Kẻ Bị Truy Nã

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 13 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
15

❊ ❊ ❊

Bên trong chốn riêng tư của Brue ở trên tầng gác, những chuẩn bị của ông cuối cùng cũng đã có kết quả. Bằng cách dành chiếc ghế của ông nội cho Thông dịch viên Đáng kính của chúng ta, ông cứ nhất định gọi cô như vậy, ông đã dỗ được cô ngồi vào vị trí trung tâm. Cô ngồi đúng như ông muốn cô ngồi, lưng thẳng băng trên mấy tấm nệm. Ngồi bên trái cô là Issa, bên phải cô là tiến sĩ Abdullah, đối diện với Brue qua bàn làm việc của ông. Trong mắt ông lúc này Issa một lần nữa lại biến thành người khác, mất tự tin, bẽn lẽn và bối rối khi phát hiện ra rằng anh ta không cùng ngôn ngữ để nói chuyện với người thầy mới của anh. Tiến sĩ Abdullah chào anh lúc đầu bằng tiếng Ả-rập, rồi tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Đức theo một thứ tự nhanh. Thậm chí ông ta còn tìm được mấy từ tiếng Chechnya để nói với Issa, anh này có lúc sáng mắt lên rồi lại cụp xuống xấu hổ nhìn dưới đất khi ông đang nói thì tự nhiên tắc tị.

Trong mắt Brue tiến sĩ Abdullah cũng đã thay đổi so với hôm qua. Bản thân bối rối, Brue không thể tưởng tượng rằng Abdullah còn bối rối hơn. Rón rén tiến về phía Issa, hai tay giơ lên chuẩn bị ôm theo kiểu Ả-rập, duờng như cho đến phút cuối ông ngập ngừng không biết có nên tiến hành đến cùng cái thủ tục chào hỏi ấy không. Lời lẽ của ông, sau khi đã miễn cuỡng chấp nhận tiếng Đức để Annabel phiên dịch, tỏ ra long trọng một cách dè dặt, nhưng vẫn sâu sắc.

“Ông bạn Brue quý hóa của chúng ta đã từ chối tiết lộ tên họ của ông cho tôi một cách đúng đắn. Ông ấy nên làm thế. Ông là ông X., có thể tôi không biết từ đâu. Nhưng ông và tôi không nên có bí mật với nhau. Tôi có những nguồn tin của tôi. Ông cũng có những nguồn tin của ông, nếu không ông đã không cử ông chủ nhà băng người Anh đến thăm dò tôi. Thôi được, những gì ông nghe nói về tôi đều đúng cả, Issa người anh em ạ. Tôi trước sau vẫn là người của hòa bình. Điều đó không có nghĩa là tôi đứng ngoài cuộc đấu tranh vĩ đại của chúng ta. Tôi không làm bạn với bạo lực, nhưng tôi kính trọng những người từ chiến trận trở về với chúng ta. Họ đã thấy khói lửa. Như tôi đã từng thấy. Vì Đấng tiên tri và vì Thượng đế, họ chịu tra tấn. Họ đã bị đánh đập, bị bỏ tù như tôi đã từng bị, nhưng đã không bị bẻ gãy. Công việc họ làm không phải là bạo lực. Họ là nạn nhân của nó.”

Chờ một câu trả lời, ông đăm đăm ngó Issa, vừa thương hại vừa tò mò dò xem tác động những lời nói của ông. Nhưng Issa, sau khi nghe Annabel dịch, chỉ cúi đầu xuống.

“Do đó, tôi phải tin ông, ông ạ,” Abdullah tiếp tục. “Đó là bổn phận của tôi trước Thượng đế. Nếu Thượng đế muốn cho chúng ta những tài sản lớn như thế thì tôi là ai, một đầy tớ hèn mọn của Người, mà lại dám từ chối?”

Nhưng đúng lúc đó, giọng của Abdullah đanh lại, đúng như Brue nhớ từ ngày hôm trước.

“Bởi vậy hãy làm ơn, hỡi người anh em, nói cho tôi biết. Bằng sự rộng lượng nào của đấng Allah, bằng những thủ đoạn khôn khéo nào mà ông được phép ở đất nước này? Làm thế nào chúng tôi có thể ngồi với ông, nói với ông và động chạm vào ông, khi, theo những thông tin đến với tôi qua Internet và bằng những phương tiện khác, một nửa cảnh sát trên thế giới đang muốn cho ông vào cùm?”

Issa quay sang Annabel chờ câu dịch, rồi lại quay sang Abdullah trong khi cô đưa ra câu trả lời mà Brue ngờ rằng những người chỉ đạo cô đã viết sẵn từ trước.

“Tình cảnh thân chủ của tôi ở Đức vô cùng hiểm nghèo, ngài tiến sĩ Abdullah,” cô nói lúc đầu bằng tiếng Đức, rồi sau lầm rầm tóm tắt bằng tiếng Nga. “Theo luật pháp của Đức, anh ấy không thể bị trả lại đất nước nào còn áp dụng tra tấn hay buộc án tử hình. Thật đáng tiếc, đó là luật mà nhà đương cục Đức, giống như các nước dân chủ Tây phương khác, thường xuyên phớt lờ. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ xin tị nạn ở Đức.”

Sẽ? Vị thân chủ đặc biệt của cô ở nước này bao lâu rồi?”

“Anh ấy bị ốm và chỉ mới hồi phục.”

“Thế hiện tại?”

“Hiện tại thân chủ của tôi bị truy đuổi, không có tư cách công dân và gặp nguy hiểm.”

“Nhưng Thượng đế rủ lòng thương ông ấy đang ở bên chúng ta đấy thôi,” tiến sĩ Abdullah phản đối, không bị thuyết phục.

“Hiện tại” - Annabel tiếp tục đầy kiên quyết - “và cho đến khi chúng tôi nhận được bảo đảm ràng buộc từ các cấp chính quyền Đức, thân chủ của tôi trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng sẽ không bị trục xuất sang Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Nga, anh ấy từ chối trao mình vào tay họ.”

“Vậy bây giờ ông ấy đang trao mình vào tay của ai đây, nếu tôi được phép hỏi?” tiến sĩ Abdullah khăng khăng, đôi mắt đảo từ Issa sang Annabel, sang Brue và trở lại. “Có phải ông ấy là một cái bẫy? Hay bà? Hay tất cả các người là một cái bẫy?” - lúc này kéo cả Brue vào, ông này đang đưa mắt nhìn khắp lượt - “Tôi ở đây để phụng sự đấng Allah. Tôi không có lựa chọn nào khác. Nhưng các người ở đây để phụng sự ai? Tôi hỏi thật câu này từ đáy lòng: Các người là những người tốt, hay các người định diệt tôi? Có phải các người ở đây, bằng cách nào tôi không được rõ, để bịp hay chơi xấu tôi? Nếu câu hỏi của tôi xúc phạm các ngài, tôi xin lỗi. Đây là một giai đoạn khủng khiếp.”

Quyết định nhảy sang bảo vệ Annabel, Brue vẫn còn đang ráp nối câu trả lời thì Annabel đã đi trước ông, và lần này cô nói trực tiếp bỏ qua việc dịch.

“Tiến sĩ Abdullah,” cô nói, bằng một giọng gợi nên niềm phẫn uất hay tuyệt vọng.

“Thưa cô?”

“Khách hàng của tôi đêm nay đến đây trong mối hiểm nguy rất lớn cho anh ấy để trao tặng các cơ sở từ thiện của ông một món tiền rất lớn. Anh ấy chỉ yêu cầu sao cho anh ấy có thể cho, và ông nhận. Anh ấy không đòi gì đáp lại...”

“Thượng đế sẽ ban thưởng ông ấy.”

“... ngoài việc đảm bảo rằng việc học y của anh ấy sẽ được tài trợ bởi một trong các cơ sở từ thiện mà anh ấy đã hiến tặng. Ông sẽ cho anh ấy điều đảm bảo ấy, hay ông định tiếp tục thẩm vấn các ý định của anh ấy?”

“Theo ý đấng Allah việc học y của ông ấy sẽ được lo liệu.”

