Trước khi trình bày những chữ quốc ngữ trong hai tài liệu trên đây, thiết tưởng cũng nên nhắc qua tiểu sử của ông.
Gaspar d’Amaral [1] sinh năm 1592 tại Bồ Đào Nha, gia nhập Dòng Tên ngày 1-7-1608. Lm. Gaspar d’Amaral đã làm giáo sư La văn, Triết học tại các Học viện và Đại học Evora, Braga, Coimbra ở Bồ Đào Nha. Năm 1623, Amaral rời quê hương đi Áo Môn hoạt động truyền giáo.
Gaspar d’Amaral tới Đàng Ngoài lần đầu tiên vào tháng 10-1629 cùng với Thầy Paulus Saito, người Nhật [2], nhưng đến tháng 5-1630, ông phải rời xứ này cùng một chuyến tàu với hai Lm. Pedro Marques, Đắc Lộ và Thầy Paulus Saito để về Áo Môn. Ngày 18-2-1631, Gaspar d’Amaral cùng với ba Lm. Dòng Tên khác cũng là những người Bồ Đào Nha, tức André Palmeiro [3], Antonio de Fontes và Antonio F. Cardim [4], từ Áo Môn đáp tầu buôn Bồ Đào Nha đi đàng ngoài, với mục đích truyền giáo. Sau hai tuần lễ, tầu các ông tới một cửa biển Đàng Ngoài, rồi mãi đến ngày 15-3 năm đó các ông mới tới thủ đô Thăng Long. Tại đây, các Linh mục cũng như đoàn thương gia Bồ Đào được Chúa Trịnh Tráng đón tiếp niềm nở. Trịnh Tráng ra lệnh cho người con rể của ông đưa các Linh mục trú ngụ ở một ngôi nhà trong Phủ Chúa. Chúng ta biết, A. Palmeiro đến Đàng Ngoài với hai mục đích : nhận xét tại chỗ những hoạt động mới đây của P. Marques, Đắc Lộ và gặp Chúa Trịnh Tráng ; sau đó ông phải về Áo Môn, chứ không chủ ý ở lại Đàng Ngoài, vì ông là Giám sát Dòng Tên hai Tỉnh Nhật, Hoa. Xem ra Chúa Trịnh Tráng rất quý mến các Linh mục.
Cuối tháng 3 năm 1631 có cuộc thi Hội [5], Chúa Trịnh Tráng cũng mời các Linh mục đi theo ông để chứng kiến cuộc thi. Ngày hôm đó, các ông được Trịnh Tráng cho cưỡi ngựa theo đến trường thi. Lúc đầu các ông từ chối đặc ân này, vì muốn đi bộ như một số quan quân khác, nhưng Chúa muốn như thế, nên các ông phải tuân theo. Riêng Chúa Trịnh Tráng ngự trên kiệu sơn son thiếp vàng do 12 người lực lưỡng khênh (phần nhiều là những tay đô vật nổi tiếng trong nước, mà hầu hết là những người ở Kiên Lao, gần xã Bùi Chu ngày nay), theo sau còn có nhiều quan văn võ đi ngựa và 10.000 lính mang võ khí sáng nhoáng [6].
Khi hai Lm. Palmeiro và Fontes theo tầu buôn Bồ Đào về Áo Môn, thì Amaral và Cardim vẫn ở lại hoạt động truyền giáo. G. d’Amaral không những tiếp tục công việc của Marques và Đắc Lộ mà ông còn phát triển mạnh hơn, nhất là trong việc thích nghi đạo Công giáo với Việt Nam và việc hoàn thành « Dòng tu » Thầy giảng. Sau 7 năm ở Đàng Ngoài, tức vào năm 1638, Amaral được gọi về Áo Môn giữ chức Viện trưởng Học viện « Madre de Deus « (Mẹ Đức Chúa Trời) của Dòng Tên. Ba năm sau, Amaral được cử làm Phó Giám tỉnh Dòng Tên Nhật Bản (gồm các nước Nhật, Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Xiêm, đất Áo Môn và hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây). Năm 1645, Gaspar d’Amaral lại đáp tầu từ Áo Môn đi Đàng Ngoài truyền giáo, nhưng tầu bị đắm ở gần đảo Hải Nam làm ông bị chết ngày 23-12-1645 [7]. Trong thời gian 7 năm ở Đàng Ngoài, Amaral để lại cho chúng ta hai tài liệu viết tay quí giá, nhờ đó chúng ta biết rõ hơn lịch sử thành hình chữ quốc ngữ.
❀ ❀ ❀
[1] Chính Gaspar d’Amaral khi ký tên, có lúc ông ký là Gaspar d’Amaral, có lúc lại ký là Gaspar do Amaral.
[2] Xin coi tiểu sử Paulus Saito ở trang 27, chú thích 38.
