Khi giờ ngọ đến, Farr đi tìm một gốc cây còi cọc ngồi xuống, giở một cuốn sách nhỏ ra đọc và xua đi cảm giác đói khát với sự quả quyết của một kẻ từng trải qua cảnh bụng dạ trống rỗng và biết cách khuất phục nó.
Nhưng anh không tài nào thoát khỏi đôi mắt tinh tường cùng lòng tốt rộng lượng của cộng đồng những người lao động.
– Một tay chơi đang gặp vận hạn—nhìn trang phục của anh ta kìa, vị đốc công nói, rồi ông quyên góp từ những người công nhân sẵn lòng đang ăn trưa bên những chiếc xốp đựng thức ăn kẹp giữa hai đầu gối; ông mang phần ăn đó đến cho thanh niên trẻ tuổi.
Farr đón nhận với lòng biết ơn, ăn một cách chừng mực, tiết kiệm, và giấu phần còn lại vào túi áo khoác để dành làm bữa tối.
Anh ăn bữa tối ấy sau khi ngày làm việc đã kết thúc và sau khi đã rửa mặt mũi, tay chân bằng dòng nước tràn ra từ một vòi nước công cộng trong ô công viên nhỏ.
Rồi anh vội vã đến nhà của người phụ nữ tốt bụng.
Bà đang bận rộn rửa đám bát đĩa trong bếp, còn Rosemarie đang ngồi trên đùi một thiếu nữ đang ngồi đu đưa trên một chiếc ghế bành ở phòng khách.
Farr bước vào qua lối cửa bếp, đứng đó và có chút ngượng ngùng nhìn vào hai cô cháu.
– Đó chỉ là Zelie Dionne; con bé là người trọ nhà tôi, người phụ nữ thông báo cho anh. Con bé là một đứa ngoan ngoãn và có công việc rất tốt ở khu vải vóc của nhà máy Haxton lớn. Con bé ở với tôi vì tôi từng là hàng xóm của gia đình nó ở vùng Tadousac, mãi tận xứ Canada của chúng ta. Lại đây nào! Tôi giới thiệu hai người với nhau. Anh cứ xem đi. Con bé ngoan lắm đấy!
Zelie Dionne đứng dậy, đáp lại lời giới thiệu bằng vẻ duyên dáng đáng yêu của một thiếu nữ Pháp. Một chút ửng hồng lướt qua làn da tái sẫm trên má cô khi Farr cúi chào. Chiếc nơ trên mái tóc cô được thắt theo đúng mốt thời thượng kiểu xứ Gaule, và bộ váy giản dị nhưng sắc sảo, gọn gàng. Đôi mắt to, tối màu là nét đẹp tuyệt vời trên khuôn mặt cô, và khi Farr nhìn vào đó, anh dường như mất đi một chút phong thái điềm tĩnh thường ngày; anh nói năng ngập ngừng, dò dẫm tìm từ ngữ trong những câu chào hỏi thông thường đầu tiên.
– Hai người cứ trò chuyện đi. Tôi còn phải làm việc, người phụ nữ tốt bụng nói. Bà vội vã quay trở lại bếp.
Đứa trẻ chạy đến chỗ Farr và trèo lên đùi anh.
– Cháu đã đối xử rất tốt với Rosemarie. Cảm ơn anh, cô nói. Chắc là người phụ nữ tốt bụng đã kể cho anh nghe mọi chuyện rồi nhỉ.
– Vâng, khi tôi đến vào lúc trưa nay. Giọng điệu của cô đặc biệt ngọt ngào và đầy thông cảm. Một chút âm sắc đặc trưng càng làm tăng thêm vẻ duyên dáng cho lời nói của cô. Cô nhìn anh đầy ẩn ý. Tôi vừa trò chuyện với bé Rosemarie nhỏ nhắn của chúng ta, và con bé sẽ không khóc vì người mẹ hiền đã phải lên những ngọn đồi xanh vì ốm đau và cần nghỉ ngơi nữa. Thế nên Rosemarie sẽ ngoan ngoãn sống ở đây, còn tôi sẽ làm mẹ-nuôi-trò-chơi nhé.