“Tuy nhiên anh ấy khẩn thiết yêu cầu ông tuyệt đối im lặng về nhân thân của anh ấy, tình cảnh của anh ấy ở Đức và nguồn gốc số tiền mà anh ấy sắp trao cho các cơ sở từ thiện của ông. Điều kiện là thế. Nếu ông tôn trọng chúng, anh ấy cũng sẽ như thế.”

Cái nhìn chăm chăm của tiến sĩ Abdullah quay sang Issa: đôi mắt ám ảnh, khuôn mặt hốc hác, căng ra trong đau đớn và bấn loạn, đôi bàn tay dài như tay người chết đói khum khum úp lên nhau, chiếc áo choàng dài xơ xác, cái mũ chỏm bằng len và bộ râu ngắn.

Và khi Abdullah nhìn anh thì cái nhìn của anh dịu đi.

“Issa, con ta.”

“Thưa ngài.”

“Ta có đúng không khi tin rằng anh đã không nhận được nhiều những chỉ dẫn liên quan đến tôn giáo vĩ đại của chúng ta?”

“Ngài nói đúng, thưa ngài!” Issa thốt lên, giọng anh mất tự chủ vì nóng lòng.

Nhưng đôi mắt nhỏ sáng của Abdullah đã dừng trên chiếc vòng ở cổ tay mà Issa bối rối tuột ra qua các ngón tay.

“Cái đó làm bằng vàng phải không, Issa, đồ trang sức mà anh đang đeo đó?”

“Bằng thứ vàng tốt nhất đó, thưa ngài” - với cái liếc nhìn ý tứ sang Annabel khi cô dịch câu này.

“Cuốn sách nhỏ gắn vào đó: có phải hình tượng kinh Koran không?”

Một cái gật đầu từ Issa, khi Annabel còn chưa dịch xong câu hỏi.

“Và có phải là tên đấng Allah - có phải những lời thiêng liêng của Người - được khắc trên các trang của nó?”

Chỉ nói với Annabel, và chỉ sau một quãng lặng dài tiếp theo câu dịch của cô, Issa: “Vâng, thưa ngài.”

“Và, Issa, anh chưa từng nghe nói rằng những đồ vật như thế, những sự phô trương như thế chỉ là sự bắt chước khốn khổ thói quen của đạo Cơ đốc và đạo Do Thái mà thôi - chẳng hạn, Ngôi sao David hay thánh giá Cơ đốc giáo - rằng đó là điều cấm kỵ đối với chúng ta?”

Khuôn mặt Issa tối sầm lại. Đầu anh gục xuống và anh nhìn trừng trừng xuống chiếc vòng trong tay.

Annabel đến cứu nguy cho anh: “Đó là của mẹ anh ấy,” cô nói, không cần thân chủ nhắc câu nào. “Đó là truyền thống của người dân trong bộ lạc bà ấy.”

Không để ý đến sự việc cô nói xen vào, cứ như nó không hề xảy ra, Abdullah tiếp tục suy ngẫm về tính nghiêm trọng trong sự vi phạm của Issa.

“Đeo nó lại cổ tay anh đi, Issa,” cuối cùng ông nói. “Kéo ống tay áo che đi để tôi khỏi buộc phải nhìn nó.” Và sau khi đã nghe Annabel dịch, và đợi đến khi lệnh được tuân thủ, ông mới tiếp tục bài thuyết pháp của mình.

“Trên thế giới này có những nguời, Issa ạ, chỉ quan tâm đến dunya - nghĩa là tiền bạc và các phương tiện vật chất trong cuộc đời ngắn ngủi mà chúng ta sống trên mặt đất này. Và trên thế giới có những người chẳng màng gì đến dunya, nhưng quan tâm mọi mặt đến akhira - nghĩa là cuộc sống vĩnh hằng mà chúng ta sống sau này, theo sự xứng đáng thưởng phạt của chúng ta trong mắt Thượng đế. Cuộc sống của chúng ta trong dunya là thời gian cho chúng ta để gieo hạt. Trong akhira chúng ta sẽ được thấy mùa màng của chúng ta như thế nào. Bây giờ, Issa, hãy nói cho tôi biết, điều gì anh đang từ bỏ, và vì ai?”

Annabel vừa mới dịch xong thì Issa đã đứng phắt dậy kêu lên: “Thưa ngài! Làm ơn! Tôi từ bỏ những tội lỗi của cha tôi mà theo đấng Allah!”

• • •

Cúi mình bên cạnh Maximilian, hai nắm tay tì trên bàn bên dưới hàng màn hình, Bachmann đã nhìn mọi giọng điệu và cử chỉ qua lại giữa bốn người chơi. Những gì nhìn thấy ở Issa không làm anh ngạc nhiên: anh cảm thấy anh đã hiểu cậu ta ngay từ ngày cậu ta mới đến Đức. Nhìn kỹ BIỂN CHỈ ĐƯỜNG lần đầu anh đã thấy những gì anh đợi thấy, và đã thấy bao nhiêu lần trên những đoạn ti vi chiếu lại, và trên ảnh báo chí kèm theo những lời tán tụng của biên tập về sự hóm hỉnh, khoan hòa và bao dung của một trong những lãnh tụ Hồi giáo ở Đức: một người ở vào cuối giai đoạn sung mãn, nhanh như chớp, có sức lôi cuốn và thông minh, mâu thuẫn giữa hình ảnh được chăm chút về sự ẩn dật và tính thích tự quảng cáo của ông.

Thế nhưng chính Annabel lại là trung tâm thu hút sự chú ý của anh. Trò tung hứng điệu nghệ của cô trong cuộc thẩm vấn của Abdullah khiến anh lặng người thán phục, mà không phải chỉ có anh. Maximilian ngồi cứng đơ, bàn tay giơ ra giữa chừng trên bàn phím, trong khi Niki nhìn màn hình qua kẽ ngón tay.

“Chúa trời che chở chúng ta tránh đuợc các luật sư,” cuối cùng Bachmann thốt lên trong tiếng cười nhẹ nhõm của họ. “Tôi đã chẳng nói cô này là bẩm sinh sao?”

Và tự nhủ: Erna, đáng lẽ em phải thấy cô bé tội nghiệp của em ngay lúc này.

• • •

Không khí trong phòng của Brue vẫn trang trọng, nhưng theo Brue nhạt nhẽo hơn là căng thẳng. Đã nhận ra lỗ hổng trong hiểu biết của Issa, tiến sĩ Abdullah đang thuyết giảng cho anh về bản chât của các tổ chức từ thiện Hồi giáo có cơ sở rộng rãi mà ông bảo vệ và hệ thống tài trợ cho chúng. Brue đang ngồi ngả lưng trên chiếc ghế nệm da của giám đốc ngân hàng nghe ông ta nói với cái vẻ mà ông mong nó giống như sự quan tâm sâu sắc trong khi khâm phục nghe lời dịch của Annabel.

Zakat,[1] tiến sĩ Abdullah tiếp tục nói không biết mỏi mệt, được định nghĩa trong luật đạo Hồi không phải là một sắc thuế mà là một hành động phụng sự Thượng đế.

“Điều đó rất đúng, thưa ngài,” Issa thầm thì khi Annabel dịch câu này. Brue làm vẻ tán thành sùng kính.

“Zakat nghĩa là hiến dâng trái tim của đạo Hồi,” tiến sĩ Abdullah tiếp tục một cách thận trọng, và dừng lại để Annabel dịch. “Hiến tặng một phần tài sản của con người là mệnh lệnh của đấng Allah và Đấng tiên tri, cầu cho bình an ở cùng Người.”

“Nhưng tôi sẽ hiến tất cả!” Issa kêu lên, một lần nữa lại đứng bật dậy, trước cả khi nghe hết câu Annabel dịch. “Đến từng đồng cô-pếch, thưa ngài! Rồi ngài sẽ thấy! Tôi sẽ hiến một trăm phần trăm. Cho tất cả các anh chị em của tôi ở Chechnya!”

“Nhưng cho cả Umma nói chung, bởi vì tất cả chúng ta là một gia đình vĩ đại,” tiến sĩ Abdullah kiên nhẫn nhắc nhở anh.

“Thưa ngài! Xin làm on! Chechnya là gia đình tôi!” Issa kêu lên, anh theo kịp Annabel trong phần dịch tuôn trào lưu loát của cô. “Chechnya là mẹ tôi!”

