Đây là bức thư của Thầy giảng Bento Thiện viết ngày 25-10-1659, gửi Lm. G. F. de Marini, hiện lưu trữ tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã [1] Bento Thiện biên thư này tại Thăng Long, vì lúc đó ông đang ở chung với Lm. Onuphre Borgès. Trong thư, tuy Bento Thiện không xưng rõ ràng chức vị của mình, nhưng nhờ chữ ký ở cuối thư, chúng ta hiểu được ông cũng là Thầy giảng như Igesico Văn Tín. Bento là tên thánh của ông ; đó là danh từ Bồ Đào Nha, tiếng La tinh là Benedictus, tiếng Pháp là Benoit, tiếng Việt là Bê Nê Đích Tô hay Biển Đức.
Chúng tôi không biết rõ lai lịch Bento Thiện, nhưng có lẽ ông là người mà Gaspar d’Amaral đã nhắc lại trong tài liệu năm 1637 [2]. Sử liệu trên có ghi danh sách những người thuộc bốn bậc « Dòng tu » Thầy giảng, trong số này có một người tên là Bento (không có tên Việt Nam) ở bậc Kẻ giảng, tức là cấp thứ hai ; tính đến năm 1637, Bento được 23 tuổi, theo đạo Công giáo được 11 năm, tức là năm 1627. Như vậy, Thầy Bento là một trong những người đầu tiên do Lm. Marques hoặc Đắc Lộ rửa tội ở Đàng Ngoài.
Bức thư gồm hai trang giấy viết chữ cỡ nhỏ, trong khổ 21 X 31 cm. Khác với thư của Văn Tín, vì Thầy Thiện ghi rõ là thư gửi cho Lm. Marini. Dòng thứ nhất của bức thư, Thầy Thiện viết bằng chữ Bồ Đào Nha : « Ao Pe Philipe Marino » (Gửi cho Cha Philipe Marino [Marini]) ; dòng thứ hai, ông lại viết bằng chữ La tinh : « Pax Christi » (Bằng an Chúa Ky Tô) ; từ dòng thứ ba trở đi là bắt đầu lời thư và hoàn toàn viết bằng quốc ngữ.
Bức thư này đã được Ông Hoàng Xuân Hãn đăng trong báo Đại Học, năm 1959 [3]. Nhưng vì học giả họ Hoàng chưa cho in lại nguyên bản văn, nên chúng tôi thấy cần phải trình bày ở đây và thêm một số chú thích khác, hầu giúp bạn đọc hiểu rộng hơn. Ngoài ra, chúng tôi cũng muốn ghi lại cho đúng với nguyên bản một số chữ mà ông Hoàng Xuân Hãn đã ghi lầm. Ví dụ :
Ô. Hoàng Xuân Hãn ghi : Sửa lại cho đúng
Daria đấng sinh [4] : Daria đồng trinh.
chịu khó giảng tội : : chịu khó giải tội.
chẳng có khi nải nào : chẳng có khi nơi nào.
chẳng có iên sự đạo : chẳng có yêu sự đạo.
bởi Roma mà đến đấy : bởi Roma mà đến đây.
phải ở giảng cỏi Ngô : phải ở giáp cõi Ngô.
quên nghĩa Thầy, dầu tuy là : quên nghĩa Thầy đâu, tuy là
Thầy có Thầy Đamago Côi trì : Thầy có thấy Đamaso Côi trì.
các bổn đạo nhà chánh : các bổn đạo nhà thánh.
hết bên dòng : hết bên Đông (Hải Dương).
tháng mười Igrega : tháng mười Igreja.
Bà thánh Davia : Bà thánh Daria.
cùng ông thánh Miganto : cùng ông thánh Chrisanto.
lạy ơn thầy nghìn sỉa : lạy ơn thầy nghìn trùng.
