Theo lịch sử để lại thì vào giữa thế kỷ thứ 16 và nhất là vào cuối thế kỷ đó, mấy nhà truyền giáo Âu châu, như I Ni Khu, Gaspar da Santa Cruz, Louis da Fonseca, G. de la Motte, Diego Advarte đã đến miền Hà Tiên và Thừa Thiên [1] ; nhưng hoạt động của các ông không được ghi lại rõ rệt.
Sang đầu thế kỷ 17, các nhà truyền giáo Dòng Tên gồm người Âu châu và một số ít người Trung Hoa, Nhật Bản, mới chính thức đến truyền bá Phúc âm ở Việt nam, và hoạt động của các ông đã được ghi lại khá đầy đủ.
Ngày 6-1-1615, ba tu sĩ Dòng Tên là hai Lm. Francesco Buzomi (Ý), Diego Carvalho (Bồ Đào Nha) và Thầy Antonio Dias (Bồ Đào Nha) [2], đáp tàu buôn Bồ Đào Nha từ Áo Môn đi Đàng Trong và tới Cửa Hàn ngày 18-1-1615 [3]. Sau đó mấy tháng các ông đến ở Hội An. Tại đây, nhờ biết tiếng Trung Hoa và Nhật, nên các ông có thể giao thiệp với kiều dân Hoa Nhật. Nhân tiện, chúng tôi cũng xin ghi lại mấy dòng lịch sử Hội An thời ấy.
Theo sự hiểu biết của chúng tôi thì thời đó người Việt gọi Hội An là Hải Phố, tức là nơi buôn bán ở bờ bể. Khi người Nhật và Trung hoa tới đó bắt đầu từ cuối thế kỷ 16, Hải Phố là nơi buôn bán sầm uất. Các nhà truyền giáo tới đây vào năm 1615, nghe người Nhật đọc Hải Phố là Hoaipho, nhưng rồi các ông thường đọc trại Faifo [4]. Người Âu châu viết chữ Hải Phố bằng nhiều cách : Haifo, Hai fo, Haito, Faifo, Facfo, Fayfo, Fayfô, Fayfó, Faiso, Taifò, vv... Tại Hội An, có hai khu riêng biệt, một dành cho người Trung Hoa, một dành cho người Nhật. Kiều dân Nhật dưới quyền cai trị của một người Nhật do Chúa Nguyễn bổ nhiệm, Hoa kiều cũng do một người Trung Hoa cai trị được Chúa Nguyễn bổ nhiệm. Riêng vị chỉ huy người Nhật lại được Chúa Nguyễn trao cho trách nhiệm về các người Tây phương ở Hội An [5]. Theo Borri, thời ấy Đàng Trong có hơn 60 cửa bể, sầm uất nhất là Hội An, còn hai hải cảng quan trọng thứ nhì là cửa Hàn và Nước Mặn (Qui Nhơn). Các thương thuyền Trung Hoa, Nhật, Manila, Mã Lai, Cam Bốt vv... thường đến ba cửa bể đó.
Ba nhà truyền giáo mà chúng ta vừa nói, đến Hội An với mục đích đầu tiên là để giúp đỡ giáo hữu Nhật về mặt tôn giáo, và nhờ người Nhật làm thông ngôn để tiếp xúc với người Việt Nam. Sau năm 1615, nhiều tu sĩ Dòng Tên khác không những đến truyền giáo ở Đàng Trong mà cả Đàng Ngoài nữa, nhưng đa số là người Bồ Đào Nha [6].
Các nhà truyền giáo tới Việt Nam thời ấy đều phải học tiếng Việt mới có thể tiếp xúc với người Việt Nam. Theo chúng tôi biết thì Lm. Francisco de Pina là người Âu Châu đầu tiên nói thạo tiếng Việt. Pina sinh năm 1585 ở Bồ Đào Nha, ông tới Đàng Trong năm 1617. Lúc đầu Pina sống ở Hội An, sang năm 1618 ông ở tại Nước Mặn với Buzomi và Borri. Hai năm sau, ông trở lại Hội An, rồi năm 1623, Pina đến ở tại Thanh Chiêm, thủ phủ Quảng Nam Dinh. Pina chết đuối ở bờ bể Quảng Nam ngày 15-12-1625. Dịp đó có tầu Bồ Đào từ Cam Bốt về Áo Môn, bỏ neo ở hải phận Quảng Nam, Pina cùng một người Việt Nam chèo thuyền ra tầu Bồ Đào để lấy các đồ phụng tự. Khi thuyền đang đi vào bờ, bị gió bão bất chợt, lật thuyền Pina. Vì mặc áo dài, Pina không bơi vào được, còn người Việt kia bơi vào bờ thoát nạn. Sau đó người ta vớt được xác Pina đem về Hội An làm lễ an táng rất trọng thể [7].