“Tuy nhiên, vì đêm nay chúng ta đang ở phương Tây, Issa,” tiến sĩ Abdullah tiếp tục một cách kiên quyết, như thể ông chưa nghe câu này, “cho phép tôi thông báo với anh rằng ngày nay nhiều người Hồi giáo phương Tây, thay vì tặng zakat cho các bạn bè riêng, hay họ hàng, lại thích trao nó cho nhiều tổ chức từ thiện Hồi giáo của chúng tôi để nó được phân phối trong Umma theo các nhu cầu cần thiết. Tôi hiểu rằng ý nguyện riêng của anh cũng là như vậy.”

Dừng để Annabel dịch. Dừng thêm lần nữa trong khi Issa thẩm thấu nó, đầu cúi, lông mày nhíu lại - và biểu lộ sự nhất trí của anh.

“Và chính là theo hiểu biết này,” Abdullah tiếp tục, cuối cùng cũng đi vào vấn đề, “mà tôi đã chuẩn bị một danh sách các nhà từ thiện mà tôi tin là xứng đáng với sự hào phóng của anh. Anh đã nhận được danh sách này rồi, theo tôi biết, Issa. Và anh đã chọn một số nhất định trong danh sách đó. Đúng không?”

Đúng.

“Vậy anh có hài lòng với danh sách này không, Issa? Hay tôi phải giải thích cho anh chính xác hơn chức năng của các tổ chức từ thiện mà tôi đã giới thiệu?”

Nhưng Issa lúc này thấy đủ rồi. “Thưa ngài!” Issa thốt lên, lại một lần nữa đứng bật dậy. “Tiến sĩ Abdullah! Anh của tôi! Xin ông đảm bảo với tôi chỉ một điều này thôi, làm ơn! Chúng ta đang hiến món tiền này cho Thượng đế và cho Chechnya. Đó là tất cả những gì tôi cần nghe! Đó là tiền của bọn ăn cắp, hiếp người và giết người. Đó là lợi nhuận xấu xa từ riba[2] Nó là haraam[3]! Nó là lợi nhuận từ rượu và nhũng lạm và khiêu dâm. Nó không phải tiền của Thượng đế! Nó là tiền của quỷ Satan!”

Sau khi đã nghe một cách nhất quyết lời dịch của Annabel và giúp cô những từ Ả-rập, Abdullah đưa ra lời đáp cân nhắc của mình.

“Anh đang hiến tặng tiền bạc để thực hiện ý Thượng đế, người anh em tốt Issa ạ. Anh hiến tặng như vậy là khôn ngoan và đúng đắn, và khi đã tặng, anh sẽ được tự do học tập và thờ đấng Allah trong khiêm nhường và thanh bạch. Có thể số tiền ấy đúng là tiền ăn cắp và đưa vào cho vay lấy lãi và các mục đích khác bị cấm theo luật của Thượng đế. Nhưng nó sẽ sớm là của một mình Thượng đế thôi, và Người sẽ khoan dung đối với anh trong bất cứ gì xảy đến sau đời sống trần thế của anh, vì không ai ngoài Thượng đế có thể phán xét anh sẽ được ban thưởng như thế nào, trên thiên đường hay dưới địa ngục.”

Đúng lúc ấy Brue cảm thấy ông đã có thể đi nước của mình.

“Vậy thế này,” ông nói một cách vui vẻ, và cũng đứng lên cùng Issa. “Tôi xin đề nghị chúng ta đến chỗ thủ quỹ và hoàn tất công việc của ta ở đó? Tất nhiên nếu Frau Richter đồng ý.”

Frau Richter đồng ý.

• • •

“Ta đi luôn chứ, sếp?” Maximilian hỏi Bachmann khi ba người bọn họ trông thấy Brue và BIỂN CHỈ ĐƯỜNG hướng ra phía cửa, theo sau là Issa và Annabel.

Cậu ta muốn nói: đã đến lúc anh lên chiếc taxi của anh còn tôi thì ra hiệu cho hai tay thám tử của anh đi theo trên chiếc Audi.

Bachmann ấn ngón tay cái lên màn hình nối chiếc xe tải với Berlin.

“Không có đèn xanh,” Bachmann khó chịu thốt lên, và cố hết sức nở một nụ cười méo mó trước sự kỳ quặc của lũ quan liêu ở Berlin.

Không có ánh đèn xanh cuối cùng, chung cuộc, không thể hủy bỏ, không thể chối từ, không xứng đáng, chó chết ấy. Không có từ Burgdorf, từ Axelrod, không có từ cả cái đám phình to quá cỡ, áo xống, tủn mủn, điều hành bởi các luật sư chia rẽ bọn họ, ý anh muốn nói thế. Có thật ban tham mưu vẫn đứng ngoài cuộc? Phải chăng Ban Chỉ huy Kết hợp ngay cả bây giờ vẫn cúi nhìn xuống gầm ghế sofa bọc da tìm một cách nào nữa để từ chối? Phải chăng bọn họ vẫn đang tranh cãi xem năm phần trăm xấu có thật sự đủ xấu để bào chữa cho việc đảo lộn những cảm giác đau khổ của cộng đồng Hồi giáo ôn hòa của chúng ta?

Vì Chúa, tôi sẽ chỉ cho các ông lối ra! anh gào lên trong trí với cả bầy bọn họ. Hãy làm theo cách của tôi, sẽ không ai biết đâu! Hay là, có lẽ tôi sẽ nộp toàn bộ vụ này cho các ngài, lên trực thăng về thẳng Berlin giải thích cho các ngài năm phần trăm xấu có nghĩa là gì ở ngoài kia trong thế giới thực mà các ngài được bảo vệ một cách mẫn cán đến vậy: máu ở lò sát sinh ngập đến tận đầu mũi giày các ngài, và người chết một trăm phần trăm nằm rải rác trong những mẩu năm phần trăm trên một ki lô mét vuông quảng trường thành phố?

Nhưng nỗi sợ tồi tệ nhất của anh là nỗi sợ mà anh khó lòng dám bộc lộ, ngay cả với bản thân: đó là về Martha và nhóm của cô ta. Martha, người quan sát mà không tham gia như thể đó là vai trò mà cô ta miễn cưỡng chấp nhận. Martha, người bạn tâm giao tân bảo thủ của Burgdorf. Martha kẻ cười lớn vào chiến dịch FELIX như thể nó là một trò chơi ăn cỗ châu Âu ngộ nghĩnh do một nhúm những tài tử nghiệp dư Đức phóng khoáng dựng nên. Anh hình dung cô ta lúc này đang ở Berlin. Tên sát nhân Newton có ở bên cô ta không? Không, gã ở lại Hamburg cùng với mụ tóc vàng tro. Anh hình dung Martha trong phòng tham mưu chiến dịch ở Ban Chỉ huy Kết hợp, bảo cho Burgdorf biết điều gì là tốt cho ông ta nếu ông ta muốn lên đỉnh cao nhất. Bảo ông ta rằng Langley không bao giờ quên bạn bè.

“Không có đèn xanh, sếp ạ,” Maximilian xác nhận. “Sẵn sàng hành động cho đến khi được thông báo.”

• • •

Cô là luật sư của anh và cô không biết gì hết ngoài vụ kiện của cô.

Và vụ kiện của cô, do tình trạng tuyệt vọng của Issa áp đặt lên cô, và được Erna Frey thuyết phục, là đưa thân chủ đến bên bàn, để cho anh ký nhận số tiền và kiếm cho anh tấm hộ chiếu đưa đến tự do.

Cô không phải là một quan tòa như mẹ cô, không phải là một nhà ngoại giao uy tín như cha cô. Cô là một luật sư và Issa là người ủy quyền cho cô, cho dù con người Hồi giáo từng trải, thanh cao này đúng hay sai, vô tội hay có tội, thì việc đó cũng không thuộc về vụ kiện của cô. Günther đã nói rằng anh ta không có ý định làm hại đến một sợi tóc trên đầu Issa và cô tin anh ta. Hay là cô đang tự nhủ như vậy khi bốn người đi xuống những bậc cầu thang bằng đá cẩm thạch trang nhã của ngân hàng Brue, Brue dẫn đường và Abdullah đi theo - tại sao bỗng dưng lại run thế này - và Issa với Annabel đi sau cùng.