– Vâng, mẹ-nuôi-trò-chơi, đứa trẻ đồng ý. Mẹ-nuôi-trò-chơi ngoan! Hai người mẹ! Nhưng chỉ có một người bố! Con bé vòng tay ôm lấy cổ anh, rúc vào người với cảm giác hạnh phúc vì hoàn toàn hiểu được sự che chở của anh. Cuối cùng, trong tâm trí con bé, nó đã tìm lại được người cha mà nó chưa từng biết mặt. Tựa như chú chim nhỏ tội nghiệp trong lồng, sự giải thoát khỏi nhà tù cô độc ấy được đánh dấu trong tâm thức hạnh phúc của con bé ngay từ khoảnh khắc anh xuất hiện ở khung cửa, và mọi thứ đều trở nên tốt đẹp với nó kể từ khi anh đến—ánh nắng, những tán cây, bầu trời xanh, sự chăm sóc dịu dàng và bầu bạn của con người. Vì thế, một làn sóng yêu thương mà sự hiểu biết non nớt của trẻ thơ không thể phân tích nổi đã trào dâng hướng về anh.
Farr nhìn trả lại Zelie Dionne bằng ánh mắt mang đầy ý nghĩa đáp từ.
– Tôi đã tìm thấy mẩu giấy. Nó khiến tôi phải nhúng tay vào chuyện bao đồng. Nó để lại một di sản cho ai đó—và tôi đã nhận lời—mà chẳng hiểu tại sao mình lại làm thế. Anh vuốt ve những lọn tóc xoăn của đứa trẻ.
– Lúc đầu tôi cũng chẳng hiểu—khi Madame Maillet kể cho tôi nghe, cô thú nhận kèm theo một nụ cười. Lão Etienne đã đến vào buổi trưa để báo cho bà ấy và bà ấy kể lại cho tôi nghe. Thật là đáng buồn—nhưng đồng thời cũng thật buồn cười khi tôi nhìn vào anh. Trông anh thế kia, tôi lại càng hiểu hơn. Anh có một trái tim nhân hậu. Tôi nhìn là biết!
– Tôi chỉ là một kẻ lãng du lang thang—nay đây mai đó, Farr phản bác. Chắc cái nóng đã ảnh hưởng đến đầu óc tôi. Dạo này trời ấm quá. Nhưng khi tôi nhìn thấy con bé—Anh bỗng nghẹn ngào.
– Ồ, thật dễ hiểu thôi, cô nói với giọng đầy trấn an. Một làn hơi nước như rưng rưng lệ phủ qua đôi mắt to của cô, dẫu đôi môi vẫn giữ nguyên nụ cười vương vấn chút đượm buồn. Những người nghèo khổ thường giúp đỡ lẫn nhau—và họ hiểu điều đó.
– Sẽ là sai lầm nếu giao con bé cho một trại mồ côi, Farr kiên quyết. Con bé đã phải chịu đựng quá nhiều thiệt thòi rồi. Dĩ nhiên tôi không dám nhận là mình hiểu một cô bé cần những gì—nhưng tôi sẵn sàng lắng nghe chỉ dẫn.
– Tôi sẽ chỉ cho anh và tôi sẽ giúp một tay.
– Tôi nghĩ lão Etienne và tôi rất cần cô tham gia vào liên minh này—với tư cách là cố vấn. Cảm ơn cô nhé.
Đúng lúc đó người đàn ông Canada lớn tuổi bước vào, gương mặt nhăn nheo ánh lên sự quan tâm dịu dàng và đầy lo lắng, ông cười khúc khích khi chào đón thành viên mới của nhóm.