Bức thư của Thầy Thiện sẽ cho bạn đọc thấy, không những tác giả giỏi chữ quốc ngữ hơn Văn Tín, mà xem ra cũng có học lực cao hơn. Ngoài ra, có lẽ Thầy Thiện còn biết cả tiếng Bồ Đào Nha và La tinh nữa, ít nhất là biết sơ sơ, vì ông đã viết mấy chữ đó ở đầu bức thư.
« Ao Pe Philipe Marino »
« Pax Christi »
Rày là ngày lễ Bà thánh Daria đồng trinh tử vì đạo [5], tôi xin vì công nghiệp Bà thánh nầy mà làm thư nầy cho đến nơi Thầy. Tôi lạy ơn Thầy vì Đức Chúa Trời mà chịu khó nhọc làm vậy. Tôi đã làm được thư gưởi sang Macao cho Thầy, song le chẳng biết là có ai gưởi cho đến Thầy hay chăng [6]. Rầy có khách Olande [7] trẩy về bên ấy, mà Thầy cả gưởi thư đi bên ấy [8], thì tôi phải làm một hai lời sang lạy ơn Thầy vậy. Các bổn đạo xứ Đông [9] thì lòng nhớ Thầy lắm, một ước ao cho Thầy lại đến nước nầy một lần nữa ; song le nước Annam hãy còn rối chửa có xong [10]. Các bổn đạo nhà quê rày xa Thầy, kẻ thì giữ, kẻ thì bỏ, vì chẳng có Thầy cả đến giải tội cho [11]. Những Kẻ giảng [12] thì đi thăm dạy dỗ một hai lẽ vậy, chẳng bằng có Thầy cả thì hơn. Rày thì có hai Thầy cả ở Kẻ Chợ, chẳng dám đâu [13], song le bổn đạo mọi nơi hằng có đến liên ; mà hai Thầy cũng chịu khó giải tội ban đêm, đến gà gáy thì làm lễ, cho bổn đạo Comunhong [14], rồi lại ra hết, chẳng dám vào ban ngày. Kẻ chịu đạo thì hằng có liên, chẳng có khi nơi nào mà chẳng đi chịu đạo [15].
« Manoel cùng Miguel [16] rằng, Thầy có khiến tôi chép những truyện bên này, thì tôi làm được hai vở để cho Thầy cả Onofre [17] sẽ gưởi cho Thầy bên ấy. Đây dù mà có sự gì lạ thì đã có hai Thầy cả sẽ chép cho Thầy được hay. Tôi lại nói lại cho Thầy được hay, các sự Thầy để lại đây, thì tôi để mặc Thầy cả thay thảy, cũng có phần gưởi về Macao, có phần để lại đây. Bằng sự tiền Thầy dạy cho mẹ Romong thì tôi đã cho, song le mẹ nó để cho kẻ trộm lấy hết chẳng được ăn, mà Romong thi còn ở nhà Thầy cả [18], còn kẻ khác thì nó đã về hết. Daniel [19] thì ở cùng Olan, nó đi Jacatra [20] lại về đây, rày thì chủa biết là nó đi đâu. Còn đầy tớ [21] các Thầy giảng ở lại cùng Thầy cả Kẻ Chợ thì được bốn lăm người [22]. Các Thầy giảng thì đi ở các xứ, Kẻ giảng cũng vậy [23]. Thầy Chico [24] còn ở Ống Mác [25], song le chẳng còn ai ở cùng, có một Bento Cẩm mà thôi ; các bổn đạo cũng ghét chẳng ai cho ăn, cũng chẳng đến cùng nữa, vì nết kiêu ngạo chẳng có chừa, dù các Kẻ giảng cũng đi đến cùng [26].