Issa đang ngả người ra sau, cánh tay phải buông thõng để cô đỡ lấy, nhưng chỉ nắm bên ngoài áo, bao giờ cũng chỉ ở lần vải áo. Cô có thể cảm thấy hơi nóng của anh qua nó, và cô tưởng tượng mình có thể cảm thấy cả mạch đập của anh, nhưng có lẽ đó chỉ là mạch đập của chính cô.

“Abdullah đã làm gì?” cô đã hỏi Erna Frey thêm một lần nữa vào giờ ăn trưa, mong rằng hành động sắp xảy ra sẽ làm chị ta chịu mở miệng.

“Ông ta là một phần nhỏ của một con thuyền lớn cực kỳ lộn xộn, em ạ,” Erna, người mê say lái thuyền, đã trả lời một cách bí ẩn. “Hơi giống một cái chốt định vị. Và nếu em không thông thạo mọi chỗ trên thuyền thì khó lòng tìm ra nó. Và dễ dàng bị lạc mất lần nữa.”

Nhìn qua vai Issa, cô có thể trông thấy chiếc mũ chỏm màu trắng của tiến sĩ Abdullah nhấp nhô chênh vênh dưới cô sáu bậc cầu thang: một phần nhỏ của một con thuyền lộn xộn.

Cánh cửa vào phòng thủ quỹ mỏ ngỏ. Brue, cha của Georgina, đang đứng trước máy tính. Ông ấy có làm được không? Nếu ông ấy cần mình giúp, mình sẵn sàng.

• • •

Trong xe tải, Bachmann và nhóm hai người của anh cũng bị nén lại bởi bầu không khí im lặng như cái im lặng đè xuống nhóm bốn người trong phòng thủ quỹ. Một đầu thu camera đặt ở bức tường cuối căn phòng thủ quỹ cung cấp những ảnh chụp chính diện mắt cá, chiếc thứ hai cho hình cận cảnh Brue đang ngồi trước bàn phím máy tính, cần mẫn dùng hai ngón tay gõ mổ cò mã ngân hàng và các số tài khoản từ một bản in do Abdullah cung cấp và được quét bởi chiếc camera thứ ba giấu ở chân đèn trần. Trên một màn hình riêng phát lại từ Ban Chỉ huy Kết hợp ở Berlin là chính bản danh sách đang được Brue đánh lại với một nhịp điệu chập choạng. Những tổ chức từ thiện không có trong nhóm mà Abdullah đã đưa cho Issa để duyệt được tô đậm màu đỏ.

“Vì Chúa, Michael,” Bachmann cầu khẩn qua đường dây trực tiếp đến Axelrod. “Nếu không phải bây giờ thì bao giờ?”

“Đừng vào taxi, Günther.”

“Chúng ta đã tóm được hắn, mẹ kiếp! Họ còn chờ gì nữa?”

“Hãy ở yên đây. Đừng đến nhà băng gần hơn cho đến khi chính tôi nói với cậu. Đây là mệnh lệnh.”

Không đến nhà băng gần hơn ai? Arni Mohr? Lantern và người khách chưa biết mặt của hắn? Nhưng Axelrod lần nữa lại đã bỏ máy. Bachmann nhìn trừng trừng các màn hình, bắt gặp ánh mắt Niki và nhìn lảng đi. Một mệnh lệnh, ông ấy bảo thế. Mệnh lệnh của ai? Axelrod? Burgdorf? Burgdorf với Martha thì thầm bên tai? Hay là một mệnh lệnh nhất trí từ một ban đang tự mâu thuẫn và sống trong một vỏ bọc, nơi mùi tanh của máu không bao giờ đến được?

Cái nhìn trân trối của anh quay ngoắt sang Niki. Một máy điện thoại đen cổ lỗ một cách phi lý đặt trên một gờ tường bên trên các màn hình bỗng reo vang hồi chuông quen thuộc của nó. Vẻ mặt Niki vẫn im như tạc. Cô không nhướng lông mày hỏi anh, hay khích lệ anh, hay cùng do dự với anh. Cô cứ để chuông reo mãi, và đợi một dấu hiệu từ phía anh.

Bachmann gật đầu với cô: nghe đi. Cô hơi nghiêng đầu, đợi lời nói.

“Nghe điện thoại đi,” anh nói to lên.

Cô nhấc ống nghe và nói bằng giọng lanh lảnh gần như hát, vang lên trong hệ thống loa của xe tải. “Hansa. Taxi! Cám ơn đã gọi. Vui lòng cho biết đón ở đâu?”

Giọng nghe sảng khoái hơn họ đã nghe ông cả buổi tối nay, Brue xướng lên địa chỉ nhà băng bằng tốc độ đọc chính tả.

“Số điện thoại?”

Brue cho số điện thoại.

“Xin một giây, làm ơn!” Niki véo von, và ngưng một chút để tỏ rằng cô đang tham khảo trong máy tính, bịt tay lên ống nói chiếc điện thoại màu đen trong khi cô một lần nữa chờ nghe chỉ thị của Bachmann. Anh cố ý để một lúc nữa. Sau đó, đứng lên, anh cầm lấy chiếc mũ thủy thủ treo trên móc ở cánh cửa xướng và chụp lên đầu. Rồi chiếc áo khoác công nhân, xỏ hết ống tay nọ đến ống tay kia. Rồi giật mạnh một cái để nó ôm khít lên vai anh.

“Bảo ông ấy tôi đang đến,” anh nói.

Niki buông tay khỏi ống nói.

“Muời phút,” cô nói, và dập máy.

Từ cửa, Bachmann ngoái lại nhìn các màn hình lần cuối.

“Chỉ một tiếng đi,” anh nói với cả Maximilian và Niki. “Khi nào có đèn xanh, các cậu chỉ cần bảo mình một tiếng. Đi!”

“Thế nếu không có?” Niki hỏi cho cả hai.

“Không có cái gì?”

“Đèn xanh. Nếu không có đèn xanh.”

“Thì đừng nói gì cả, rõ chưa?”

• • •

Brue ghét chính cái quang cảnh văn phòng thủ quỹ với những đồ chơi công nghệ kỹ thuật cao của nó giăng mắc từ bức tường này sang bức tường khác, và lý do không phải chỉ là ông không rành về chúng. Một trong những thời khắc buồn nhất của đời ông là khi đứng trước ngọn lửa trong vườn nhà ở Vienna với người vợ đầu Sue một bên và Georgie bên kia, nhìn bộ phiếu thư mục của nhà băng huyền thoại Brue Prères biến thành tro bụi. Thêm một trận thua. Một quá khứ nữa bị hủy hoại. Từ nay trở đi, chúng ta sẽ giống như tất cả những người khác.

Tiến sĩ Abdullah có mùi phấn rôm, ông nhận ra trong khi ông cần mẫn đánh một bộ chữ số. Hôm trước ở nhà ông ta, Brue không nhận ra. Có lẽ chàng trai già này đã dùng liều lượng gấp đôi cho dịp này. Ông tự hỏi không biết Annabel có nhận ra điều này không; khi nào xong việc ông sẽ hỏi cô.

Chiếc sơ mi trắng và chiếc mũ chỏm của Abdullah sáng rực lên dưới đèn ống, và ông ta đang cúi người về phía Brue, vai đè hẳn lên người ông, trong khi ông ta dùng ngón tay trỏ để chỉ một cách sốt sắng lúc thì một mã ngân hàng, lúc thì số tiền sẽ được chuyển bằng điện tử.

Thành thực mà nói, Abdullah đang bắt Brưe chịu đựng hơi nhiều, với sự đụng chạm thân thể, với mùi phấn rôm và trong cái nóng trong phòng. Nhưng Brưe đã đọc ở đâu đó rằng người Ả-rập không ngại gì chuyện đó: hoàn toàn vui vẻ nắm tay nhau bước đi trên đường phố hoặc ngồi trong các quán cà phê, và họ vẫn có thể là những gã trai đầy nam tính nhất trên đường. Dù sao ông cũng mong Abdullah ngồi nhích ra một chút, vì ông ta đang làm trở ngại ông gõ máy.