– A, Mam'selle Zelie sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong những việc chúng ta không biết, ông thông báo với chàng thanh niên, rồi tiếp tục nói dẫu đôi mắt sẫm màu của cô gái đang lườm lường phản đối: Tôi vốn là người vùng Tadousac, còn con bé là một đứa ngoan, vì tôi đã biết nó suốt bao nhiêu năm từ hồi tôi còn bế nó trên đầu gối khi nó còn bé xíu như bé Rosemarie đây. Tôi có thể kể cho anh nghe nó đã nhún nhảy tung tăng trên những đồng cỏ trong trò chơi vòng tròn như thế nào và nó—
– Thôi đi! Cái lưỡi của ông dài như cái cào cỏ và cứ chõ vào chuyện của người khác đấy, lão Etienne ạ! Người ta là khách quý thế này thì quan tâm gì đến chuyện ở Tadousac chứ? Đi mà dùng chìa khóa thay vì dùng cái lưỡi của ông đi. Mở cái cửa nhỏ của ông ra để Rosemarie còn được bước đi trên thảm cỏ mát ron bên bờ kênh chứ.
Ông lão nhe răng cười rồi quay người bước đi.
– Chúng ta ra ngoài nơi lũ chim sẽ cất tiếng hót chúc ngủ ngon với cháu nhé, Farr bảo đứa trẻ rồi nhấc bổng nó khỏi đùi mình. Nhưng đến cửa, con bé dừng lại và quay sang phía Zelie Dionne, người nãy giờ vẫn ngồi nguyên tại chỗ.
– Đi nào, mẹ-nuôi-trò-chơi!
– Em sẽ đợi ở đây cho đến khi hai cha con về nhé, Rosemarie.
Nhưng đứa trẻ nài nỉ giục giã, chìa tay ra nắm lấy tay cô.
– Tôi nghĩ đó là vì con bé đã cô đơn suốt cả cuộc đời, Farr gợi ý. Bây giờ tìm được những người bạn rồi, nó muốn họ ở cùng trong những niềm vui nhỏ nhoi của mình. Liệu tôi có mạo muội xin gộp lời mời của mình vào lời mời của con bé không?
Cô bước tới và đứa trẻ đi ở giữa, nắm chặt tay cả hai người.
– Một người bố và mẹ-nuôi-trò-chơi của con! con bé nói, ngước nhìn hai người lần lượt.
Mẹ Maillet bước ra cửa bếp và vẫy tay chào tạm biệt bằng chiếc khăn lau bát đĩa.
– Cha chả, một gia đình kìa! bà kêu lên. Hôm qua thì chưa có—mà hôm nay đã thành thế này rồi. Lại thêm ông già đang dẫn đoàn đi trước nữa chứ!
– Người già và trẻ nhỏ—họ hay nói những câu khiến người ta bối rối thật đấy, Farr nhận xét khi họ đang trên đường đi.
– Người ta phải ngớ ngẩn hùa theo chúng thì mới bận tâm vì mấy lời ba hoa đó chứ, Zelie Dionne đáp lại một cách cụt lủn.
Họ đi theo lão Etienne qua cánh cửa nhỏ của ông và tản bộ dọc theo bờ kênh nơi mặt nước phẳng lặng như gương, bởi những cánh cửa cống lớn đã được đóng lại và nguồn nước bị khóa chặt, nằm im lìm trong những tầng sâu tối tăm cho đến sáng hôm sau. Ánh hoàng hôn phía sau những nhà máy lớn hắt ánh đỏ rực qua vô số khung cửa sổ.
Họ đi chậm rãi bởi bé Rosemarie tìm thấy bao điều kỳ diệu cho đôi mắt trẻ thơ trong từng bước chân, và ngay cả thảm cỏ mát rượi cũng mang lại niềm vui thích khôn nguôi khi đôi chân nhỏ bước đi rụt rè và cẩn trọng trên lớp cỏ mềm mại, tươi tốt. Ông lão lủi thủi đi trước, vừa lầm bầm vừa cau mày nhìn xuống đống rác trôi nổi trên mặt nước tĩnh lặng.
Sự im lặng giữa hai người đi cùng đứa trẻ kéo dài khá lâu khiến Farr cảm thấy ngột ngạt.
– Tôi chưa từng đến Canada bao giờ, anh nói. Tôi tiếc là cô không thích để Etienne kể về quê hương của mình. Tôi muốn biết thêm về vùng đất đó.
– Ổng đang nói về tôi chứ có phải về quê hương tôi ở Tadousac đâu. Tôi có quan trọng đến mức phải đem ra bàn tán đâu chứ.
– Tadousac nằm ở đâu vậy?
