Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ 1620-1659

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 23 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tài Liệu Của Gaspar D’amaral Viết Năm 1637
Tài Liệu Của Gaspar D’amaral Viết Năm 1637

❊ ❊ ❊

Tài liệu này cũng soạn bằng tiếng Bồ Đào Nha, viết tại Kẻ chợ (Thăng Long) ngày 25-3-1637 với nhan đề « Relaçam dos catequistas da Christamdade de Tumk e seu modo de proceder pera o Pe Manoel Dias, Vissitador de Jappão e China » (Tường thuật về các Thầy giảng của giáo đoàn Đàng Ngoài và về cách thức tiến hành của họ, gửi Cha Manoel Dias, Giám sát Nhật Bản và Trung Hoa [Dòng Tên]). Tài liệu này hiện lưu trữ tại Văn khố Hàn lâm viện Sử học Hoàng gia Madrid [1].

Bản tường thuật dài 6 tờ rưỡi, tức 13 trang giấy, viết trong khổ 13 X 21 cm, chữ nhỏ và dầy đặc. Nội dung trình bày hai Lm. P. Marques và Đắc Lộ thiết lập « Dòng tu » Thầy giảng ở Đàng Ngoài ; sau đó trình bày việc huấn luyện, cấp bậc và hoạt động của các Thầy giảng ; cuối bản tường thuật còn ghi rõ tên, tuổi, năm tòng giáo của các Thầy giảng, Kẻ giảng, các Tập sinh (các cậu) và các Trợ giảng (ông Bõ) thuộc « Dòng tu » mới này.

Tài liệu không hoàn toàn do Gaspar d’Amaral viết, nhưng ông đọc cho một người khác viết, rồi chính ông soát lại kỹ lưỡng, dùng bút sửa bên lề trang giấy một số chữ, và cuối bản tường thuật, chính Amaral viết thêm vào 13 dòng chữ kể cả chữ ký của ông. Vậy bản tường thuật này là của chính tác giả Gaspar d’Amaral và chúng ta phải coi như ông đã viết ra.

Sau đây chúng tôi xin trích những chữ quốc ngữ trong bản tường thuật của Gaspar d’Amaral.

Sãy : Sãi. Các vị Sư Sãi.

đức : Đức. Thầy giảng Chi Công Đức, 43 tuổi, theo đạo Công giáo được 11 năm.

Chuá thanh đô : Chúa Thanh Đô. Thanh Đô vương Trịnh Tráng.

thầy : Thầy. Thầy giảng.

định : Định. Trợ giảng An Tong Định, 44 tuổi, theo đạo Công giáo được 11 năm.

nhin : Nhơn. Trợ giảng Tô Ma Nhơn, 47 tuổi, theo đạo Công giáo 11 năm.

Nghệ an : Nghệ An.

lạy : lậy. Sụp lậy.

tri : Tri. Thầy giảng An Rê Tri, 41 tuổi, theo đạo Công giáo 11 năm.

bùi : Bùi. Có lẽ là Thầy giảng Bùi Nhuận, chết năm 1637, được 46 tuổi, vào đạo Công giáo được 11 năm, thánh hiệu là Y Nhã.

quang : Quảng. Thầy giảng Thanh Diêu (Tadeo) Quảng, 66 tuổi, theo đạo Công giáo được 11 năm.

tháng : Thắng. Thầy giảng Tô Ma Thắng 40 tuổi, theo đạo Công giáo được 10 năm.

côủ thàn : Công Thành. Thầy giảng Lu Ca Công Thành, 44 tuổi, theo đạo Công giáo 10 năm.

Sướng : Sướng. Kẻ giảng An Tong Sướng, 22 tuổi, theo đạo Công giáo được 4 năm.

đàng ngoài : Đàng Ngoài.

già : Già, Kẻ giảng An Rê Già, 50 tuổi, theo, đạo Công giáo được 4 năm.

: Vó. Kẻ giảng Chi Công Vó, 48 tuổi, theo đạo Công giáo được 11 năm.

nân : Nân. Kẻ giảng Chi Công Nân, 26 tuổi, theo đạo Công giáo được 6 năm.

lồ : Lồ. Kẻ giảng An Tong Lồ, 27 tuổi, theo đạo Công giáo được 9 năm.

đôủ thành : Đông Thành. Tập sinh Đông Thành, 19 tuổi, theo đạo Công giáo được 2 năm.

Kẻ chợ : Kẻ Chợ. Thủ đô Thăng Long.

So sánh hai tài liệu 1632 và 1637 của Gaspar d'Amaral, chúng ta thấy rằng, năm 1637 ông đã viết một số chữ quốc ngữ khá hơn năm 1632. Đó là những chữ : thầy, lạy, đàng ngoài, già, Kẻ chợ.

