Tài liệu này cũng liên quan đến vấn đề mô thức Rửa tội bằng tiếng Việt Nam. Bản văn được soạn bằng La ngữ, để trả lời cho Lm. Sebastião de Jonaya, với nhan đề : « Circa formam Baptismi Annamico Idiomate prolatam » [1] (Chung quanh mô thức Rửa tội bằng thổ ngữ An Nam). Tài liệu gồm 8 trang rưỡi (từ tờ 76r đến 80v), viết chữ cỡ trung bình, trong khổ 16 X 29 cm, được soạn thảo năm 1648, hiện giữ tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã, nhưng chúng tôi không rõ là soạn thảo ở đâu và ai là tác giả ? Có thể Lm. Marini là tác giả chăng ? Chúng tôi không dám chắc. Nơi soạn thảo có thể là ở Đàng Ngoài chăng ? Chúng tôi cũng không dám quả quyết, ngoại trừ chữ Nôm ở tờ 78r - 79r.
Từ tờ 78r đến 79r có ghi tên 14 người Công giáo Việt Nam đồng ý về mô thức Rửa tội đã ghi ở tài liệu 1645. Tên những giáo hữu Việt Nam được ghi bằng ba thứ chữ : Nôm, Quốc ngữ và La tinh. Cũng nên biết tằng tài liệu do hai người viết : từ tờ 76r - 77v do một người viết, những tờ còn lại do người khác, không kể phần chữ Nôm do một người thứ ba có lẽ là người Việt Nam. Nhưng xem ra người viết phần thứ hai là chính tác giả của phần thứ nhất nữa (mặc dầu không rõ tên là ai), vì ông có đọc lại phần thứ nhất và đã sửa lại hoặc thêm vào một số chữ, kể cả những chữ quốc ngữ, ví dụ : con uà (Nhơn danh cha, uà con, uà Spirito Santo), thần [2]. Dưới đây là những chữ quốc ngữ :
Nhơn danh cha, uà con, uà Spirito Santo [3] : nhân danh Cha, và Con và Spirito Santo.
Đức Chuá Blờy sinh ra chín đớng thiên thần la cŭôn cŭốc Đức Chuá Blờy [4] : Đức Chúa Trời sinh ra chín đấng thiên thần là quân quốc Đức Chúa Trời.
nhơn nhít danh Cha [5] : nhân nhất danh Cha.
một nam, một nữ [6] : một nam, một nữ.
Sau đây là tên 14 giáo hữu Việt Nam tán thành mô thức Rửa tội bằng tiếng Việt « nhin danh Cha uà Con uà Su-phi-ri-to sang-to » (mô thức đã được 31 Linh mục Dòng Tên xác nhận trong hội nghị ở Học viện Madre de Deus). Như chúng tôi vừa nói, phần này gồm ba thứ chữ : Nôm, quốc ngữ và La tinh : phần chữ Nôm có lẽ do một người có tên trong số 14 người viết, còn phần chữ quốc ngữ và La tinh do người viết phần thứ hai của tài liệu điền vào.

(nhân danh Cha và Con và Su-phi-ri-to sang-to. Ý này An Nam các bổn đạo thì tin rằng ra ba danh. Ví bằng muốn ý làm một, thì phải nói : nhân nhất danh Cha vv... Tôi là Giu ang Câi (?) Trâm cũng nghĩ vậy. Tôi là An rê Sen cũng nghĩ vậy. Tôi là Ben tò [7] Văn Triền cũng nghĩ vậy. Tôi là Phê rô Văn Nhất cũng nghĩ vậy. Tôi là An gio [8] Văn Tang (?) cũng nghĩ vậy. Tôi là Gi-rô-ni-mô [9] cũng nghĩ vậy. Tôi là I-na-sô [10] cũng nghĩ vậy. Tôi là Tho me [11] cũng nghĩ vậy. Tôi là Gi-le [12] cũng nghĩ vậy. Tôi là Lu-i-si [13] cũng nghĩ vậy. Tôi là Phi-líp cũng nghĩ vậy. Tôi là Do-minh [14] cũng nghĩ vậy. Tôi là An ton [15] cũng nghĩ vậy. Tôi là Giu ang cũng nghĩ vậy).
Mấy câu trên đây có nghĩa là mô thức Rửa tội « Tau rữa mầï nhân danh Cha và Con và Su-phi-ri-to sang-to » là đúng với tiếng Việt. Các giáo hữu Việt Nam tin rằng, khi dùng 1 lần nhân danh Cha... cũng hiểu cho cả Ba Ngôi Thiên Chúa, mà không cần phải nhắc lại mỗi lần : nhân nhất danh Cha, và nhất danh Con và nhất danh Su-phi-ri-to sang-to.
*
Chúng tôi còn một số tài liệu chữ quốc ngữ nhưng là tài liệu viết tay sau năm 1648, nên chúng tôi xin miễn bàn trong chương này, vì chúng tôi đã muốn hạn định đến năm 1648 mà thôi.
Từ khi có dấu vết chữ quốc ngữ đến trước năm 1651, chúng tôi chưa tìm được một bản văn nào hoàn toàn bằng chữ quốc ngữ. Hy vọng sau này có ai tìm thấy chăng. Nhưng từ năm 1651, chúng ta thấy xuất hiện hai tài liệu vô cùng quý giá hoàn toàn bằng chữ quốc ngữ, đó là hai cuốn sách của Đắc Lộ in tại La mã năm 1651, mà chúng tôi bàn trong chương liền đây.
❀ ❀ ❀
[1] ARSI, JS. 80, f. 76r-80v.
[2] Ibid., f. 76v.
[3] Ibid., f. 76rv, 77r
[4] Ibid., f. 76v.
[5] Ibid., f. 77v.
[6] Ibid., f. 80v.
[7] Ben tò là tên thánh của một người Việt Nam. Ben tò do chữ Bồ Đào Nha là Bento, tức ông thánh Bento, còn La ngữ là Benedictus, Pháp ngữ là Benoit, tiếng Việt ngày nay gọi là Bê-nê-đích-tô hay Biển Đức.
[8] An gio (An Jo) bởi chữ Bồ Đào là Anjo, có nghĩa là Thiên Thần.
[9] Gi-rô-ni-mô bởi chữ Bồ Đào là Jerónimo (ông thánh Jerónimo).
[10] I-na sô bởi chữ Bồ Đào là Inácio (ông thánh Y Nhã).
[11] Tho-me, tức là thánh Tô Ma.
[12] Gi-le chữ La tinh là Aegidius.
[13] Lu-i-si, chữ La tinh là Aloysius.
[14] Do-minh bởi chữ Bồ Đào là Domingos (thánh Đa Minh).
[15] An ton bởi chữ Bồ Đào António (thánh An Tong).