Sự hoạt bát bừng tỉnh trở lại trong cô, đôi mắt tối màu bừng sáng. – Ồ, m'sieu', anh nên đến đó một chuyến. Nằm ở vùng đất của những người dân chăn nuôi hiền lành, nơi sông St. Lawrence và sông Saguenay gặp nhau. Và giờ này, khi mặt trời đang lặn, mọi người đang nghỉ ngơi dưới mái hiên rộng của những ngôi nhà trắng nhỏ xinh, ngước nhìn lên những dãy đồi xanh ngắt, hoặc phóng tầm mắt ra vịnh rộng. Những ngôi nhà trắng rất nhỏ và nằm sát rạt dọc theo con đường, những thửa ruộng thì nhỏ hẹp, chẳng có nhiều tiền bạc giấu trong những bộ quần áo vải thô hay trong chiếc đồng hồ cổ, nhưng thế giới ngoài kia thật rộng lớn và con người ở đó không hề buồn bã như những kẻ đang ngồi ở đằng kia.
Cô chỉ tay qua bên kia kênh hướng về những dãy nhà chung cư bằng gỗ cao ngất tầng tầng lớp lớp; trên những bậc hiên hẹp chồng chất lên nhau, và trên những chiếc thang thoát hiểm vẫn còn đang âm ỉ tỏa nhiệt sau nhiều giờ liền hứng chịu lò nung của ánh mặt trời, đàn ông, phụ nữ và trẻ em chen chúc nhau tìm kiếm một ngọn gió trời.
– Họ đứng bên khung cửi, máy kéo sợi và máy xén suốt cả ngày, cô nói. Họ quá mệt mỏi để có thể đi bộ đến các công viên. Họ chỉ biết ngồi đó chờ không khí trong lành kéo đến mà chẳng thấy đâu.
– Tôi không hiểu tại sao họ lại ùn ùn kéo xuống đây từ Canada—tại sao họ lại cứ bám trụ lại đây cơ chứ, anh thẳng thừng tuyên bố.
– A, anh nhìn thẳng vào tôi khi nói câu đó nhé! cô kêu lên, nhướng cao đôi mày. Anh nghe tôi kể về hoàng hôn trên những đồng cỏ và đồi núi, rồi anh tự hỏi tại sao tôi lại không ở trỏng? Vậy thì nghe đây nhé! Gia đình của Onesime Dionne—bố tôi đấy—có tới mười bốn người con trai và con gái, bởi vì tất cả người dân quê tôi đều kết hôn khi còn rất trẻ, và vị linh mục mỉm cười ban phước cho gia đình nào có nhiều con. Thế nhưng con gái lại chẳng có giá trị mấy trong nhà. Mấy người con trai sẽ đòi và nhận phần đất đai của mình khi chúng lớn lên và lập gia đình. Con gái cũng có thể lấy chồng—đúng vậy chứ! Nhưng nhỡ đâu người vừa vặn lại không đến cầu hôn? Nhỡ đâu người phù hợp lại có người ông bố bắt anh ta phải vâng lời và cưới một cô gái do chính tay bố hắn chọn? Đủ mọi chuyện có thể xảy ra ở miền quê ấy mà, m'sieu'. Thế nên, con gái lại càng kém giá trị hơn trong gia đình. Rồi những bức thư được gửi về từ những cô gái đã dạt xuống các nhà máy ở miền đất Mỹ. Những bức ảnh chụp chiếc váy mới và chiếc mũ thời trang được gửi về—và cứ thế đấy! Cô nhún vai và khua khoãng tay bên kia. Lại thêm một cô gái nữa cho nhà máy lớn!
Anh nhìn cô chằm chằm với chút tò mò.
– Chắc anh đang tự hỏi không biết điều nào trong số đó đã xảy ra với tôi phải không?
– Có lẽ vậy, anh thú nhận.
– Tôi ít khi nói về bản thân mình. Tôi đang nói về những cô gái nhà quê. Tôi là người may mắn. Tôi không phải hít thở bầu không khí ngột ngạt nơi tiếng khung cửi lách cách. Tôi làm công việc kiểm tra ở khu vải vóc bởi vì tôi có đôi mắt tinh anh và đôi bàn tay lanh lẹ.