« Bây giờ tôi kể những kẻ Thầy đã biết ngày xưa, thì Bảo lộc [27] Trương cùng ông Lucio Kẻ Cốc [28] đã sinh thì, ông Minh ông Trà Kẻ Vó cũng đã sinh thì [29]. Song le ông Minh thì tin lắm, để hết hầu hạ thay thảy [30], chịu đạo mười ngày liền sinh thì ; ông Trà thì vừa vừa vậy [31], còn thì rày láo đáo [32] vậy, chẳng có thật dạ bao nhiêu. Kẻ Vó thì chẳng còn như xưa, vì chẳng có Thầy [Marini] ở lại, chẳng còn Kẻ cả [33] thì người ta lạt dạ. Tôi lại nói sự cũ, năm ngoái có Thầy cả Miguel Rangel cùng Thầy cả Emondo sang đây [34], cũng có nhiều của tốt [35] cho Chúa, thì người mừng vì của, song le chẳng có yêu sự đạo. Đến [khi] tầu trẩy thì khiến các Thầy về hết, thì các Thầy cũng buồn lắm. Song le, ông Tần, ông Niêm [36] dộng [37] Chúa rằng : phô [38] Thầy có ý sang làm tôi mà Đức Chúa chẳng cho ở, thì phô Thầy ấy buồn lắm, thì Chúa mới rằng : cho một Thầy ở. Ông Tần lại rằng : Thầy ấy ở một mình chẳng được, chẳng có ai làm bạn, đây thì những Annam [39] ; thì Chúa cho hai ở hai về [40]. Thấy vậy, Thầy cả Miguel [41], Thầy cả Emondo lại về Macao. Mà Thầy cả Miguel bởi Roma mà đến đây thì về bên Đại Minh [42], mà bởi có giặc Hung nô đến Quảng Tây, thì vua Vĩnh lịch chạy đi xứ khác, thì Thầy chẳng có được đến cùng vua, phải ở giáp cõi Ngô, phải nước độc thì người đã sinh thì chẳng còn, mà đầy tớ người [43] thì theo người Ngô.
« Thầy cả Onofre cho Thadeo [44] đi thăm, chẳng biết người ấy [45] ở đâu. Từ kẻ Chợ đến nơi Thầy sinh thì đi tám ngày mới đến nơi.
« Tôi lạy ơn Thầy nghìn trùng, tôi chẳng có quên nghĩa Thầy đâu, tuy là ở xa song le lòng chẳng có xa. Thầy đến Roma cùng Đức Thánh Papa [46] cũng vì bởi chúng tôi cho nên Thầy phải liều mình chịu khó nhọc làm [vậy]. Nào chúng tôi biết lấy nghĩa gì mà trả ơn ấy cho được, thì tôi cậy đã có công nghiệp Đức Chúa Jêsu cùng Đức Bà Maria phù hộ cho Thầy đi đến nơi cho nên việc, lại về bên này chia phúc cho chúng tôi ăn mày một chút công Thầy. Tôi là kẻ phàm hèn chẳng đáng sự ấy, song le chúng tôi ơn nhờ công nghiệp các Thánh xưa nay, để cho Đức Thánh Papa chia ra cho các [con] Đức Chúa Trời. Tôi làm thư này xin cho đến Thầy như bằng đội ơn Thầy vậy. Chẳng biết là tôi có được gặp Thầy nữa chăng, vì một ngày là một xa, thì tôi xin Thầy nhớ đến tôi là tôi tá ở nhà các Thầy [47]. Tôi lại ao ước cho được ăn mày [48] nhà các Thầy cho đến chết. Tôi là kẻ mọn chẳng đáng đến Đức Thánh Papa, thì xin công Thầy sẽ làm phúc cho ăn mày công ấy. Tôi đội ơn Thầy lắm [49].
« Ví bằng Miguel [50] có trẩy hầu Thầy, thì gưởi lời thăm làm [lắm ?], vì tôi đã ơn có thư gưởi cho tôi, mà tôi cũng gưởi hai thư cho, chẳng biết là có đến cùng chăng. Sau nữa, anh Miguel là Antonio Cẩm Đình thì vợ đã qua đời. Ông ấy bỏ việc làm quan cai quân mà vào ở nhà Thầy giảng được hai năm nay. Phải bảo cho Miguel biết mà mừng cho ông ấy.