Ismail. Tại sao bỗng dưng ông lại nghĩ đến Ismail? Có lẽ bởi vì ông luôn luôn mong kiếm cho Georgie một người em trai. Một cậu trai nào đó. Nếu mình trông giống như thế ở cái tuổi của cậu ta thì chắc mình hấp dẫn lắm. Hay có lẽ mình đã trông như thế, nhưng không hấp dẫn. Nó là thế đấy. Fatima đã đi - đi đâu nhỉ? - Balliol à? - Trường Kinh tế London, tốt lắm. Georgie chưa bao giờ lên đến tầm cao ấy. Thông minh, nhìn thấu người khác trong chớp mắt, không cái gì qua được mắt Georgie thân yêu, nhưng không phải là loại đầu óc mà ta có thể dạy dỗ được. Có giáo dục bẩm sinh, theo nhiều cách. Nhưng không phải là người học theo nghĩa thông thường, Georgie không phải như vậy.

Lại một làn hơi phấn rôm nữa. Abdullah đang tiến lại gần đến ngột ngạt. Đà này có khi chưa kịp nhận ra thì lão đã ngồi lên lòng mình mất. Và cả lũ trẻ con ấy - ba? bốn? Cộng một đứa nữa ở trong vườn. Nuôi dạy như thế quả là chuyện phi thường. Nuôi dạy mà không cần suy nghĩ, gần như vậy. Chỉ gắng sức, làm theo ý đấng Allah.

Ngón tay trỏ của Abdullah đã trượt xuống vài dòng. Một số công ty tàu biển ở Cyprus. Cái này thì liên quan đến cái quái gì ở đây? Một phút trước là một tổ chức từ thiện Hồi giáo nổi tiếng thế giới có trụ sở ở Riyadh, và phút sau là công ty tàu biển Chuột Mickey nào đó ở Nicosia. Phần vì để thoát khỏi sự gần gũi của Abdullah, phần muốn chắc chắn thêm một lần nữa, Brue quay lại phía Annabel.

“Cái này ô kê với cả hai vị chứ?” ông hỏi bằng tiếng Đức. “Hình như không có dấu chọn ở đây. Tôi thấy chỉ có số tiền. Năm mươi ngàn đô la Mỹ. Công ty Hàng hải Bảy Người Bạn, Nicosia.”

“À. Hiện nay cái này vô cùng cần thiết cho người chịu thiệt thòi ở Yemen,” Abdullah giải thích cho Brue trước khi Annabel kịp đặt câu hỏi cho Issa. “Nếu khách hàng của quý vị có quan tâm đến việc phân phối cứu trợ y tế trong toàn cộng đồng Umma, đây là biện pháp hiệu quả nhất để anh ấy đạt được mục tiêu của mình.”

Hai bàn tay ông đặt ở hai bên bàn phím, Brue nghe lời Annabel dịch sang tiếng Nga: “Tiến sĩ Abdullah nói nhân dân Yemen đang vô cùng đau khổ vì nghèo đói. Công ty tàu biển đáng tin cậy này có nhiều kinh nghiệm đưa trợ giúp đến cho họ. Anh có muốn làm việc này, hay không?”

Issa suy nghĩ thận trọng, lúc có, lúc không, lúc thì nhún vai. Rồi một ý tưởng bừng sáng trong anh. “Trong nhà tù của tôi ở Thổ Nhĩ Kỳ có một người Yemen ốm nặng rồi chết! Bây giờ chuyện đó sẽ không xảy ra nữa. Làm đi, làm đi, ông Tommy!”

Tuân lời, Brue gõ vào các chi tiết đặc tính của công ty tàu biển, và trong trí tưởng tượng ông đi theo chúng vào thinh không: trước là đến ngân hàng hối đoái qua đó Freres phải chuyển tiền - vào cái thời chưa có máy tính, chỉ cái tên Brue là đủ - sau đó đến Ankara, rồi đến một ngân hàng Thổ-Cyprus nhếch nhác nào đó ở Nicosia, có lẽ trông giống như một nhà xí ngoài trời với nhiều con chó ghẻ nằm sưởi nắng bên bậc cửa. Annabel đập nhẹ lên vai ông. Ngoài bắt tay ra, trước nay cô chưa bao giờ chạm vào người ông.

“Đó là ký hiệu & mà. Ông đã đánh thành một gạch chéo.”

“Tôi đã đánh ư? Đâu? Trời ơi, đúng thật. Thật ngu quá. Cám ơn cô.”

Ông đánh ký hiệu &. Ông đã làm xong việc của mình. Mười bốn nhà băng chết tiệt và một hãng tàu biển chó chết. Giờ ông chỉ còn cần làm mỗi một việc là nhấn phím GO.

“Như vậy chúng ta đã làm xong công việc chưa, Frau Richter?” ông nói một cách vui vẻ, bàn tay ông huơ huơ trên bàn phím, ngón giữa thò ra.

“Issa?” cô hỏi.

Issa gật đầu lơ đãng và trở lại đăm chiêu mơ màng.

“Tiến sĩ Abdullah, không có lo lắng gì chứ?”

“Cám ơn ngài. Tất nhiên là tôi rất hài lòng.”

Cả một trăm phần trăm của ông? Brue tự hỏi.

Vẫn chăm chú nhìn phím GO, ông cân nhắc xem nên có cử chỉ gì, và nét mặt ông nên biểu lộ tâm trạng gì khi ông nhấn vào nó.

Phải chăng ông là một ông chủ ngân hàng hạnh phúc bởi vì ông sắp tống khứ đi một tài sản trị giá mười hai triệu rưỡi đô la trong nhà băng của mình? Khó lòng.

Phải chăng ông vui vì đã được phục vụ đứa con trai và người thừa kế của một khách hàng lâu năm của ngân hàng?

Hay hạnh phúc nhất là đã cứu được Annabel khỏi một thế kẹt cực kỳ tồi tệ và Issa khỏi vô vàn lần tù đày và tệ hại hơn?

Thật sự là điều cuối cùng này, nhưng để cho an toàn ông lấy vẻ mặt thường có trong khi họp ban giám đốc và trong niềm khuây khỏa đến trước, ông nhấn phím GO mạnh hơn ý muốn.

Đi đời thằng Lipizzaner cuối cùng. Vĩnh biệt, Edward Amadeus, OBE. Và bái bai Ian Lantern, Chúa phù hộ cho mày và những đứa đứng sau điều khiển mày.

Ông chỉ còn một bổn phận nữa phải làm.

“Thưa ngài, tiến sĩ Abdullah. Cho phép tôi gọi cho ngài một chiếc taxi do ngân hàng trả tiền.”

Và không chờ cho ông tiến sĩ tốt bụng trả lời, quay ngay số mà Lantern đã cho ông để dành cho thời điểm này.

• • •

Lái xe băng qua những cái chóp dạ quang vô hình trong khu vực cấm của Mohr, vượt qua những chiếc xe con được miễn trừ một cách bí ẩn đậu ở các góc phố, và những khách bộ hành vạm vỡ chẳng có việc gì ngoài trông có vẻ vô can và các kỹ sư cầm đèn pin cấm cúi một cách thiếu thuyết phục ở những hộp đấu dây, Bachmann đậu chiếc taxi của anh trên sân cao trước Ngân hàng Brue Frères, xốc cổ áo khoác công nhân lên và giống như bất kỳ tài xế taxi đang đợi khách nào, ngồi nghe radio và nhìn một cách vô tâm qua kính xe - và ít vô tâm hơn vào bảng định vị vệ tinh đang kín đáo lập lòe bên dưới, trên bảng đồng hồ của xe. Anh có ảnh, nhưng vào phút cuối các nhân viên kỹ thuật của Mohr đã lấy đi mà chẳng thèm báo với anh một tiếng.

Anh vừa đậu xong chiếc taxi thì hai thám tử của anh cũng đậu luôn chiếc Audi của họ trên phố bên duới đó nửa bậc. Họ có mặt ở đó để đề phòng tình huống bất ngờ nếu BIỂN CHỈ ĐƯỜNG không dễ dàng để bị bắt cóc đưa đến một địa điểm xa lạ. Thẩm quyền giải quyết của họ, như Bachmann nói đi nói lại cho họ nhớ, là cứ ngồi trong xe đến khi nào anh cầu viện. Lộn xộn với người của Mohr e rằng sẽ bị rút phép thông công.