*

Nếu chúng ta lại đối chiếu cách ghi chữ quốc ngữ của Gaspar d’Amaral với Đắc Lộ, ta thấy, ngay từ năm 1632, Amaral đã ghi rành hơn Đắc Lộ năm 1636.

Đem so sánh thời gian có mặt ở Việt Nam tính đến năm 1632 thì Amaral mới ở được 28 tháng rưỡi (ở Đàng Ngoài từ tháng 10-1629 đến tháng 5-1630 và từ trung tuần tháng 3-1631 đến hết tháng 12-1632), còn Đắc Lộ đã ở được 57 tháng (ở Đàng Trong từ tháng 12-1624 đến tháng 7-1626, và ở Đàng Ngoài từ tháng 3-1627 đến 5-1630). Quả thật, tuy Amaral mới ở Đàng Ngoài 28 tháng rưỡi mà đã viết chữ quốc ngữ khá hơn Đắc Lộ nhiều. Hơn nữa trong bản tường trình 1632, Amaral đã chen vào nhiều chữ quốc ngữ, mặc dầu vấn đề bị giới hạn hầu hết vào vấn đề tôn giáo ; còn bản văn của Đắc Lộ viết năm 1636 (Tunchinensis Historiae libri duo) viết dài gấp đôi và chứa đựng nhiều vấn đề xã hội Đàng Ngoài hơn, thế mà lại có ít chữ quốc ngữ hơn. Do điểm này, có lẽ chúng ta dám đưa ra nhận xét khác là, vào năm 1636, Đắc Lộ chưa ý thức được tầm quan trọng của chữ quốc ngữ bằng Amaral vào năm 1632. Chúng ta cũng còn dám chắc Amaral giỏi hơn Đắc Lộ nhiều, nhờ bằng chứng rõ rệt là, Amaral đã soạn cuốn tự điển Việt - Bồ - La (Diccionário anamita-português-latim) [2], trước khi Đắc Lộ soạn tự điển của ông. Trong lời tựa cuốn tự điển của Đắc Lộ xuất bản năm 1651 tại La Mã, chính tác giả đã viết rõ là ông dùng những công khó nhọc của các linh mục Dòng Tên khác, nhất là dùng hai cuốn tự điển của Amaral và Barbosa để soạn thảo sách đó [3].

Tiếc rằng cuốn tự điển của Amaral chưa được ấn hành thì ông đã qua đời (23-12-1645). Thật ra, không ai rõ cuốn tự điển của Amaral có bao nhiêu danh từ Việt, và cứ sự thường, bản thảo quí giá này đã bị « tiêu diệt » rồi. Điều chắc chắn là, lúc đầu bản thảo đó để tại Áo Môn, nhờ vậy Đắc lộ có thể dựa vào đó mà viết cuốn tự điển của ông. Theo chúng tôi hiểu, thì cuốn tự điển của Amaral được lưu trữ tại Văn khố Dòng Tên tỉnh Nhật Bản đặt tại Áo Môn. Cuốn tự điển viết tay này cũng như cuốn tự điển của Lm. Antonio Barbosa mà chúng tôi sẽ nói qua thường đã mất ; nhưng mất vào năm nào, không ai được rõ. Rất có thể là nó bị mất trong dịp Văn khố Dòng Tên tỉnh Nhật Bản được chuyển từ Áo Môn về Manila khoảng năm 1759-1760. Vì từ ngày 15-5-1758, chính phủ Bồ Đào Nha đàn áp Dòng Tên ở đất Bồ và trong các lãnh thổ của Bồ Đào Nha. Nhưng rồi chính phủ Tây Ban Nha cũng đàn áp Dòng Tên kể từ ngày 2-4-1767, nên Văn khố Dòng Tên ở Manila lại bị chính quyền Tây Ban Nha tịch thu, và vào khoảng năm 1770, các tài liệu đó được đem về Madrid [4]. Như vậy, có thể là hai cuốn tự điển quý giá này đã bị thất lạc do các cuộc di chuyển trên, cũng có thể nó còn nằm ở đâu mà người ta chưa tìm thấy. Chúng tôi đã tìm hỏi ở Áo Môn, Manila, Madrid, Lisboa, La Mã, Ba Lê mà không thấy. Dù sao chúng tôi vẫn còn nuôi chút hy vọng may ra nó còn nằm ở đâu chăng ?