[3] André PALMEIRO (1569-1635), sinh tại Lisboa năm 1569, lớn lên, ông gia nhập Dòng Tên rồi được thụ phong linh mục. Ông làm giáo sư ở Đại học Coimbra về môn văn chương trong 6 năm, Triết học trong 4 năm và thần học trong 12 năm. Năm 1617, Palmeiro đi truyền giáo ở Ấn Độ, sau đó ông được cử làm Giám sát tỉnh Dòng tên Nhật Bản, Trung Hoa từ năm 1626-1635 là năm ông qua đời tại Áo Môn. Chúng ta biết, vào năm 1627, Palmerio lúc đó ở Áo Môn, có trao cho Pedro Marques một bức thư nhờ ông chuyển cho Chúa Trịnh Tráng khi tới Đàng ngoài. Nhận được thư, Trịnh Tráng lấy làm hài lòng ; cùng năm ấy, ông cũng gửi thư và quà tặng để đáp lễ André Palmeiro. Bức thư của Trịnh Tráng không viết trên giấy thường, nhưng được khắc trên tấm bạc lá, chiều ngang 55,20 chiều cao 23,60. Riêng những hàng chữ Nho được khắc trong một khoảng rộng 30,60 x 23,60 cm. Bề ngang từ tay mặt sang tay trái có tất cả 17 hàng chữ : 11 hàng đầu mỗi hàng có 12 chữ, hàng thứ 12 lại có 13 chữ, hàng 13 có 1 chữ, hàng 14 có 4 chữ, hàng 15 có 5 chữ, hàng 16 có 7 chữ và hàng 17 có 4 chữ. Tổng cộng là 166 chữ. Từ hàng thứ nhất đến hàng thứ 12, thợ khắc đều kẻ một gạch, phân cách hàng chữ nọ sang hàng chữ kia cách nhau 2,50 hoặc 2,60 cm, mỗi nét gạch có bề ngang 0,20 cm. Từ sau hàng chữ thứ 12, không có gạch phân cách các hàng chữ. Riêng bề mặt mỗi chữ rộng trung bình 1,50 x 2cm. Toàn bức thư được khắc xong trong cùng một ngày. Thật ra bức thư đã bị mất vài hàng đầu, vì thế tổng cộng chỉ còn 17 hàng chữ. Bức thư được trao cho các thương gia Bồ Đào đem về cho André Palmeiro ; nhưng tầu đến đảo Hải Nam bị bão, các đồ trên tầu và bức thư này trôi vào bờ, dân chúng vớt lên được. Hay tin, Palmeiro phải đích thân đến Hải Nam chuộc lại. Bức thư quí giá này hiện giữ tại Thư viện Vatican, Fonds Barberini, vol. 158 (mss orient), Indici e Cataloghi Vaticani. Năm 1912, L.m. L. Cadière đã cho chụp lại bản gốc, dịch ra Pháp văn kèm với lời chú thích, đăng trong báo Bulletin de la Commision archéologique de L'lndochine, 1912, Pl.VII và từ tr. 199-210, dưới nhan đề Une lettre du roi de Tonkin au pape. Cadière đã lầm lẫn khi viết là thư gửi cho Giáo hoàng, vì như chúng ta vừa thấy, đó là thư gửi cho André Palmeiro. Sở dĩ Cardière lầm là vì chính Thư viện Vatican ghi lầm. Chúng tôi không muốn ghi lại nội dung bức thư, vì ít nhất đã có những sách báo sau đây đề cập tới : - PHẠM-VĂN-SƠN, Việt-sử Tân-biên, Quyển IV, Saigon 1961, tr. 136-139. Ông Phạm-văn-Sơn cũng lầm là bức thư gửi cho Giáo hoàng. - Việt Nam Khảo cổ Tập-san, số 2, Saigon, 1961. - VÕ-LONG-TÊ, Lịch-sử Văn-học Công-giáo Việt-Nam, Cuốn I, Saigon, 1965, tr. 112-113.
[4] Antonio de FONTES (1592-?), đến truyền giáo ở Đàng Trong cuối năm 1624, rồi tới Đàng Ngoài năm 1631. Cùng năm đó ông về Áo Môn, ít lâu ông lại đến Đàng Trong, nhưng năm 1639 ông bị trục xuất hoàn toàn khỏi đây. Chúng tôi không rõ ông qua đời năm nào. Antonio-Francisco CARDIM (1595-1659), đến Áo Môn năm 1623, tới Xiêm 1626. Năm 1631 ông đến Đàng Ngoài rồi tìm cách đi Lào, nhưng không thành công. ít lâu sau ông trở về Áo Môn. Cardim qua đời tại Áo Môn năm 1659. Ông viết nhiều bản tường thuật về việc truyền giáo ở Đông Á bằng chữ Bồ Đào và La tinh, sau này được in thành sách, ví dụ cuốn Relation de ce qui s’est passé depuis quelques années jusques à l'An 1644 au Japon, à la Cochinchine, au Malabar, en l'Isle de Ceilan...,Paris, 1646. in-12°.
[5] Khóa thi Hội tháng ba « lấy đỗ bọn Nguyễn Minh Triết 6 người. Khi ấy có Nguyễn văn Quang người làng Đặng-xá huyện Cẩm-giàng thiếu điểm số mà được dự đỗ, sai bỏ tên đi. Trước đây, vua coi thi, thấy mặt trời có quầng, mống đỏ vây bạc xung quanh, lại có mống trắng xuyên vào giữa, mọi người cho thế là điềm ứng » (Đại Việt Sử ký Toàn thư, tập IV, do CAO HUY GIU dịch, Hà Nội, 1968, tr. 257).
[6] CARDIM, Relation, Paris, 1646, tr. 91-92.
[7] L.m. C. Sommervogel lại ghi là G. d’Amaral chết đắm tầu ngày 24-2-1646 (C. SOMMERVOGEL, Bibliothèque de la Compagnie de Jésu, Nouvelle edition, Louvain, 1960, coi chữ G. d’Amaral. Có thể đọc thêm tiểu sử ông trong FRANCO, Imagem da virtude em o noviciado de Coimbra, Quyển II, tr. 522-523.