Sau nữa, tôi chiềng Thầy có thấy Damaso Côi Trì [51] xưa kia ở cùng nhà Thầy, rày sang bên India, tôi gưởi lời thăm ông ấy, mà lại có thư ông ấy nữa : chị ông ấy gưởi cho, mà để nơi tôi đã lâu, chẳng biết có ai đến đấy chăng mà gưởi. Rày có thư này tôi gưởi hầu Thầy thì gưởi làm một, Thầy sẽ làm phúc trao cho ông ấy cho tôi cùng.
« Năm Thầy trẩy về Macao thì tôi có xuống xứ đông [52] cho đến Bắt xã. Đến đâu thì tôi bảo bổn đạo cho được hay rằng, Thầy về phải khó nhọc lắm [53], ngỡ là lại sang đây, chẳng ngờ Thầy lại trẩy sang Roma đi Sứ Đức Thánh Papa là nước xa lắm ; mà Thầy có thư gưởi cho bổn đạo cầu cho Thầy đi cho bằng an, anh em chẳng có mất công sự ấy đâu ; thì các bổn đạo đều khóc lóc hết mà xin cùng tôi rằng : bao giờ có làm thư gưởi cho Thầy, thì các bổn đạo nhà thánh hết bên Đông [54] gưởi lời lạy ơn Thầy lắm, vì hay thương chúng tôi bởi đi làm phúc chẳng có khi dừng [55]. Rày Cha [56] đã đi xa lắm, biết ngày nào cho các con lại gặp Cha cho kẻo buồn. Song le bên ấy [57] rày hằng ra Kẻ Chợ xưng tội liên, kẻ mạnh thì đi được, kẻ yếu thì chẳng đi được, có kẻ chết, kẻ thì còn sống thì lơ lửng vậy.
« Ơn Đức Chúa Trời trả công cho Thầy đời đời. Bấy nhiêu lời tôi chép tháng mười Igreja [58], mà thư này thì ngày lễ Bà thánh Daria cùng Ông thánh Chrisanto tử vì đạo. Tôi lạy ơn Thầy là Cha thì thương đến con cùng. Tôi xin Cha chớ quên làm chi.
« Từ Đức Chúa Jêsu ra đời [59] cho đến rày một nghìn sáu trăm năm mươi chín năm.
« Bento Thiện tôi tá nhà Thầy.
« Sau nữa, Manoel Văn Hán gưởi lời lạy ơn Thầy nghìn trùng, đã được đội ơn Thầy lắm, chẳng có quên nghĩa Thầy đâu, đã được ơn Thầy lắm cho sự nọ sự kia. Tôi cũng mong lại sang cùng Thầy cả Miguel [60], song le lại chẳng đi, còn ở Annam cùng Thầy cả Onofre » [Onuphre Borgès] [61].
❀ ❀ ❀
[1] ARSI, JS 81, f. 246rv.
[2] G. D’AMARAL, Relaçam dos Catequistas de Christamdade de TumK., trong Real Academia de la Historia de Madrid, Jesuitas, Legajo 21 bis, Fasc. 16, f. 36r.
[3] HOÀNG XUÂN HÃN, báo Đại-Học, số 10, tháng 7-1959, tr. 108-119.
[4] Linh mục Thanh Lãng cũng ghi lầm là đấng sinh (THANH LÃNG, Bảng lược đồ Văn học Việt Nam, Q. thượng, tr. 384).
