sáu bảy lần rồi chưa được. Thôi được, có thể lúc đầu chúng tôi phải dọa dẫm ông ta. Những đó là khúc dạo đầu thôi. Rồi chúng tôi coi ông ta là bạn. ‘Hãy đến với chúng tôi, chúng ta cùng làm việc một cách sáng tạo, vì một Đạo Hồi tốt đẹp hơn, ôn hòa hơn.’ ”

“Thế còn việc ân xá cho những hành động khủng bố trong quá khứ?” Martha gợi, lúc này cô có vẻ xuôi theo lý lẽ hơn là chống lại. “Các anh cũng định thêm vào sao?”

“Miễn là ông ta thú nhận tất cả. Giả sứ Berlin phê chuẩn. Coi như một phần cần thiết của vụ này. Vâng.”

Bóng đen của thái độ nghi kỵ phản đối đã tan. Martha cười toác. “Günther yêu dấu. Anh bao nhiêu tuổi rồi? Một trăm năm mươi phải không?”

“Một trăm bốn chín,” Bachmann đáp lại trò chơi của cô.

“Nghĩ xem tôi đã từ bỏ lý tưởng cuối cùng của mình từ hồi mười bảy tuổi rưỡi!” Martha kêu lên. Và một trận cười vui chung nổ tung ra, do Lantern dẫn đầu.

• • •

Nhưng vụ của Bachmann còn lâu mới thành công. Một cái liếc trộm nhanh một vòng qua tất cả các khuôn mặt xung quanh bàn đã khẳng định điều anh lo sợ từ đầu: rằng viễn cảnh tình bạn thân thiện với một kẻ tài trợ khủng bố không hợp khẩu vị tất cả mọi người.

“Như vậy là hôm nay chúng ta đang trao quyền công dân cho các kẻ thù của chúng ta,” một tay khôi hài có tiếng của Bộ Ngoại giao lên tiếng mỉa mai. “Chúng ta đang mở rộng vòng tay, không chỉ cho BIỂN CHỈ ĐƯỜNG, một tên khủng bố quốc tế đã bị nhận mặt, mà còn cho anh bạn tốt FELIX của chúng ta nữa, một tên tội phạm Nga vượt ngục với một chuỗi cáo buộc về những hành động bạo lực do đạo Hồi khuyến khích. Lòng hiếu khách của chúng ta với các tội phạm quốc tế dường như vô hạn. Chúng ta có lòng khoan dung hoàn toàn đối với con người này, do đó chúng ta biếu hắn quyền công dân Đức làm quà lót tay. Người ta thắc mắc không biết tính nịnh đầm của chúng ta còn đi xa đến đâu nữa.”

“Cái đó là để dành cho cô gái,” Bachmann đỏ bừng mặt càu nhàu.

“A, tất nhiên. Một quý bà trong vụ này. Tôi quên.”

“Cô gái này lẽ ra không bao giờ làm việc cho chúng tôi nếu như chúng tôi không long trọng hứa với cô ấy FELIX sẽ được tự do. Không có cô gái này, không bao giờ chúng tôi có thể ướm ý FELIX. Cô gái kết bạn với hắn, cô gái thuyết phục hắn đến gặp BIỂN CHỈ ĐƯỜNG.”

Nhận thấy lời nói của mình được chào đón bởi một không khí im lặng không tin tưởng, nếu không nói là sự nghi ngờ công khai, Bachmann rụt đầu xuống vai một cách thù địch. “Tôi đã hứa với cô ấy. Lời hứa mà không bao giờ chúng tôi phá vỡ, lời hứa của chỉ huy với nhân viên của mình. Đó là thỏa thuận. Được Ban Chỉ huy Kết hợp đồng ý.” Câu nói hóm hỉnh cuối cùng này nhắm thẳng vào Burgdorf trong khi Axelrod cau mày khó chịu vào giữa khoảng không. “Cô ấy là luật sư của hắn ta” - bây giờ nói với cả phòng. “Với tư cách là luật sư của hắn cô ấy đã thề làm bất cứ điều gì cần để bảo vệ thân chủ của mình. Cô ấy hợp tác bởi vì chúng tôi đã đảm bảo với cô ấy rằng thân chủ của cô sẽ có lợi. Cậu ta sẽ được tự do và cậu ta sẽ được để yên cho học tập và cầu nguyện, là tất cả những gì mà cậu ta muốn làm. Đó là lý do cô ấy đi với chúng tôi.”