Bachmann làm một cuộc điều tra kín đáo về những ngôi nhà phía trên và phía dưới của dãy và hoảng hồn nhận ra hai bóng người lờ mờ trên một nóc nhà và hai cái bóng khác ở đầu ngõ cụt từ bờ biển Binnen Alster chạy lên. Những bức hình câm lặng trên bảng định vị của anh hiện lên Annabel và FELIX đang nhởn nhơ trong đại sảnh, trong khi Brue hộ tống BIỂN CHỈ ĐƯỜNG xuống phòng để mũ áo ở tầng dưới, rồi lên lầu chắc cũng vì mục đích ấy hay có lẽ ông muốn uống vội một cái.

Annabel và FELIX trên màn hình đang đứng đối diện cách nhau gần hai mét, và cười nói vẻ hơi ngượng nghịu. Đây là lần đầu tiên Bachmann nhìn thấy Annabel đội khăn trùm đầu. Đây là lần đầu tiên anh thấy cô cười. FELIX dang tay ra, giơ lên trên đầu mình và làm một động tác lắc mình. Bachmann đoán đó là một điệu múa Chechnya. Annabel trong chiếc váy dài thận trọng nhảy cùng anh ta. Điệu múa kết thúc khi chưa bắt đầu.

Bachmann nhắm mắt lại rồi mở ra, và vâng, anh vẫn ở đây, vẫn đợi ánh đèn xanh cuối cùng xác nhận, vẫn chưa có những mệnh lệnh trực tiếp từ Axelrod, nhưng Günther Bachmann là một kẻ cơ hội nổi tiếng và không gì có thể làm thay đổi điều đó. Người tại chỗ là người biết rõ nhất: Luật của Bachmann. Nhưng tại sao, ồ tại sao có sự trì hoãn này, rồi lại trì hoãn nữa, tại sao, tại sao? Trừ khi Berlin đã hoàn toàn hỗn loạn - điều này phải thừa nhận là luôn luôn có thể xảy ra -Abdullah được dàn xếp để thoát hiểm và chiến dịch thắng lợi rực rỡ. Vậy tại sao không có dàn nhạc để chơi to hết cỡ và tại sao anh không được bật đèn xanh xuất phát lập tức?

Điện thoại di động của anh reo. Niki, nói thay Maximilian: “Đây là lệnh văn bản. Nó vừa mới tới.”

“Đọc đi,” Bachmann thì thầm.

“Dự án tạm hoãn. Di tản ngay khu vực và trở về trạm Hamburg.”

“Ai ký, Niki?”

“Ban Chỉ huy Kết hợp. Biểu tượng của anh ở đầu, của Ban ở cuối.”

“Không có tên?”

“Không có tên,” Niki xác nhận.

Vậy là một quyết định đồng thuận, loại quyết định duy nhất của Ban Chỉ huy Kết hợp. Ai giật dây không thành vấn đề.

“Và dự án, có phải không? Dự án tạm hoãn. Không phải là chiến dịch tạm hoãn?”

“Đúng là dự án. Không nói gì đến chiến dịch.”

“Và không nói gì về FELIX?”

“Không.”

“Hay về BIỂN CHỈ ĐƯỜNG?”

“Không nói gì về BIỂN CHỈ ĐƯỜNG. Tôi đã đọc cho anh toàn bộ nội dung.”

Anh cố gọi Axelrod bằng máy di động và nối được hộp thư thoại. Anh thử gọi đường dây trực tiếp cho Ban Chỉ huy Kết hợp nhưng máy bận. Anh thử gọi tổng đài nhưng không có trả lời. Trên màn hình đặt bên đầu gối anh, Brue đã từ tầng trên quay lại. Bây giờ cả ba người bọn họ đang đứng trong đại sảnh, chờ BIỂN CHỈ ĐƯỜNG ra khỏi phòng để áo mũ.

Dự án tạm hoãn, họ bảo thế.

Trong bao lâu? Năm phút, hay vĩnh viễn?

Axelrod đã bị qua mặt. Ông bị qua mặt nhưng họ để ông thảo lệnh và ông cố ý làm cho nội dung mơ hồ để mình có thể hiểu nhầm.

Không BIỂN CHỈ ĐƯỜNG, không FELIX, không chiến dịch, chỉ có dự án. Axelrod đang bảo mình hãy vận dụng sáng kiến riêng. Nếu cậu làm được thì cứ làm, nhưng đừng nói là mình bảo cậu làm, chỉ nói là cậu không hiểu thông điệp. Không lặp lại có.

Issa, Annabel và Brue vẫn đang đợi cho BIỂN CHỈ ĐƯỜNG ra khỏi phòng để áo mũ, và Bachmann cũng thế.

Ông ta làm cái chết tiệt gì suốt từ bấy đến giờ? Sửa soạn để tử vì đạo? Bachmann nhớ lại vẻ mặt ông ta khi ông ta tiến tới Issa để ôm hôn lần đầu tiên: Tôi đang ôm một người anh em hay đang ôm cái chết của chính tôi đây? Anh đã từng thấy cũng những biểu hiện này trên nét mặt những thằng điên ở Beirut trước khi chúng lao ra để đâm đầu vào tự sát.

Ồng ta đã ra. BIỂN CHỈ ĐƯỜNG cuối cùng đã xuất hiện từ phòng để áo mũ. Ông ta mặc chiếc áo mưa Burberry màu nâu vàng nhưng không đội chiếc mũ chỏm màu trắng. Ông ta đã để nó lại trong phòng để áo mũ, hay bỏ nó trong va li? Hay ông ta đang nói với chúng ta điều gì? Có phải ông ta đang nói rằng ông ta đã nghĩ cả rồi: Bắt ta đi. Ta đã cố ý bước vào cái bẫy giăng sẵn của các người, bởi vì nếu không thế thì sao ta có thể hòa đồng với Thượng đế, vậy hãy bắt ta đi?

BIỂN CHỈ ĐƯỜNG đã đứng trước Issa và đang ngước lên nhìn anh đăm đăm, ngưỡng mộ anh. Issa bối rối nhìn xuống ông ta. BIỂN CHỈ ĐƯỜNG dang tay ra và ôm hôn Issa nồng nhiệt, vỗ đét lên vai anh: con trai. BIỂN CHỈ ĐƯỜNG vuốt mặt Issa, nắm tay Issa, âu yếm úp chúng vào ngực trong khi hai người Âu đứng nhìn xuyên qua sự cách biệt văn hóa. Issa muộn màng cám ơn và tôn vinh người dẫn đường đồng thời là bậc thầy của mình. Annabel Richter đang dịch. Câu chuyện trở thành một lời chào tạm biệt kéo dài.

“Không có lời nào, Niki?”

“Nó tắt câm rồi. Các màn hình của chúng tôi. Tất cả.”

Mình tự quyết thôi, bao giờ cũng thế. Người tại chỗ là người biết rõ nhất phải làm gì. Kệ người khác.

Nhưng màn hình của Bachmann vẫn hoạt động một cách kỳ diệu, cho dù không có âm thanh. Đại sảnh vắng lặng. Cả bốn người đã biến mất. Các kỹ thuật viên của Mohr cố thử lần nữa. Không có video lắp ở tiền sảnh.

Cửa trước nhà băng mở ra. Các camera và màn hình không khớp nhau. Cuối cùng phải dùng mắt trần. Những ánh đèn đột nhập sáng rực rọi vào các bậc thềm và các cây cột xung quanh. Người ra đầu tiên là BIỂN CHỈ ĐƯỜNG. Bước đi chập choạng. Ông ta sợ muốn vãi cả ra quần.

Issa đã nhận ra sự yếu đuối của ông và đi đến bên cạnh, một tay đỡ dưới cánh tay của thầy. Issa cười toe toét.

Annabel đi sau cũng cười toe toét. Cuối cùng cũng được hưởng không khí ngoài trời. Những ngôi sao. Thậm chí một mặt trăng. Annabel và Brue đi sau cùng. Bây giờ thì mọi người, kể cả Brue đều cười thoải mái. Chỉ có Abdullah trông không vui, tôi thấy vậy lại tốt. Đầu tiên tôi sẽ bảo lão ta điều lo sợ khủng khiếp nhất của lão đã thành sự thật, sau đó tôi sẽ là nguòi bạn tốt nhất và duy nhất của lão trong hoạn nạn.