[5] Darina là một trinh nữ tử vì đạo vào thời Ky Tô giáo được truyền bá ở La Mã. Cùng tử vì đạo một trật với Daria, còn có ông Chrisanto Chryanthe. Vì thế cả hai vị thánh này được tôn kính cùng ngày 25-10 mỗi năm. Trong thư, Bento Thiện chỉ nói là ông « chép tháng mườy Igreja » nhưng nhờ ông nói thêm là « thư nầï thì ngàï lễ bà Thánh Daria củ Oũ thánh Chrisanto », nên chúng ta biết được là thư viết ngày 25-10. Truyện hoang đường kể lại rằng, Darina và Chrisanto là hai vợ chồng, bị chôn sống trong một đống cát.
[6] Tác giả nhắc lại Marini phải chịu khổ : bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài, bị bão ở gần Hải Nam. Trước đây, ông cũng đã gửi thư cho Marini, nhưng L.m. lại rời Áo Môn đi La Mã rồi, nên ông thắc mắc không biết có ai chuyển thư đó đi La mã không ?
[7] Olande : do chữ Bồ Đào holandês (đọc là ôlãdéch), có nghĩa là người Hòa Lan.
[8] đi bên ấy : Thầy cả Borgès gửi thư đi La Mã.
[9] xứ Đông : vùng Hải Dương. Trước đây Marini hoạt động ở đó.
[10] Chính quyền Đàng Ngoài còn hạn chế việc truyền giáo.
[11] Tuy có hai L.m. Borgès và Tissanier ở Thăng Long, nhưng Chúa Trịnh Tạc cấm hai ông ra khỏi thủ đô.
[12] Kẻ giảng : Cấp thứ nhì trong « Dòng tu » Thầy giảng. Các Kẻ giảng và Thầy giảng chỉ có thể dậy giáo lý, làm bí tích Rửa tội, chứ không được làm các bí tích khác như Thánh Lễ, Giải tội, là những thứ chỉ dành cho các Linh mục.
[13] chẳng dám đâu : chẳng dám đi đâu ra khỏi thủ đô.
[14] Comunhong : do chữ Bồ Đào Nha là comunhão, có nghĩa là chịu lễ hay rước Thánh Thể.
[15] Tuy ở vào hoàn cảnh khó khăn, nhưng ở nơi nào cũng có người chịu đạo, tức là xin gia nhập đạo Công giáo.
[16] Manoel và Miguel là tên Thánh hai người Việt Nam. Manoel, Manuel, Emmanuel cũng là một. Ngày nay ở Việt Nam rất hiếm người mang tên thánh này. Maguel, Michael, Michel cũng thế. Manoel và Miguel là hai danh từ Bồ Đào Nha.
[17] Onofre : Onuphre Borgès. Bento Thiện theo lời yêu cầu của Marini đã viết một tập « Lịch sử nước Annam » để gửi đi La Mã cho ông, hầu bổ túc vào cuốn sách Delle Missioni... mà ông sẽ xuất bản tại La Mã năm 1663. Bento Thiện nhắc tới hai vở tức là hai tập giống nhau, để gửi bằng hai chuyến tầu khác nhau, để phòng thất lạc hoặc bị bão đắm tầu. Thực ra, cả hai vở này đều đã về đến La Mã, và cả hai vở đều lưu trữ tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã. Trong phần tới chúng tôi sẽ nói đến tập lịch sử này.
[18] Romong là tên thánh một người Việt Nam, đang tu ở nhà Thầy cả Borgès, tức là đang ở cấp bậc Cậu (tập sinh) trong « Dòng tu » Thầy giảng.
[19] Daniel là tên thánh của một người Việt nam. Ngày nay, ở Việt Nam rất hiếm người mang tên thánh là Daniel.
[20] ở cùng Olan : Có lẽ tác giả muốn nói rằng, Daniel theo người Hòa Lan đi Jacatra, tức Djakarta, thủ đô Indonesia ngày nay. Thời đó, Jacatra là trụ sở Công ty Đông Ấn của Hòa Lan.
[21] đầy tớ các Thầy : Có lẽ phải hiểu là các Ông Già, tức là những người ở bậc thấp nhất trong « Dòng tu » Thầy giảng, sau này gọi là ông Bõ trong nhà Đức Chúa Trời.