– Nhưng cô lại đến đây một mình—thật lạ lùng. Ý tôi là, thông thường cha mẹ và cả gia đình không cùng chuyển đến đây sao?
Cô ngẩng cao cằm, nhìn anh với vẻ kiêu hãnh hiện rõ trên nét mặt.
– Nếu anh đến Tadousac, anh sẽ thấy bố tôi sở hữu một nông trại lớn và một trong những người ông của tôi từng là đại úy dưới quyền Tướng Montcalm, rất nhiều thế hệ nhà Dionne đã sống trên mảnh đất được ban tặng cho một người dũng cảm. Tôi đến nước Mỹ bởi vì tôi muốn đến. Người nhà tôi không hề đi cùng.
Cô ngắt ngang câu cuối với giọng điệu ngầm ra hiệu cho Farr biết rằng không còn gì để bàn thêm về chủ đề đó nữa. Nhưng rồi một lúc sau cô lại tiếp tục với giọng nói dịu dàng hơn.
– Chẳng có gì lạ khi quá nhiều người kéo sang nước Mỹ cả, thưa anh. Những cánh đồng ở Beauce, ở l'Islet, ở Chaudiere đã quá chật chội. Từ nhiều năm trước, những người lớn tuổi thường kể cho tôi nghe, những chàng trai bắt đầu đánh những chiếc xe ngựa trắng nhỏ vượt biên giới vào đầu mùa hè, họ là những thanh niên khỏe mạnh và chăm chỉ, và những chủ trang trại dù cười cợt gọi họ là dân Canuck thì vẫn thuê họ gặt cỏ khô như thường. Họ ngủ trong những gác xép chứa cỏ khô, dưới mấy gốc cây, làm việc cật lực rồi mang toàn bộ tiền kiếm được về nhà. Rồi những nhà máy lớn cần nam nữ công nhân và cả trẻ em, còn các cô gái Yankee thì không chịu làm việc trong nhà máy nữa. Anh phải hiểu cơ sự thế này: Ouillette, người từng làm việc trên đồng cỏ, sẽ nghe ngóng về công việc trong nhà máy, thế là gia đình Ouillette sẽ bán nhà cửa để dọn lên thành phố. Và ngay khi họ tận mắt nhìn thấy những ánh đèn rực rỡ, nhà hát, chuyến xe điện chạy bằng cần gạt trên dây điện, kiếm được khoản tiền lương đầu tiên và mua sắm quần áo kiểu Yankee, họ liền viết thư về nhà cho họ hàng nhà Pelletier, và thế là nhà Pelletier thức thâu đêm suốt sáng để bàn tán rôm rả—rồi họ cũng bán nhà để kéo sang, và cứ thế mọi chuyện tiếp diễn mãi—một chuỗi mắt xích kéo dài không dứt, gia đình này lôi kéo hàng xóm láng giềng, từ tận Canada trải dài xuống nước Mỹ. Nhưng có lẽ mọi chuyện đều có lý do tốt đẹp của nó. Tôi không đủ khôn ngoan để hiểu rõ những chuyện lớn lao đó. Chỉ là khi mặt trời thiêu đốt, dịch bệnh bùng phát và những đứa trẻ chết tức tưởi trong các khu nhà tập thể, thì tôi lại ước gì các bậc cha mẹ được quay trở lại những nông trại nhỏ và những công nhân thuộc chủng tộc nào khác ngoài dân nông thôn mới phải bị xiềng xích vào khung cửi trong các nhà máy lớn. Đó có lẽ là một suy nghĩ ích kỷ, nhưng những người đồng hương của tôi luôn là máu thịt đối với tôi.
Farr không có tâm trạng để tranh luận về mặt kinh tế của vấn đề đó với cô gái vừa kể lại câu chuyện của hai thế hệ công nhân nhà máy một cách sắc sảo đến vậy. Với đứa bé mồ côi bé bỏng đang đi giữa họ, nạn nhân của cỗ máy công nghiệp thần Moloch cứ lăn bánh tiến lên dẫu cho những bánh xe của nó có nghiền nát những sinh linh vô tội ở góc này hay góc khác, anh đã để cho tình cảm lấn át lý trí. Thật ra, suốt một ngày một đêm qua, anh đã đầu hàng cảm xúc và tìm thấy một thứ men say kỳ lạ trong trải nghiệm đó. Trái tim anh hướng về những con người khiêm nhường và lòng trắc ẩn đang tràn ngập trong anh—sự trắc ẩn vô điều kiện, nơi mọi vẻ hoài nghi của anh đang dần tan biến.