“Chúng tôi cũng được nghe rằng cô ta yêu hắn,” vẫn cái giọng chua cay ấy cất lên, hết sức ngoan cố. “Có lẽ vấn đề là: còn lại bao nhiêu tình yêu dành cho chúng ta?”

Và Bachmann, mặc dầu cái lừ mắt cảnh cáo của Axelrod, có thể đã đập lại lời chế nhạo này bằng những từ ngữ mà sau đó anh phải hối hận, nếu Lantern không khéo léo xen vào giữa mối bất hòa để tháo ngòi nổ.

“Cho phép tôi vẫy lá cờ Anh bé nhỏ của tôi ở đây nhé Ax?” - chọn Axelrod làm người nhận những câu hóm kiểu Ang-lê của anh ta - “Tôi cảm thấy tôi nên chỉ ra rằng nếu không có sự nhập cuộc của một nhà ngân hàng Anh đáng tin cậy nọ thì không có FELIX để thừa hưởng tiền của bố nó, và không có BIỂN CHỈ ĐƯỜNG để giúp nó tiêu số tiền ấy!”

Nhưng những tiếng cười theo sau thì không chắc chắn lắm và căng thẳng không dịu bớt. Martha đang chụm đầu với Newton và người đàn bà bí mật tóc vàng tro. Bây giờ đầu cô ta vụt ngẩng lên.

“Günther. lan. Ax. Ô kê. Hãy trả lời tôi câu hỏi này. Có phải mấy anh đang nói với tôi rằng mấy anh làm xong vụ này? Tôi muốn nói, lạy Chúa, hãy xem chúng ta có gì ở đây. Một nữ luật sư tự do ngu ngốc gần loạn thần kinh. Một nhà ngân hàng người Anh gần xuống lỗ mê cô ta. Một chiến sĩ đấu tranh cho tự do mang dòng máu Chechnya trên đường chạy trốn công lý nước Nga phi máy bay giấy và nghe nhạc và nghĩ một ngày kia hắn sẽ thành bác sĩ. Và cả đám mấy anh thật sự nghĩ rằng mấy anh có thể nhét họ vào một căn phòng, và họ sẽ tóm cổ một kẻ rửa tiền Hồi giáo cuồng tín, kẻ bỏ cả đời nhìn những góc tròn. Tôi nói có đúng không? Hay cái đầu tôi hơi có vấn đề?”

Bachmann nhẹ cả người khi Axelrod lần này có thể trả lời mạnh mẽ.

“FELIX không phải từ trên trời rơi xuống, trong chừng mực có liên quan đến BIỂN CHỈ ĐƯỜNG, Martha ạ. Nếu cô nhìn vào tài liệu, cô sẽ thấy chúng tôi đã viết cả một bản tường thuật đầy đủ về hắn trên các website mà chúng tôi kiểm soát, và những nguồn tin cho tôi biết những cố gắng của chúng tôi đã có kết quả. Thông cáo truy nã của Thụy Điển và báo cáo của cảnh sát Nga cũng không có ảnh hưởng tai hại gì đến chúng tôi. Những website mà chúng tôi chưa bao giờ nghe nói đến đã đưa hắn lên như một chiến binh Chechnya vĩ đại và một nghệ sĩ đào thoát. Đến khi tất cả những cái ấy hội đủ thì tên tuổi FELIX đã bay xa trước hắn rồi.”

• • •

Có ai đó hỏi về quy trình của chiến dịch. Một khi BIỂN CHỈ ĐƯỜNG đã được thỏa hiệp và bảo vệ, Bachmann sẽ bám chặt lấy ông ta được bao lâu mà không làm dấy lên những lo ngại liên quan đến tung tích của ông ta?

