Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ 1620-1659

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 42 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tài Liệu Của Đắc Lộ Viết Năm 1647
Tài Liệu Của Đắc Lộ Viết Năm 1647

❊ ❊ ❊

Ngoài những tài liệu quan trọng trên đây về chữ quốc ngữ của Đắc Lộ, chúng tôi còn tìm được một tài liệu viết tay khác của ông. Đó là « Alexandri Rhodes è Societate Jesu terra marique decẽ annorũ Intinerarium » [1] (Cuộc hành trình mười năm trên bộ dưới biển của Đắc Lộ, thuộc Dòng Tên) viết bằng La văn tại Macassar ngày 4-6-1647 [2], chữ nhỏ li ti trong khổ 14,5 X 27 cm. Phần tài liệu chúng tôi tìm thấy chỉ gồm 61 chương, nhưng thiếu từ chương 50-58 và phần cuối chương 61. Tác giả không đặt đầu đề mỗi chương ở giữa trang như bản thảo cuốn « Tunchinensis Historiae libri duo », nhưng đặt ở lề trang. Đắc Lộ đặt tên cho tài liệu này là « cuộc hành trình mười năm » tức là ông chủ ý thuật lại những cuộc di chuyển trên bộ dưới biển của ông trong 10 năm trời : 1640-1645 (Áo Môn - Đàng Trong) và 1645-1649 (Áo Môn - La Mã).

Bản thảo này đã được dịch ra Pháp văn in lần đầu tiên ở Ba Lê năm 1653 trong Phần II cuốn « Divers voyages et missions ». Cũng cần ghi nhận rằng, cho đến nay, bản thảo La văn chưa bao giờ được ấn hành, mặc dầu bản Pháp văn được tái bản nhiều lần và được dịch sang Đức văn, Anh văn [3]. Thực ra bản thảo của Đắc Lộ hiện chúng tôi có trong tay, hầu hết thuật lại việc tác giả đi đi về về từ Đàng Trong đến Áo Môn (1640-1645), còn cuộc hành trình từ Áo Môn về La Mã (1645-1649) được in trong Phần III cuốn « Divers voyages et missions » thì chúng tôi không tìm thấy (chắc chắn phần này được Đắc Lộ soạn từ sau tháng 6-1647 trên đường từ Macassar về La Mã hoặc ở La Mã, Ba lê). Tuy nói là bản thảo được dịch và in trong Phần II cuốn sách trên đây, nhưng khi xuất bản có khá nhiều thay đổi, không những về số chương mà lại còn thêm bớt một số vấn đề, khác với cuốn « Tunchinensis Historiae libri duo » hầu như giống hoàn toàn với bản thảo.

Sau đây là những chữ quốc ngữ được Đắc Lộ ghi trong tài liệu, hầu hết là những địa danh. Tài liệu có rất ít chữ quốc ngữ. Một điều khác làm chúng ta thắc mắc là không hiểu tại sao vào năm 1647, Đắc Lộ còn ghi chữ quốc ngữ luộm thuộm như vậy ? Thực ra, vào năm 1644 chữ quốc ngữ của ông đã tiến khá nhiều, vậy mà ba năm sau ông còn ghi tương tự như năm 1636. Đó là điều làm chúng ta khó hiểu. Bây giờ chúng tôi xin trích ra khoảng một phần ba tổng số chữ quốc ngữ trong tài liệu. Chúng tôi cũng không ghi số tờ có chữ quốc ngữ, song vẫn trình bầy theo thứ tự trước sau của tài liệu.

Ciam : Chàm. Kẻ Chàm, thủ phủ Quảng Nam Dinh. Nhiều khi tác giả dùng để chỉ cả tỉnh Quảng Nam.

Ranran : Ran Ran. Tác giả có ý chỉ vùng Phú Yên.

Kẻ han : Kẻ Hàn. Cửa Hàn tức Đà Nẵng ngày nay.

on ghe bo : Ông Nghè Bộ. Viên quan cai trị Quảng Nam.

Ke cham : Kẻ Chàm.

Halam : Hà Lam. Cách Hội An chừng 30 cs về phía Nam.