[22] bốn lăm người : Có lẽ là bốn, năm người chứ không hiểu được là bốn mươi lăm người.
[23] Thầy giảng và Kẻ giảng đi hoạt động ở các xứ đạo.
[24] Chico : do tiếng Bồ Đào Francisco (đọc là frãcichou), ngày nay ở Việt Nam quen gọi là Phan Xi Cô, thay vì Chico.
[25] Ông Mác : Theo ông Hoàng Xuân Hãn, thì đó là tên một cửa ô phía Nam thành Thăng Long.
[26] Thầy Chico (không rõ tên Việt Nam) là một Thầy giảng, nhưng vì có tính xấu kiêu ngạo (kiêu căng), nên mọi người đều ghét, ngay các Kẻ giảng trước đây ở với Thầy Chico, nay cũng vì ghét mà bỏ đi hết.
[27] Bảo lộc : tức là thánh Phao lô. Bảo Lộc là tên thánh của ông Trương.
[28] Lucio Kẻ Cốc : Ông Lucio (tên thánh một người việt Nam) ở Kẻ Cốc.
[29] Ông Minh và Ông Trà ở Kẻ Vó qua đời, cũng đã được Igesico Văn Tín nhắc đến trong thư gửi cho Marini.
[30] Hầu hạ : Vợ bé, vợ hầu. Để hết hầu hạ thay thảy có nghĩa là bỏ hết vợ bé, để gia nhập Giáo hội Chúa. Vì theo luật đạo Công giáo, một người có vợ bé không được nhận vào Giáo hội. Ông Minh chịu đạo được mười ngày liền sinh thì, tức là chịu phép Thánh Tẩy được 10 ngày thì qua đời.
[31] Khi nói về ông Trà, Bento Thiện bớt bi quan hơn Văn Tín.
[32] láo đáo : Có lẽ chữ láo đáo bây giờ hiểu là lác đác. Câu đó có nghĩa là, bổn đạo giữ đạo lác đác, không được sốt sắng như xưa, kẻ giữ người bỏ.
[33] Kẻ cả : Người lớn hơn hết, người đứng đầu. Theo mạch văn thì Kẻ cả ở đây chỉ cho L.M. Marini.
[34] Tác giả nhắc đến hai L.M. Dòng Tên Francisco Rangel và Edmond Poncet, nhưng thay vì Francisco Rangel, tác giả lại viết lầm là Miguel (Rangel). Rất có thể chữ Miguel, ở đây chỉ Miguel Boym. Nếu thế thì tác giả nhắc đến ba Linh mục : Miguel Boym, Francisco Rangel và Edmond Poncet. Khi Bento Thiện dùng chữ năm ngoái, phải hiểu là năm âm lịch, nếu hiểu là dương lịch thì không đúng. Vì, như chúng ta biết, tác giả biên thư ngày 25-10- 1659, mà Miguel Boym tới đàng Ngoài tháng 8-1658, còn Francisco Rangel và Edmond Poncet tới đây tháng 2-1659. Về tiểu sử Miguel Boym chúng ta đã thấy trong phần chú thích bức thư của Văn Tín. Còn tiểu sử hai Linh mục kia như sau : - Francisco RANGEL, người Bồ Đào Nha, đến Đàng Ngoài lần thứ nhất năm 1646, bị trục xuất năm 1658. Tháng 2-1659 (cũng có nơi ghi là tháng 3-1659) Rangel cùng với Poncet tới Đàng Ngoài, nhưng Chúa Trịnh Tạc không cho ở lại, nên hai ông phải theo tầu Bồ Đào Nha về Áo Môn vào tháng 7-1659. Trên đường về Áo Môn, tầu bị hư bánh lái. Lúc đó trên tầu hết cả đinh, sắt, nên đã phải dùng nhiều thoi bạc (tiền) làm đinh sửa bánh lái. Năm 1660, Rangel lại đi tầu từ Áo Môn tới Đàng Ngoài lần thứ ba, nhưng ông bị bọn cướp bể ở Hải Nam sát hại ngày 8-4-1660 cùng với nhiều hành khách. Trên tầu có 70 người, song chỉ có 19 người thoát nạn, trong số này có một người Đàng Ngoài (TISSANIER, Relation du voyage, tr. 306-307). - Edmond POCET, người Pháp, đến truyền giáo ở Áo Môn ngày 8-7-1656. Tháng 2-1658, ông tới Hội An, nhưng đầu tháng tám năm đó bị Chúa Nguyễn trục xuất về Áo Môn. Tháng 2-1659, Poncet cùng với Rangel tới Đàng Ngoài, tháng 7-1659 về Áo Môn.