Và khi những vì sao soi bóng xuống dòng kênh tĩnh lặng và thảm cỏ đẫm sương đêm, họ quay trở lại ngôi nhà của Mẹ Maillet, bé Rosemarie thầm thì đọc lời cầu nguyện ngắn ngủi rồi được đắp chăn ấm áp trên giường.
– Tôi hy vọng rằng có một ngày tôi sẽ được đến Tadousac, Farr nói với cô gái trước khi bước ra khỏi ngôi nhà của người phụ nữ tốt bụng. Tôi rất muốn được tận mắt ngắm cảnh hoàng hôn, vì cô đã ca ngợi nó đến thế cơ mà.
– Hãy hỏi tìm nhà của Onesime Dionne, nằm ngay căn thứ hai sau cây thánh giá lớn của giáo xứ. Sẽ rất dễ tìm thôi, và cảnh hoàng hôn nhìn từ khoảng hiên dưới mái hiên nhà thực sự rất hùng vĩ.
Farr đi cùng ông lão và họ bước đi thong thả. Con đường đưa họ qua những con phố chật hẹp kẹp giữa những tòa nhà chung cư cao tầng.
– Phải đấy, anh sẽ thấy ở Tadousac tuyệt đẹp biết bao—và M'sieu' Dionne là một người trung thực, Etienne khẳng định. Thỉnh thoảng trong suốt ba mươi năm tôi đến thăm Tadousac, tôi thường ngồi đó gọt đẽo đồ chơi cho lũ trẻ và hồi đó bé Zelie cũng từng nhún nhảy trên đầu gối tôi cùng những đứa khác. Thế nên tôi rành câu chuyện ở nơi đó lắm. Và mọi người trên đó chẳng phiền lòng gì khi tôi biết chuyện, bởi vì tôi lắng nghe và vui mừng khi được hiểu biết, và thỉnh thoảng tôi có thể đưa ra lời khuyên, vì tôi đã sống lâu năm ở nước Mỹ nơi có bao đại sự xảy ra. Nhưng lão nông dân Leroux thì nhất quyết không chịu nghe lời khuyên của tôi khi tôi nói về cậu con trai quý tử Jean của lão với Zelie Dionne. Lão Leroux là một người tốt, nhưng lão cũng là một kẻ cứng đầu khi cơn thịnh nộ nổi lên. Và lũ trẻ trên đó luôn làm theo lời cha dặn—bởi đó là những gì linh mục ra giảng và đó cũng là lề thói của người dân quê.
– Lại câu chuyện xưa cũ muôn thuở—gia đình Montague và Capulet bên bờ sông miền Bắc.
– Tôi nghĩ mình phần nào hiểu ý anh muốn nói, m'sieu', dẫu tôi không biết vị bạn hữu mà anh nhắc đến là ai. Nhưng nếu ông ta nói với con trai mình rằng: "Ba gar, mày không được phép lấy bất kỳ đứa con gái nào có người bố mà tao ghét cay ghét đắng chỉ vì tụi tao từng quất roi vào lưng nhau hai ba bận khi tranh chấp cái hàng rào ranh giới—hay chen lấn xe ngựa lúc ra chợ"—à thế thì đó chính là người bạn của anh rồi đấy. Mọi chuyện bắt đầu từ đó rồi phình to ra, để rồi vị linh mục có nói thế nào đi nữa cũng chẳng thể hàn gắn nổi họ. Thế nên họ đành chờ đợi—Jean và Zelie! À vâng, họ chờ đợi! Ông đưa ngón tay lên bên sống mũi rồi nháy mắt. Họ yêu nhau. Sẽ có một ngày đẹp trời họ cưới nhau thôi. Nhưng còn bây giờ thì! Ông búng những ngón tay gầy guộc của mình. Họ chẳng nói năng gì cả. Bản thân tôi cũng chẳng nói gì. Nhưng tôi thấy một ánh nhìn kỳ lạ lắm trong mắt Jean Leroux khi nó nói với tôi lúc gặp tôi ở cổng nông trại của bố nó rằng: "Thế dạo này Zelie Dionne thế nào rồi hả bác?" Và dẫu nó có ngước nhìn vờ như lơ đễnh lên ngọn cây rồi nhai cọng cỏ tỏ ra bất cần đi chăng nữa, à, tôi vẫn thấy giọt nước mắt chực trào trong mắt nó và nghe giọng nó nghẹn ngào trong cổ họng.