Họ đang tiến về phía tôi. Issa và Annabel đang nói mấy câu xã giao với ông ta, và ông ta mỉm cười vu vơ, nhung ông ta run rẩy như chiếc lá.

• • •

Bachmann từ từ ngẩng cái đầu đội mũ lên hướng về tốp ít người đang đến gần chiếc taxi của anh, một diễn xuất có tập dượt. Tôi là tài xế taxi Hamburg đã gật gà rồi, chạy một cuốc nữa thôi là về ngủ.

Bây giờ Brue dẫn đầu. Brue, nhà quý tộc người Anh, xăm xăm đi trước đoàn người để dẫn đường cho khách.

Bachmann đội mũ và mặc chiếc áo khoác tồi tàn - mười lăm giây trước, anh vừa tắt hệ thống vệ tinh dẫn đường trên xe - hạ cửa kính xuống và chào Brue bằng cái chào không-quá-cung-kính mà bất kỳ lái xe taxi đêm nào cũng thường dùng để chào khách.

“Có phải taxi cho Brue Frères không?” Brue vui vẻ cúi vào cửa xe hỏi, một tay đặt lên tay nắm cửa sau. “ Tuyệt!” Và, quay lại BIỂN CHỈ ĐƯỜNG vẫn với cung cách niềm nở ấy - “Thế ta sẽ đến đâu đêm nay, ngài tiến sĩ, tôi xin được phép hỏi? Nếu là về tận nhà thì nhà băng chúng tôi hết sức yên lòng. Tôi chỉ mong mọi công việc của chúng tôi đều được tiến hành theo cách thân thiện như thế, ngài ạ.”

Nhưng Abdullah không có thời gian để trả lời, hay nếu có thì Bachmann không bao giờ nghe được. Một chiếc xe buýt nhỏ màu trắng có thành bên cao lao nhanh vào sân trước, đâm mạnh vào chiếc taxi của Bachmann làm nó lật nghiêng, bể tan cửa kính bên và bẹp rúm cửa trước bên tài xế. Bị những mảnh kính vụn rơi như mưa xuống người và nằm soài ra trên ghế phụ, Bachmann trông thấy Brue nhảy vọt ra cho an toàn như trong một cảnh quay chậm, chiếc áo vest của ông phồng lên như nổi trên mặt nước. Gượng nhấc lưng lên, anh trông thấy một chiếc Mercedes kính đen chạy lại sát sau lưng chiếc xe buýt, và một chiếc nữa quay đầu rất nhanh đậu ngay trước nó. Mặc dù bị choáng vì cú va chạm và đèn pha, anh vẫn thấy rõ như ban ngày khuôn mặt lưỡi rìu và mớ tóc vàng tro của người đàn bà ngồi bên cạnh một tài xế đeo mặt nạ phía sau kính xe của chiếc Mercedes thứ nhất, khi nó rít lên phanh gấp đằng sau chiếc xe buýt màu trắng.

• • •

Lúc đầu Annabel tưởng mình mơ, nhưng sau cô biết nó là thật. Cô bước tới một bước và thấy mình trơ trọi một mình.

Abdullah cũng đứng khựng lại và hai bàn chân nhỏ ríu vào nhau như vòng kiềng nhìn qua vai cô xuống phố. Nếu ông không phải là một học giả lớn của đạo Hồi chắc cô đã tuân theo bản năng mà nắm lấy cẳng tay ông, vì thấy ông bắt đầu lảo đảo và cô sợ ông đang bị cơn tai biến và sắp đổ sụp xuống ngất đi.

Nhưng ông không ngã.

Cô nhẹ cả người khi thấy ông tự đứng thẳng lên tiếp tục nhìn trừng trừng xuống phố với vẻ mặt biểu lộ đang nhận ra đau khổ và kinh hoàng, vẻ mặt của một nguời từng bị những điều sợ hãi khủng khiếp nhất đến thăm viếng. Cô cũng nhận thấy cái đầu gầy guộc của ông đã rụt xuống vai, co rúm lại để tự vệ, như thể ông đang tưỏng tượng có ai đã nện cú trời giáng từ sau lưng, mặc dầu chẳng có ai ở sau lưng ông để làm việc đó.

Lúc này cô nhìn qua Abdullah sang Issa, mong gặp ánh mắt của anh và trao qua anh nỗi lo lắng của cô, nhưng cô lại thấy mình nhìn qua anh theo hướng mà cả Issa và Abdullah nãy giờ nhìn chăm chú, và cuối cùng cô thấy cái mà họ thấy, mặc dầu điều nhìn thấy không lập tức khiến cô khiếp sợ như nó đã khiến Abdullah khiếp sợ.

Trong quá trình làm việc ở Tu viện Phương Bắc đúng là cô đã nghe những báo cáo về những người bị câu lưu thân thể và một số ít phải đánh đập mới bắt được họ phục tùng lệnh trục xuất. Và ký ức về Magomed vẫy tay từ cửa sổ chiếc máy bay sắp cất cánh sẽ còn mãi trong cô đến tận cuối đời.

Nhưng đó là giới hạn những trải nghiệm của cô trong những chuyện như thế, đó là lý do tại sao trí cô không đủ nhanh để nắm bắt những sự việc không thể tưởng tượng nổi nhưng hoàn toàn có thật này: không chỉ sân trước trở thành nơi diễn ra một tai nạn giao thông phức tạp liên quan đến một chiếc xe taxi màu kem đang đậu, và hai chiếc Mercedes lạc loài với kính màu đen, mà chính chiếc xe buýt trắng rõ ràng đã gây ra tai nạn này đang đứng một bên với cửa mở rộng, và bốn - không, năm - người đàn ông đội khăn trùm che mặt, và quần áo ấm rộng màu đen và đi giày đế mềm đang thong thả ra khỏi xe.

Và bởi vì cô quá chậm hiểu, mọi chuyện đối với họ trở nên dễ như ăn kẹo. Họ đã chộp lấy Abdullah bên cạnh cô gọn ghẽ như chộp lấy chiếc túi xách tay của cô; trong khi Issa vốn đã sớm nhận ra lực lượng hung ác này, níu ngay lấy ông thầy để cứu ông, đưa hai cánh tay khẳng khiu ôm chặt người ông và khuỵu xuống cùng ông, che chở thêm cho ông.

Nhưng đó chỉ là sau khi bốn hay năm nguời đeo mặt nạ quây thành một vòng tròn xung quanh hai người - một loại testudo như người La Mã gọi trong các bài học Latin của cô - chúng kéo lê và khiêng hai người đến chiếc xe buýt, ném họ vào trong và nhảy lên theo, và đóng sập cửa cho kín đáo.

Cô thấy Brue chạy đến bên cô và nghe thấy ông gào lên hết cỡ bằng tiếng Anh theo những người đeo mặt nạ, cô tự hỏi sao lại tiếng Anh. Rồi cô nhớ lại những nguời đeo mặt nạ đã nói với nhau những lời chửi rủa gay gắt bằng tiếng Anh giọng Mỹ, như vậy có thể hiểu tại sao Brue chọn tiếng Anh để thét lên với chúng, mặc dù ông lẽ ra chẳng cần phí hơi sức vì chúng đâu để ý đến ông.

Và có lẽ cũng vì sự có mặt của Brue bên cạnh mà cô khôi phục được trí xét đoán tỉnh táo của mình và cắm cổ lao thục mạng vào chiếc xe buýt khi nó chạy đi, với tất cả quyết tâm đứng chắn trước nó, chỉ cần cô đến được khoảng trống giữa nó và một chiếc Mercedes đang đậu quay lưng vào nó.

• • •

Dùng tay phải quơ cào mở cánh cửa bên ghế phụ, Bachmann tập tễnh chạy bên cạnh chiếc xe buýt, dùng nắm tay khỏe mạnh của anh đấm sầm sầm vào thành xe màu trắng. Ngồi phịch xuống ca-pô chiếc Mercedes đậu trước, anh đưa chân đẩy qua nó, trước sự thờ ơ của hai người đeo mặt nạ trùm đầu ngồi ở ghế trước. Chiếc xe buýt chạy đi, cửa bên trượt đóng lại, nhưng Bachmann đã nhìn chớp nhoáng thấy những người đứng trùm mặt nạ đen và bộ đồ ấm và hai thân người nằm sấp giạng chân tay úp mặt trên sàn dưới chân chúng, một người mặc áo choàng dài đen và người kia mặc áo mưa Burberry màu nâu vàng. Anh nghe những tiếng thét và nhận ra đó là từ Annabel, và trông thấy cô đang nắm chặt tay nắm cửa bên và để cho xe kéo đi trong khi cô la hét, “Mở cửa ra, mở cửa ra, mở cửa ra,” liên hồi bằng tiếng Anh.