[35] nhiều của tốt : Nhiều lễ vật quý dâng Chúa Trịnh Tạc.
[36] Ông Tần và ông Niêm là hai quan coi kiều dân ở Đàng Ngoài.
[37] dộng : Khi nói cùng cấp trên, có thể dùng danh từ dộng, nhưng không trang trọng bằng danh từ tâu, danh từ dộng cũng tương đương như danh từ bẩm.
[38] Phô chỉ số nhiều người sang trọng.
[39] đây thì những Annam : có lẽ Thầy Thiện muốn nói là ở Đàng Ngoài lúc đó chỉ có người Annam, không có người Âu châu. Thật ra, năm đó còn có L.m. Borgès và Tissanier, một người Thụy Sĩ, một người Pháp, đang ở Thăng Long, như chúng ta đã biết.
[40] Hai ở hai về : - nếu tác giả chủ ý viết hai ở hai về, phải hiểu như sau : Giữa năm 1659, Chúa Trịnh Tạc định trục xuất tất cả 4 L.m Âu châu hiện có mặt ở Đàng ngoài (Borgès và Tissanier vẫn ở đó từ trước, còn Rangel và Poncet mới đến tháng 2-1659). Ông Tần và ông Niêm liền xin với chúa cho các ông ở lại, nhưng ngài chỉ ưng cho một người ở lại, mà người đó có lẽ là Borgès được Trịnh Tạc quý mến, (Cũng nên biết rằng, năm 1658, Chúa cũng chỉ cho phép Borgès ở lại, ngoài ra mọi Linh mục khác phải rời khỏi Đàng ngoài ; nhưng Borgès xin Chúa cho Tissanier ở lại với ông, Chúa đã chấp thuận). Bây giờ nhờ ông Tần ông Niên xin, nên Chúa cũng vui lòng cho Borgès ở lại. Ông Tần lại xin lần nữa, nên Chúa sẵn sàng cho Tissanier ở lại (mãi đến năm 1663, hai ông mới bị trục xuất). Còn Rangel và Poncet về Áo Môn. – nếu tác giả viết hai ở hai về, nhưng chủ ý nói hay ở hay về, lúc đó phải hiểu rằng, Trịnh Tạc chỉ chấp thuận cho một trong hai Linh mục Rangel hoặc Poncet, được ở lại. Khi ông Tần xin lần nữa, Chúa trả lời : hay ở hay về, nghĩa là, hoặc là một người ở lại như Chúa đã cho, hoặc là về cả hai, chứ không cho cả hai người ở lại. Giả thuyết này có phần vững chắc hơn, bởi liền đó tác giả viết : Thấy vậy, Thầy cả Miguel Thầy cả Emondo lại về Macao. Thấy vậy có thể hiểu là, hai L.m. thấy không được ở lại cả hai, thì cùng nhau về Áo Môn.
[41] Bento Thiện nhớ lầm ; đáng lý phải viết là Francisco, vì đó là Francisco Rangel, nhưng ông lại viết là Miguel.
[42] Về vấn đề Miguel Boym từ Đàng Ngoài đi Quảng Tây vào đầu năm 1659, chúng tôi đã có chú thích dài trong bức thư của Văn Tín.