– Thật là lỗi thời và lố bịch khi để người lớn nhúng tay vào chuyện của giới trẻ chỉ để thỏa mãn những mối hận thù lâu đời, Farr châm biếm. Nếu họ yêu nhau thì cứ việc cưới nhau và mặc thây cho mấy ông già ấy đi chết đi!
Etienne khựng lại, nhìn trân trân đầy dò xét vào chàng thanh niên vừa đưa ra triết lý tình yêu đó.
– Tôi nghĩ trong người anh chẳng hề có chút sự thấu hiểu nào về những người dân quê Pháp đã sống qua ba thế hệ trên cùng một mảnh ruộng, để mà một chàng thanh niên, dù có yêu một mam'selle đến mức nuốt miếng bánh mì vào miệng cũng thấy đắng ngắt như tro tàn đi nữa—à, cậu ta cũng chẳng thể thốt lên câu "Tôi sẽ bỏ đi—tôi sẽ đi nơi khác!" Bởi vì khi đó chàng thanh niên ấy buộc phải biến thành một con người khác hẳn—và người dân quê thì không dễ gì thay đổi như thế.
– Có lẽ tôi là một kẻ đánh giá tồi, Farr thừa nhận. Tôi chưa từng bén rễ sâu vào mảnh đất của bất kỳ nơi nào cả.
– Và tôi nghĩ, có lẽ, chính cô gái ấy mới là người mà anh chưa hiểu hết! Liệu có phải ở lại trong nhà để ngày ngày nghe người ta bàn ra tán vào về chuyện anh dám yêu cái thằng đần nhà Leroux kia không, h̉ả? Không, không đâu m'sieu'! Zelie Dionne kiêu hãnh lắm chứ bộ. Và Zelie Dionne cũng quá tự tôn để bước chân vào một gia đình không chào đón mình. Thế nên họ đành chờ đợi.
– Quả là một thế giới khắc nghiệt và cổ lỗ sĩ, chú Etienne ạ, Farr nói. Đến như tôi đây, một kẻ tự do tự tại với cuộc đời mình mà còn chẳng biết tối nay mình sẽ ngủ ở xó nào nữa kìa. Chú có biết chỗ nào cho trọ không?
– Tôi có một căn phòng nhỏ trên dãy nhà lầu trên kia—căn phòng của tôi và một chỗ ngồi ở chiếc bàn lớn. Không sang trọng gì đâu. Nhưng ở đó vẫn còn chỗ cho anh—và một căn phòng nhỏ khác. Nếu thích, anh cứ đến đó và tôi sẽ nói đỡ cho.
– Được rồi, Etienne! Cứ dẫn tôi đi và nói đỡ cho tôi nhé.
Đó lại là một nơi giống hệt Khu Mười. Đó là một khu nhà chật chội, ngột ngạt như tổ ong, và căn bếp ở tầng hầm bốc lên mùi hôi cũ kỹ lan tỏa khắp mọi hành lang. Nhưng Farr vẫn cảm thấy vô cùng thoải mái khi được duỗi người trên chiếc giường chật hẹp. Anh thầm thừa nhận với chính mình rằng mình thật sự là một cánh chim di trú mệt mỏi, và cũng thành thật thú nhận với trái tim mình rằng anh đã trở thành tù nhân trong vòng tay mỏng manh của một cô bé—và anh chẳng buồn tìm cách hiểu lý do tại sao nữa.