Bachmann trả lời tất cả điều đó phụ thuộc vào chỗ BIỂN CHỈ ĐƯỜNG bố trí thế nào cho đêm ấy. Họ đang chạy đua với thời gian. Cả cô gái và FELIX đều đang trở nên gay gắt.

Mọi ánh mắt quay qua Arni Mohr. Cố hết sức làm cho mọi người chủ ý đến sự có mặt của mình, ông ta đang mô tả cuộc viếng thăm trụ sở cảnh sát vào đêm qua, tại đấy trước một cuộc họp những nhân vật quan trọng, ông ta đã mô tả một phần, không phải toàn bộ, đương nhiên rồi, chiến dịch đã được lên kế hoạch.

Khi Bachmann nghe, một nỗi thật vọng xâm chiếm khiến anh như muốn ôm. Cảnh sát đề nghị bố trí các tay Sling xung quanh ngân hàng, đề phòng BIỂN CHỈ ĐƯỜNG có thể mang đai bom tự sát, Mohr tuyên bố một cách tự hào.

Và bởi vì cần phải giả định rằng BIỂN CHỈ ĐƯỜNG sẽ đến có vũ trang, họ còn đề nghị sẽ kiểm soát cuộc gặp gỡ then chốt tại ngân hàng Brue Freres từ cả năm ngả: bờ biển Alster, hai đầu phố và hai ngả còn lại.

Còn về nóc nhà, Mohr tiếp tục. Điểm chủ chốt trong kế hoạch tổng thể của ông ta là phong tỏa toàn bộ khu vục ngay khi BIỂN CHỈ ĐƯỜNG được đón vào nhà băng và bảo vệ thay dân bằng người theo kiểu riêng của ông ta: trong ô tô, trên xe đạp, đi bộ. Với sự trợ lực của cảnh sát, mọi nhà và khách sạn gần đó đều sẽ được sơ tán.

Keller đồng ý.

Burgdorf không phản đối.

Martha, dù chỉ là quan sát viên, cũng vui lòng biểu lộ tán thành.

Newton nói bất cứ gì họ có thể giúp: đồ chơi, công cụ quan sát ban đêm, bất cứ gì dù nhỏ nhặt.

Người đàn bà bí ẩn tóc vàng tro ra hiệu đồng ý bằng cách mím môi gật cái khuôn mặt lưỡi cày của bà ta.

Bằng một cố gắng điều hòa bớt cái kế hoạch kỳ vĩ của Mohr, Axelrod nhắc ông ta rằng những biện pháp để phòng mà ông ta và cảnh sát đang ủng hộ không nên để lại một dấu vết gì trước, trong và sau khi BIỂN CHỈ ĐƯỜNG đến ngân hàng Brue Freres. Nếu chỉ một lời lọt ra - đến tai giới truyền thông, đến cộng đồng Hồi giáo đang sùng bái ông ta đến thế - thì mọi hy vọng BIỂN CHỈ ĐƯỜNG sẽ hành động như một nguồn tin có giá trị cao sẽ đi đứt.

Và vâng, Axelrod thừa nhận, về phần ông thì chính Arni Mohr có thể có mặt khi cảnh sát về kỹ thuật đã bắt giữ BIỂN CHỈ ĐƯỜNG, nhưng chỉ khi Bachmann nghĩ một vụ bắt giữ như thế là nên làm, như một biện pháp dọa dẫm ông ta trước khi bắt đầu quá trình kết bạn. Mọi người có đồng ý thế không?

Tất cả mọi người rõ ràng đồng ý, trừ Bachmann. Cuộc họp đột ngột chấm dứt. Bồi thẩm đoàn - có các nhà quan sát giúp sức - sẽ lui vào để xem xét phán quyết, và Bachmann, không phải lần đầu tiên, có thể về khu chuồng ngựa của mình mà hồi hộp chờ đợi.

“Làm xuất sắc lắm, Bachmann,” Burgdorf nói với anh, vỗ vai trong một cử chỉ đụng chạm suồng sã hiếm hoi.