Nói đến lịch sử chữ quốc ngữ trong giai đoạn này, chúng ta không thể bỏ qua Lm. Antonio Barbosa (1594-1647) [5]. Ông sinh tại Arrifana de Souza, Bồ Đào Nha, gia nhập Dòng Tên ngày 13-3-1624. Cuối tháng 4-1636, Barbosa đến Đàng Ngoài, nhưng rồi ông trở về Áo Môn vào tháng 5-1642, vì lý do sức khỏe. Tại Áo Môn, tình trạng sức khỏe của ông cũng không khá hơn. Năm 1647 Barbosa từ Áo Môn đi Goa để dưỡng sức, nhưng ông qua đời cùng năm đó trên đường đi Goa. Antonio Barbosa soạn thảo cuốn tự điển Bồ - Việt (Diccionário português-anamita) [6] như chúng ta đã nói ở trên. Đắc Lộ cũng dựa vào cuốn tự điển này để soạn cuốn tự điển của ông. Khác với Amaral, Barbosa lại soạn từ tiếng Bồ Đào Nha sang tiếng Việt. Chúng tôi nghĩ rằng, có lẽ ông cũng soạn cuốn này lúc còn ở Đàng Ngoài, từ năm 1636-1642. Về « số phận » cuốn tự điển viết tay này cùng một hoàn cảnh như cuốn tự điển của Amaral, nghĩa là có thể đã bị « tiêu diệt », cũng có thể là còn nằm ở đâu chăng ? Ngoài cuốn tự điển, Barbosa còn Soạn một số bài thơ hiện lưu trữ tại Biblioteca da Ajuda ở thủ đô Bồ Đào Nha [7].

Từ trước đến nay, một số nhà nghiên cứu lịch sử chữ quốc ngữ, kể cả người Việt Nam lẫn ngoại quốc, đã đề cao giá trị Đắc Lộ quá nhiều. Nếu có vài nhà nghiên cứu mới đây ở Việt Nam tỏ ra dè dặt về vấn đề này, thì cũng chưa dám nói đích danh người nào giỏi hơn Đắc Lộ, là vì chưa tìm được tài liệu rõ rệt. Bây giờ, nhờ việc khám phá được tài liệu của Amaral, chúng ta dám nói là Amaral giỏi hơn Đắc Lộ ngay từ năm 1632. Chúng tôi hy vọng các nhà nghiên cứu sẽ tìm thêm được nhiều tài liệu khác, để chứng minh còn có người giỏi hơn Amaral... Như thế, dần dần sẽ bổ túc cho việc nghiên cứu lịch sử chữ quốc ngữ.

❀ ❀ ❀

[1] Real Academia de la Historia de Madrid, Jesuitas, Legajo 21 bis, Fasc. 16, 31-37r.

[2] Augustin de BACKER, Bibliothèque des Ecrivains de la Compagnie de Jésus, Quyển I, Paris, 1869, tr. 121. Carlos SOMMERVOGUEL, Bibliothèque de la Compagnie de Jésus, Nouvelle édition, Quyển I, Louvain, 1960, cột 261-262 - D. BARBOSA MACHADO, Bibliotheca Lusitana, Historica, Critica, e Cronologica, Quyển II, Lisboa, 1747, tr. 331-332. - E. TEIXEIRA, Macau e sua diocese, VII, Padres da diocese de Macau, Macau, 1967, tr. 548.

[3] « (…) aliorum etiam ejusdem Societatis [Jesu] Patrum laboribus sum vsus praeciquè P. Gasparis de Amaral et P. Antonii Barbosae qui ambo suum composuerant dictionarium, ille à lingua Annamitica incipiens hic à lusitana, sed immatura vterque morte nobis ereptus est » (RHODES, Dictionarium annaminicum, lusitanum et latinum, Roma, 1651).

[4] Joseph-François SCHUTTE, EL « Archivo del Japón », vicisitudes del Archivo Jesuitico del Extremo Oriente y descripción del Fondo existente en la Real Academia de la Historia de Madrid, Madrid, 1964, tr. 14-74.

[5] D. BARBOSA MACHADO, Bibliotheca Lusitana, Historica, Critica, e Cronologica Quyển I, Lisboa, 1741, tr. 214-215.

[6] D. BARBOSA MACHADO, Ibid., tr. 214-215. - C. SOMMERVOGEL, Bibliothèque de la Compagnie de Jésu, Nouvelle édition, Q. I. Louvain, 1960, cột 888. - E. TEIXEIRA, Macau e sua diocese, VII, Macau, 1967, tr. 548.

[7] Biblioteca da Ajuda, Jesuitas na Asia, Códice 46-VIII-44.

HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG ebook©MotSAch —★— vte-4u© Nhà xuất bản : ANTÔN . ĐUỐC SÁNG, SAIGON 1972
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Đỗ Quang Chính, Sj.

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.