Nhờ biết tiếng Việt, nên ngay từ năm 1620 các tu sĩ Dòng Tên tại Hội An [8] đã soạn thảo một sách giáo lý bằng « chữ Đàng Trong » tức là chữ Nôm [9]. Cuốn sách này vì soạn bằng chữ Nôm, nên chắc phải có sự cộng tác của người Việt.
Nhưng chúng tôi tưởng cuốn này cũng được viết bằng chữ Việt mới nữa (chữ quốc ngữ ngày nay), mà người có công soạn thảo là Lm. Francisco de Pina vì lúc đó chỉ có ông là người Âu châu thạo tiếng Việt nhất. Chúng tôi đoán rằng, cuốn sách này không được in (in theo kiểu Việt Nam thời đó), mà chỉ chép tay. Có lẽ lúc ấy người Công giáo ở Hội An, Quảng Nam... chép tay bản chữ Nôm để dùng, còn các nhà truyền giáo lại chép sang mẫu tự abc. Nếu đúng thế thì đây là cuốn sách Việt Nam đầu tiên bằng mẫu tự La tinh. Tiếc rằng ngày nay không còn thấy cuốn giáo lý trên dầu là bản chữ Nôm hay chữ quốc ngữ.
Theo sự nhận xét của chúng tôi thì vào năm 1620 dù Lm. Pina đã nói được tiếng Việt, nhưng khó lòng mà phân biệt được lối cách ngữ như chúng ta dùng ngày nay. Dựa vào những tài liệu viết tay năm 1621-1626, chúng tôi biết được hầu hết các chữ còn viết liền và chưa thấy đánh dấu vào những chữ đó. Chính dựa theo hai đặc điểm này mà chúng tôi cho là giai đọan sơ khởi chữ quốc ngữ. Bây giờ chúng tôi xin trình bày 7 tài liệu để chứng minh.
❀ ❀ ❀
[1] ANDRÉ-MARIE, Missions dominicaines dans l’Extrême Orient, T.1, Paris, 1865, tr. 383-387. - L.E. LOUVET, La Cochinchine religieuse, Vol. L, Paris, 1885, tr. 223-233. NGUYỄN-HỒNG, Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, Saigon, 1959, tr. 14-42.
[2] L.m. Francesco BUZOMI (1576-1639) người Ý, tới Đàng Trong năm 1615. Năm 1639 Chúa Nguyễn Phúc Lan yêu cầu ông trở về Áo Môn lo liệu cho Chúa một việc. Công việc chưa xong thì ông bị bệnh qua đời ngay tại Áo Môn cùng năm 1639. - L.m. Diego CARVALHO (1578-1624) đến Đàng Trong cùng năm với Buzomi, nhưng năm 1616 ông đi truyền giáo tại Nhật Bản trong những điều kiện rất khó khăn, sau cùng ông tử vì đạo tại Nhật ngày 22-2-1624. - Thầy Antonio DIAS (1585- ?) sống ở Đàng Trong liên tục từ 1615 đến khi bị Chúa Nguyễn Phúc Lan trục xuất năm 1639. Chúng tôi không rõ ông qua đời ở đâu và năm nào?
[3] Thư của L.m. Valentino de CARVALHO gởi cho L.m. Nuno Mascarenhas, Phụ tá Bề trên Cả Dòng Tên Vùng Bồ Đào Nha, viết tại Áo Môn ngày 9-2-1615, ARSI, JS. 16 ll, f. 174. - RHODES, Divers voyages et missions, tr. 68.
[4] E. FERREYRA, Noticias summarias das perseguições da missam de Cochinchina Lisboa, 1700, tr. 4.
[5] Trong sách này chúng tôi xin dùng danh từ Hội An ngày nay.