Tai Bachmann nghe những tràng vỗ tay như lời cáo phó.

• • •

Bachmann ngồi bên bàn làm việc, ôm đầu, trong khi đối diện với anh Erna Frey cặm cụi cẩn thận bên máy tính của chị.

“Cô ấy sao rồi?” anh hỏi.

“Khỏe như có thể mong đợi.”

“Là khỏe như thế nào?”

“Khi cô ấy nghĩ rằng Issa còn ốm yếu hơn cô ấy thì cô ấy còn trụ được.”

“Tốt.”

“Tốt thật ư?”

Bachmann còn có thể nói gì hơn nữa? Có phải lỗi tại anh nếu Erna cũng mê tít cô gái kia? Hay là lỗi ở Erna? Mọi người khác dường như cũng đã mê tít cô ta, vậy sao Erna không thể? Tình yêu là bất cứ điều gì người ta có thể kiên nhẫn chịu đựng mà vẫn làm việc.

Ở một nơi khác trong khu chuồng ngựa, tâm trạng cũng ủ rũ như thế. Maximilian và Niki đang giải mã và kiểm tra tin tức đến trong ngày, làm bất cứ việc gì để khỏi về nhà. Nhưng không có giọng người nào lọt đến tai Bachmann, không có tiếng cười hay tiếng trầm trồ nào vang lên dù là từ nhóm nghiên cứu ở phòng bên cạnh hay toán nghe trộm dọc hành lang, hay những toán nhỏ lái xe và các trinh sát đường phố ở tầng dưới.

Đừng bên của sổ lòng đầy cảm giác chán ngán, Bachmann nhìn chiếc máy bay lên thẳng công vụ của Keller cất cánh bay về Cologne, rồi chiếc của Burgdorf bay về Berlin với một bầu đoàn tùy tùng và Axelrod; cuối cùng là Martha lên máy bay mà không có Newton, hay cô ả tóc vàng tro của cô ta.

Một hàng Mercedes đen hướng về nhà ga chính. Những tiếng rầm rầm vút lên và vẫn còn cao mãi.

Điện thoại mã hóa reo trên bàn Bachmann. Anh áp nó lên tai và thỉnh thoảng càu nhàu “Vâng, Michael”, “Không, Michael”.

Erna Frey vẫn ngồi trước máy tính.

Bachmann nói, “Tạm biệt, Michael” và tắt máy. Erna Frey tiếp tục công việc của mình.

“Chúng ta có rồi,” Bachmann nói.

“Có gì?”

“Đèn xanh. Có điều kiện. Chúng ta có thể tiến lên. Ngay khi có thể. Họ sợ chúng ta ngồi trên miệng núi lửa. Anh có được tám giờ đầu tiên của ông ấy.”

“Tám. Không phải chín.”

“Tám là đủ. Nếu ông ta không cắn mồi sau tám giờ, Arni có thể cho cảnh sát bắt ông ta.”

“Và trong tám giờ ấy anh đưa ông ta đi đâu, nếu em được phép hỏi? Khách sạn Atlantic? Bốn Mùa?”

“Đến căn hộ an toàn của em trên bến cảng.”

“Anh sẽ tóm mái tóc ngắn của ông ta mà lôi đến đây?”

“Mời ông ta. Ngay khi ông ta bước ra khỏi nhà băng. ‘Ngài Tiến sĩ, tôi đại diện chính phủ Đức và chúng tôi muốn nói chuyện với ông về một số giao dịch tài chính bất hợp pháp mà ông vừa thực hiện.’ ”

“Rồi ông ta nói?”

“Lúc ấy ông ta ở trong xe rồi. Ông ta muốn nói gì tùy thích.”

❀ ❀ ❀

[1] Tình báo Trung ương Mỹ (CIA).

Vuốt cho phẳng chiếc phong bì, anh moi ra bức thư một trang đánh máy nhàu nát bằng thứ chữ Cyril. Nó có một địa chỉ, ngày tháng và tên người gửi - hay anh giả định thế - bằng chữ in đen lớn chạy trên đầu trang. Bên dưới nội dung không đọc đ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.