Đây là bản tường trình hằng năm của Tỉnh Dòng Tên Nhật Bản, mà Lm. Giám sát ủy cho Lm. João Roiz dựa theo các báo cáo ở Đàng Trong soạn thảo, để gởi cho Lm. Mutio Viteleschi, Bề trên Cả Dòng Tên ở La Mã. Tài liệu soạn bằng tiếng Bồ Đào Nha, gồm 15 tờ tức 30 trang kể cả trang bìa. Chữ viết trung bình, không lớn quá cũng không nhỏ quá, trong khổ 14 X 22 cm. Tường trình này biên soạn tại Áo Môn ngày 20-11-1621. Tài liệu chia ra ba phần rõ rệt : Phần mở đầu gồm 6 trang ; Phần thứ hai gồm 8 trang ghi lại những hoạt động của các tu sĩ Dòng Tên tại Hội An và phụ cận với đầu đề : « Residencia de Faifô na Provincia de Cacham » (Cư sở Hội An trong tỉnh Cacham [Quảng Nam] ; phần thứ ba gồm những trang còn lại viết về những kết quả truyền giáo ở Nước Mặn, với đầu đề : « Residencia de Nuocman na provincia de Pulo Cambi » (Cư sở Nước Mặn trong tỉnh Pulo Cambi [Qui Nhơn]) [1]. Dưới đây là những chữ quốc ngữ trong tài liệu :
Annam [2] : An Nam.
Sinoa [3] : Xứ Hóa, tức Thuận Hóa.
Unsai [4] : Ông Sãi.
Cacham [5] : Ca chàm (kẻ Chàm hay Thạnh Chiêm), là thủ phủ Quảng Nam Dinh, ở về phía Tây Hội An ngày nay. Dân chúng thời ấy cũng gọi Kẻ Chàm là Dinh Chàm.
Ungue : Catecismo fez o Pe ao Ungue nosso amigo, ea (?) outros muitos assi Christaõs como gentios, que concorrerão aouuilo [a ouvido][6] (Một Cha dạy giáo lý cho ông Nghè, ông là người bạn thân của chúng tôi, và Cha đó cũng dạy giáo lý cho nhiều giáo hữu cùng lương dân tuốn đến nghe giảng).
Chữ Ungue tức Ông Nghè được tác giả viết liền lại chứ không viết cách ngữ như chúng ta ngày nay. Chúng ta đều biết, Ông Nghè là một danh từ bình dân dùng để gọi các vị Tiến sĩ. Còn danh từ Ông Nghè Bộ, mà chúng ta thấy trong các tài liệu viết tay cũng như trong sách truyền giáo của nhiều nhà truyền giáo Tây phương ở Việt Nam vào thế kỷ thứ 17, là một chức quan ở các Dinh (Tỉnh) Đàng Trong, có nhiệm vụ lo việc thuế má và tài chính. Thực ra, chức vị của ông này là Cai bạ, một trong ba quan (Đô tri, Cai bạ, Nha úy) làm việc trực tiếp dưới quyền viên Trấn thủ của mỗi dinh. Tiện đây cũng nên biết các nhà truyền giáo Tây phương viết chữ Ông Nghè hoặc Ông Nghè Bộ dưới nhiều hình thức khác nhau :
Gaspar LUIS, Cocincinensis missionnis annuae Litterae anni 1260, ARSI, JS. 71 : Unguè (f. 23v), Ungué (f. 24v).
BORRI, Relation de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus, Lille, 1631 : Omgné (tr. 182).
RHODES, Histoire du Royaume de Tunquin, Lyon, 1651 : Oun ghe (tr. 170).
RHODES, Relation des progrès de la foi au royaume de la Cochinchine, Paris, 1652 : Ouenglebo (tr. 43), Onghebo (tr. 44).
RHODES, Divers voyages et missions, Paris, 1653 : Onyhebo (tr. 123), Oun Gueh (tr. 183), Ongehbo (tr. 203), Ongehbo (tr. 203), Ou-nges-bo (tr. 206), Oun ghebo (tr. 212), Oun-ges-bo (tr. 226).
Metelle SACCANO, Relation des progrès de la foi au royaume de la Cochinchine dés années 1646 et 1647, Paris, 1653 : Onguebo (tr. 133).
Maurus de Sa. MARIA, Thư viết tại cửa Hàn ngày 2-8-1698, gửi cho Lm. J. - A. Arnedo, ARSI, JS. 70 : Oũ ngè bộ (f. 264r).
Emmanuel FERREYRA, Noticias summarias das perseguicoẽs da missam de Cochinchina, Lisboa, 1700 : Oum Nhembo (tr. 52), Oum Nhebo (tr. 53), Ou Nhebo (tr. 54).
Sau khi chúng ta tìm hiểu lối viết chữ Ông Nghè của các tác giả trên đây, bây giờ chúng ta tiếp tục trích ra những chữ quốc ngữ trong bản tường trình của João Roiz :
Ontrũ [7] : Ông Trùm, là một người đứng đầu Xứ đạo.
Nuocman [8] : Nước mặn, một thành phố xưa ở phía Bắc Qui Nhơn ngày nay chừng 20 cs. Một số bản đồ thế kỷ thứ 19 còn ghi địa danh này [9].
Bafu [10] : Bà Phủ, tức là vợ quan phủ Qui Nhơn vào năm 1618. Nên nhớ lúc đó Qui Nhơn mới chỉ là một Phủ giáp với lãnh thổ Chiêm Thành.
Sai Tubin [11] : Sãi Từ Bình (?).
Banco [12] : Bàn cổ một « thần » khổng lồ tạo dựng vũ trụ, con người. Hồi xưa dân Việt Nam theo thần thoại Trung Hoa nghĩ như thế.
Oundelim [13] : Ông Đề lĩnh.
❀ ❀ ❀
[1] João ROIZ, Annua de Cochinchina do anno de 1620, Pera N. Muv Rdo em Christo Pe Mutio Vitelleschi Preposito Geral da Compa de Jesu, ARSI, JS. 72, f. 2-16.
[2] Ibid., f. 4v
[3] Ibid., f. 4v. 11r
[4] Ibid., f. 4v.
[5] Ibid., f. 6v.
[6] J. ROIZ, ibid., f. 7r.
[7] João ROIZ, ibid., f. 8r.
[8] Ibid., f. 10r, 11r, 13r.
[9] J. - L. TABERD, Dictionarium Latino - Annamiticum, Serampore, 1938, Appendice, MONTÉZON et ESTÈVE, Voyages et travaux des missionnaires de la Compagnie de Jésu, Mission de la Cochinchine et du Tonkin, Paris, 1858. - Eugène VEUILLOT, La Cochinchine et le Tonkin, 2e édition, Paris, 1861.
[10] João ROIZ, ibid., fr. 10r.
[11] Ibid., fr. 10rv, 12r.
[12] Ibid., fr. 10v.
[13] Ibid., f. 15r.