Chiếc Mercedes săn đuổi với tài xế đeo mặt nạ và khuôn mặt lưỡi rìu tóc vàng tro ngồi ghế phụ đã chạy theo sát bên cạnh và đang cố gạt cô ra, và chiếc xe buýt đang tăng tốc nhưng Annabel vẫn bám lấy, gào thét, “Đồ khốn kiếp, đồ khốn kiếp,” cũng bằng tiếng Anh. Rồi anh lại nghe thấy cô thét, Tôi sẽ đưa anh về! - nhưng bằng tiếng Nga, và nhận ra rằng lần này cô đang nói với Issa chứ không phải với những kẻ bắt cóc. “Tôi sẽ đưa anh về, kể cả khi đây là việc cuối cùng” - và dường như cô định nói kể cả khi đây là việc cuối cùng mà cô làm trong cả cuộc đời, nhưng đến lúc đó thì đúng là mất công vô ích, vì Brue đã ôm lấy cô và gỡ tay cô ra khỏi tay nắm cửa xe. Nhưng ngay cả sau khi ông đã đặt cô đứng xuống đất, hai cánh tay cô vẫn còn nhoài về phía chiếc xe buýt trong nỗ lực muốn lôi nó lại.

Bachmann đi theo đường dốc từ sân trước xuống đường lớn, tại đó anh thấy hai thám tử của anh vẫn ngồi bất động trong chiếc Audi của họ, vẫn đợi anh gọi. Tiếp tục đi theo vỉa hè, anh cố bước nhanh hết sức đến khi anh gặp ngõ cụt, tại đó anh phát hiện ra chiếc xe chỉ huy của Arni Mohr. Nó đã chạy đi rồi nhưng Arni Mohr đang đứng trên vỉa hè dưới đèn đường nói chuyện phiếm với Newton, bạn cũ từ những ngày ở Beirut. Bên cạnh họ, đợi để đưọc cho vào, Ian Lantern bé nhỏ đứng đó, mỉm cười như thường lệ, do đó Bachmann cho rằng Newton chính là cái người khách chưa được nhận dạng trong chiếc xe của Lantern.

Khi Bachmann đến gần, Arni Mohr cố ý làm ra vẻ thờ ơ và cần gọi điện nên phải tách ra xa đi xuống dưới phố, nhưng Newton với vệt râu đen mới hình lưỡi mai thì niềm nở bước đến để chào người bạn cũ.

“Ồ, Günther Bachmann, lạy Chúa! Sao cậu rút sớm thế? Bọn tớ cứ tưởng cậu là đệ tử ruột của Axelrod cơ đấy. Cuối cùng thì ông anh Burgdorf đã cho cậu chỗ ngồi gần võ đài chưa?”

Nhưng khi Newton lại gần Bachmann hơn, và thấy cánh tay giập nát cũng như tình trạng te tua của anh, và cái nhìn kết tội hoang dại trong mắt anh, hắn nhận ra hắn đã lầm người, và vội vã ngừng lại.

“Nghe đây. Xin lỗi về chiếc taxi, được chưa? Cái thứ này bọn nhà quê ở nông trại lái như cứt. Bây giờ đi chữa cái tay đi. Ian sẽ chở cậu vào bệnh viện. Ngay bây giờ. Được chứ, Ian? Nó bảo được. Đi thôi.”

“Các anh đưa hắn ta đi đâu?” Bachmann hỏi.

“Abdullah ấy à? Ai thèm để ý? Một cái lỗ nào đó trên sa mạc, theo tôi biết. Công lý đã được phục hồi, chiến hữu ạ. Bây giờ ta có thể về nhà được rồi.”

Hắn nói những lời cuối này bằng tiếng Anh, nhưng Bachmann trong trạng thái bàng hoàng sửng sốt không kịp chú ý đến ý nghĩa của chúng.

“Phục hồi à?” anh nhắc lại một cách ngơ ngẩn. “Cái gì được phục hồi. Cậu đang nói đến thứ công lý nào vậy?”

“Công lý Mỹ, đồ ngu. Cậu nghĩ của ai? Công lý rờ rẫm, anh bạn. Nền công lý không đáng tin, thứ công lý ấy đấy! Công lý không có bọn luật sư chó chết dính vào làm hỏng quá trình xét xử. Cậu đã bao giờ nghe nói đến đầu hàng phi thường chưa? Chưa à? Có thời bọn Đức các cậu đã nói về nó! Cậu đã tụt lưỡi lại rồi hay sao thế?”

Nhưng vẫn không có gì từ phía Bachmann nên Newton nói tiếp:

“Mắt trả mắt chó chết, Günther. Công lý là trừng phạt, được chưa? Abdullah đang giết người Mỹ. Chúng tôi gọi nó là tội tổ tông. Cậu muốn chơi trò gián điệp nhẹ tay à? Đi mà tìm mấy thằng lùn châu Âu ấy.”

“Tôi đang hỏi về Issa,” Bachmann nói.

“Issa đã biến thành không khí rồi, cậu cả ạ,” Newton đập lại, lúc này hắn tức giận thật sự. “Dù sao thì số tiền chết tiệt ấy của ai vậy? Issa Karpov cấp tiền cho khủng bố, chấm hết. Issa Karpov gửi tiền cho những thằng cực kỳ xỏ lá. Hắn vừa mới gửi xong đấy. Mẹ kiếp anh. Günther. Được chưa?” Nhưng hình như hắn thấy hắn vẫn còn chưa nói đến nơi: “Còn mấy thằng chiến binh Chechnya mà hắn giao du hả? Ê? Anh bảo nó chỉ là một lũ mèo thôi chứ gì?”

“Thằng bé đó vô tội.”

“Vớ vẩn. Issa Karpov là đồng lõa một trăm phần trăm, và chỉ vài tuần nữa thôi, nếu nó sống được đến lúc ấy, nó sẽ phải thú nhận. Bây giờ cút cho khuất mắt tôi để tôi khỏi phải tống anh đi.”

Lảng vảng dưới bóng tên Mỹ lớn, Lantern hình như đồng ý.

Một luồng gió khô lạnh thốc lên từ mặt hồ, mang theo hơi dầu từ cảng. Annabel đứng giữa sân trước, chăm chăm nhìn xuống dãy phố vắng theo chiếc xe buýt đã đi. Brue đứng cạnh cô. Chiếc khăn trùm đầu của cô tuột xuống ngang vai. Cô lơ đãng kéo nó trùm lên đầu và buộc lại ở cổ họng. Nghe thấy tiếng bước chân, Brue quay lại thì thấy người tài xế của chiếc taxi bị đâm bẹp khập khiễng về phía họ. Sau đó Annabel quay lại và nhận ra người tài xế là Günther Bachmann, người đàn ông tạo ra thời tiết, đang đứng cách cô mười thước, không dám đến gần hơn. Cô chăm chú nhìn anh, lắc đầu và rùng mình. Brue đặt cánh tay vòng qua hai vai cô, nơi ông luôn luôn muốn đặt tay, nhưng ông nghi ngại không biết liệu cô có biết nó đang ở đấy hay không.

❀ ❀ ❀

[1] Cũng là một trong Năm Trụ Cột của Hồi giáo.

[2] Lãi, cho vay nặng lãi. Luật Hồi giáo coi Riba là bóc lột và bất công. Đó là một trong bảy tội lớn của con người.

[3] Bị cấm theo luật Hồi giáo.

Vuốt cho phẳng chiếc phong bì, anh moi ra bức thư một trang đánh máy nhàu nát bằng thứ chữ Cyril. Nó có một địa chỉ, ngày tháng và tên người gửi - hay anh giả định thế - bằng chữ in đen lớn chạy trên đầu trang. Bên dưới nội dung không đọc đ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.