[43] đầy tớ người : đó là một người Trung Hoa đã theo sát Miguel Boym từ 7 năm. Khi Miguel Boym về Âu châu, người Trung Hoa này vẫn luôn luôn là bạn đồng hành với ông.
[44] Một người Việt mang tên thánh là Thanh Diêu (Thadeo).
[45] người ấy : người Trung Hoa cùng đi với Boym.
[46] Papa : tiếng Bồ Đào Nha. Ngày nay tiếng Việt quen gọi là Giáo hoàng. Vào đầu thế kỷ này, người ta cũng còn gọi là Đức thánh Phapha. Ngài là đại diện Chúa Ky Tô ở trần thế, đứng đầu Giáo hội Công giáo.
[47] tôi tá ở nhà các Thầy : tác giả tỏ lòng khiêm tốn, tự xưng mình là tôi tá. Thực ra, ông là Thầy giảng. Các Thầy giảng hay ở chung với các Thầy cả (Linh mục), nên gọi là ở nhà các Thầy, ở nhà Thầy. Danh từ ở nhà Thầy, người nhà Thầy, chỉ các Thầy giảng, Kẻ giảng, các Cậu ở trong nhà Đức Chúa Trời, vẫn còn được giới Công giáo dùng đến đầu thế kỷ này.
[48] ăn mày : Tỏ lòng khiêm tốn, tự coi mình như người ăn mày ăn xin. Tác giả ước muốn được tu trì ở nhà các Thầy đến chết.
[49] Tác giả chỉ biết là Marini về La Mã, nơi có Đức Thánh Papa ở, nhưng không nhắc đến sứ mệnh chính của Marini là tham dự đại hội công nghị thứ 11 của Dòng Tên. Thật ra, trong khi ở La Mã, Marihi đã gặp Đức Giáo hoàng và nhiều Hồng y, trình bày hoàn cảnh Giáo hội Đàng Ngoài.
[50] Miguel là tên thánh một người Việt Nam. Có lẽ ông là một tu sĩ Dòng Tên theo Marini đi La Mã để học ở đó.
[51] Tên thánh một người Việt Nam là Damaso sinh quán ở Côi Trì. Xưa kia, Damaso đã cùng sống với Marini, nhưng hiện lúc đó đang ở bên India (Ấn Độ) có lẽ là đi học ở Goa. Chúng tôi không rõ, Damaso đi học bên Goa với tư cách là Kẻ giảng hay lúc đó ông đã gia nhập Dòng Tên rồi và như vậy ông đi học với tư cách tu sĩ Dòng Tên. Thật ra, trong sổ bộ Dòng Tên lúc đó, chúng tôi không thấy tên Damaso.
[52] Xứ Đông : miền Hải Dương.
[53] Từ Đàng Ngoài về Áo Môn, tầu chở Marini bị bão.
[54] bên Đông : bên Hải Dương.
[55] đi làm phúc chẳng có khi dừng : đi làm các bí tích như giải tội, dâng Thánh Lễ v.v... và đi giảng nhiều nơi không ngừng.
[56] Cha : Thời đó đôi khi các giáo hữu cũng gọi các Linh mục là Cha, nhưng vào năm 1659 chưa được phổ biến bằng danh từ Thầy, Thầy cả. Hiện nay, ở Việt Nam, người ta quen gọi các Linh mục là Cha, chứ không gọi là Thầy như xưa.
[57] bên ấy : bên xứ Đông, tức là Hải Dương.
[58] Igreja : Danh từ Bồ Đào Nha. Ngày nay tiếng Việt gọi là Hội thánh, Giáo hội.
[59] Chúa Jêsu ra đời : Chúa Jêsu sinh ra đời.
[60] Miguel tức là Francisco Rangel.
[61] Bento Thiện mong cùng đi Áo Môn với Rangel.