[6] Từ năm 1615 đến 1788, có 145 tu sĩ Dòng Tên thuộc 17 quốc tịch sau đây đến truyền giáo ở Việt Nạm, không kể 31 tu sĩ Dòng Tên người Việt Nam : 74 Bồ Đào Nha, 30 Ý, 10 Đức, 8 Nhật, 5 Pháp, 4 Tây Ban Nha, 2 Trung Hoa, 2 Áo Môn, 2 Ba Lan, 1 Gêne, 1 Hung Gia Lợi, 1 Illyrien, 1 Sarde, 1 Savoyard, 1 Thụy Sĩ, 1 Tiệp Khắc, 1 Tòa Thánh.
[7] Antonio de FONTE, Annua da Missam de Annam, viết tại Hội An ngày 1-1-1626, ARSI, JS. 72, f. 79r. - D. BARTOLI, Dell’Historia della Compagnia di Giesu la Cina, Terza Parte, Roma, 1663, tr. 834.
[8] Năm 1620, tại Hội An có 4 tu sĩ Dòng Tên sau đây : 1) L.m. Pedro MARQUES (1575-1670) sinh tại Nhật do cha là người Bồ Đào, mẹ là người Nhật. Marques đến ở Đàng Trong 6 lần : 1618-1626, 1637-1639, 26-2 đến 13-7-1652, 1653-1655, 1658 và 1670, đến ở Đàng Ngoài một lần : 1627-1630. Năm 1620 Marques là Bề trên các tu sĩ Dòng Tên tại Hội An. Ông cũng đến truyền giáo tại Hải Nam từ 1632-1635. Marques bị đắm tầu ở gần đảo Hải Nam và chết vào dịp đó (1670). Nhiều văn thư của ông về Đàng Trong còn giữ tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã. Xem : ARSI, JS. 71, f. 397, 404 ; JS. 73, f. 124-169. - MARINI, Delle Missioni, tr. 378-389. - Relation des missions et des voyages des évêques vicaires apostoliques, les Années 1672, 1673, 1674 et 1675, Paris, 1680, tr. 18. 2) Thầy JOSEPH (1568 - ?) người Nhật, nhưng chúng tôi không thấy các tài liệu ghi tên Nhật của Thầy. Joseph gia nhập Dòng Tên năm 1590, đến Đàng Trong hoạt động từ 1617-1639. Không rõ ông chết ở đâu, vào năm nào ? 3) Thày Paulus SAITO (1577-1633) người Nhật, đến ở Đàng Trong từ 1616-1627, tới Đàng Ngoài cùng với L.m. Gaspar d’Amaral từ tháng 10-1629 đến 5-1630, thụ phong Linh mục tại Áo Môn khoảng 1632 và tử đạo tại Nhật ngày 29-9-1633. 4) L.m. Francisco de PINA (chúng tôi đã nhắc tới tiểu sử của ông ở trên).
[9] Đây là hai tài liệu viết tay bằng Bồ ngữ và La ngữ về cuốn giáo lý này : 1) João ROIZ. Anua de Chochichina do anno de 1620, viết tại Áo Môn ngày 20-11-1621, ARSI, JS. 72, f. 6r. : « No principio do catecismo se ensinava, e cantava a doutrina Xpão na lingoa da terra, pera q to los assi grandes como pequenos apodessem aprender, e as cousas mais principaes de nossa Santa feê que juntamente o Pe lhes ensinava, e declarava : asquaes acabadas lhes foi tambẽ ensinando que cousa era missa e confissão (...) Agora cõ ajuda de Deos e diligencia do Pe lhes foi facil aprenderẽ nas, pois ia astern em sua ling a, e cada día se ensinão em nossa lgreja vindo os minimos a doutrina todo o tempo que o Padre que sabe a lingoa, està em Failo ». 2) Gaspar LUIS, Cocincinensis missionis annuae Litterae, anni 1620, viết tại Áo Môn ngày 12-12-1621. ARS7, JS. 17, f. 24r : « Catechismus Concincinensi idiomate compositus multum ad animarum utilitatem contulit. Ejus ope et natu grandes domi Christiana dogmata, sollemnesque precandi formulas addiscere, memoriter tenere, et pueri quotidiano ad doctrinam concursu doctiores avadere ».