Cai tlam, Caitlam : Cát Lâm. Ở gần Hội An.

ben da : Bến Đá. Xã Bến Đá.

Qui nhin : Qui Nhơn.

Nam binh : Nam Bình. Ở tỉnh Bình Định ngày nay.

Bao bom : Bầu Vom. Ở gần Quảng Nghĩa (?).

Quan Ghia : Quảng Nghĩa.

Nuoc man : Nước Mặn.

baubeo : Bầu Bèo (?). Làng Bầu Bèo.

liem cun : Liêm Công (?). Làng Liêm Công.

Quanghia : Quảng Nghĩa.

Baubom : Bầu Vom.

bochinh : Bố Chính.

oũ nghe bo : Ông Nghè Bộ.

Sau khi dựa vào các tài liệu viết tay của Đắc Lộ nhất là nếu chỉ hạn định đến năm 1636, chúng ta biết được ông ghi chữ quốc ngữ khác nhiều với hai quyển sách quốc ngữ ông cho xuất bản vào năm 1651. Nếu chỉ căn cứ vào hai cuốn sách trên đây, người ta có thể lầm Đắc Lộ là người có công nhiều nhất trong việc sáng tác chữ quốc ngữ. Nhưng nhờ những tài liệu viết tay của ông, chúng ta hiểu được trình độ chữ quốc ngữ của ông. Hơn nữa, nếu đem so sánh với Lm. Gaspar d’Amaral vào năm 1632, chắc chắn Lm. này giỏi hơn Đắc Lộ nhiều.

❀ ❀ ❀

[1] RHODES, Alexandri Rhodes è Societate Jesu terra marque decẽ annorũ Itinerarium, ARSl, JS. 69, f. 95r-140v.

[2] Chúng ta biết ngày 20-12-1645, Đắc Lộ rời Áo Môn để bắt đầu một cuộc hành trình về La Mã và tới đây 27-6-1649. Muốn hiểu rõ tại sao Đắc Lộ có thời giờ soạn tài liệu này ở Macassar năm 1647, thì cần phải biết như sau : 20-12-1645 : Đáp tầu từ Áo Môn. 14-01-1646 : Tới Malacca. 22-02-1646 : Đi Djakarta. 05-03-1646 : Tới Djakarta. 29-07-1646 : Bị người Hòa Lan bỏ tù ở Djakata hơn hai tháng trời vì dâng Thánh Lễ. 25-10-1646 : Đi Macassar (chuyến đi lâu hơn 2 tháng). 21-12-1646 : Tới Macassar. Ở lại đây gần 6 tháng trời. 15-06-1647 : Rời Macassar đi Bantan.

[3] In lần thứ nhất : Divers voyages et missions dv P. Alexandre de Rhodes en Chine, et autres Royaumes de l'Orient. Avec son retour en Europe par la Perse et l’Armenie. Le tovt divisé en trois parties. Chez Sebastien Mabre-Cramoisy et Gabriel Cramoisy, Paris, 1653, in-4°, kèm theo bản đồ Việt Nam kích thước 30 X 42 cm. Phần I và phần II đánh số trang tiếp nhau, tất cả có 276 tr., Phần III đánh số trang bắt đầu từ 1 : 82 tr. Kế đến là những lần in lại do các nhà xuất bản vào những năm sau đây : - Sebastien Mabre-Cramoisy et Gabriel Cramoisy, Paris, 1666. - Christophe Journel, Paris, 1681. - Christophe Journel, Paris, 1683. - Julien, Lanier et Co, Paris, 1854. - Desclée et de Brower, Lille, 1884. - L.m. Michel Pachtler, S.J., dịch ra Đức văn, xuất bản : Freiburg im Brisgau, Herder, 1858. Ngoài ra một bản Anh văn do Solange Hertz dịch, mới được xuất bản dưới đầu đề : Rhodes of Việt Nam. The Travels and missions of Father Alexandre de Rhodes in China and other Kingdoms of the Orient, Westminter, Maryland, 1966, in-8°, XX-246 tr.

HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG ebook©MotSAch —★— vte-4u© Nhà xuất bản : ANTÔN . ĐUỐC SÁNG, SAIGON 1972
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Đỗ Quang Chính, Sj.

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.