Trên đây chúng ta đã có dịp bàn đến một tài liệu viết tay của Gaspar Luis năm 1621, nhưng lúc đó ông chưa đặt chân tới Đàng Trong. Trái lại khi Gaspar Luis soạn tập tài liệu này là lúc ông đã ở Đàng Trong được hơn một năm, bởi vì ông viết tại Nước Mặn ngày 1-1-1626. Chúng ta biết Gaspar Luis từ Áo Môn đi Đàng Trong cùng một chuyến tầu với Đắc Lộ và 5 Linh mục khác vào tháng 12-1624 [1]. Ông phải rời bỏ Đàng Trong hoàn toàn vào năm 1639, lúc Chúa Nguyễn Phúc Lan ra lệnh trục xuất tất cả các nhà truyền giáo khỏi xứ.
Tài liệu là một bản tường trình hàng năm [2] viết bằng La văn gửi cho Lm. Bề trên Cả Dòng Tên Mutio Vitelleschi ở La Mã, dài 15 tờ, tức 30 trang, nhưng tác giả chỉ viết 29 trang, cỡ chữ vừa phải trong khổ 13 x 20,50 cm. Bản tường trình gồm ba phần : phần một, « Residentia Fayfó » (Cư sở Hội An) thuật lại những việc xảy ra ở Hội An năm 1625 ; Phần hai, « Residentia Dinh Cham uulgò Cacham » (Cư sở Dinh Chàm, bình dân gọi là Ca Chàm [Kẻ Chàm] ghi lại hoạt động truyền giáo ở Kẻ Chàm, tức thủ phủ Quảng Nam Dinh ; Phần ba, « Residentia Nuocman, vulgò Pullocambi » [3] (Cư sở Nước Mặn, bình dân gọi là Pullocambi), kể lại việc truyền giáo ở Nước Mặn, tức vùng Qui Nhơn ngày nay [4]. Sau đây là những chữ quốc ngữ, phần nhiều là địa danh, trong bản tường trình của Gaspar Luis.
Dinh Cham, Cacham : [5] Dinh Chàm, Ca Chàm (Kẻ Chàm).
Nuocman, Quanghia, Quinhin, Ranran [6] : Nước Mặn, Quảng Nghĩa, Qui Nhơn, Ran Ran (Đà Nẵng).
Bendâ [7] : Bến Đá. Một làng cách Qui Nhơn ngày nay chừng 80 cs về phía Bắc. Năm 1622 Bến Đá mới làm nhà thờ.
Bôdê [8] : Bồ Đề. Một làng ở phía Nam Bến Đá. Giáo hữu ở Bồ Đề góp công của dựng một nhà thờ mới. Khi các Linh mục đến dâng Thánh Lễ, dân chúng tới tham dự rất đông.
Ondelimbay : « Horum princeps hoc anno fuit Andreas ille, magistratus proenomine Ondelimbay, de quo proximis litteris mentionem fecimus » [9] (Trong số những người cai trị [ở Qui Nhơn] năm nay, có một viên quan chỉ huy của họ tên thánh là An Rê, có chức quan là ông Đề lĩnh Bẩy, [10] mà trong những thư từ gần đây tôi đã nhắc tới).
Ondelim, Ondedoc : « Etenim rex ob exationem prosperè confectam, mutato Andreae titulo Ondelim, appellari jussit Ondedoc, maiori dignitatis gradu, ac reliquis universae provinciae praeesse Mandarinis » [11] (Vì vua [Chúa Nguyễn Phúc Nguyên] muốn hoàn thành [công việc] cho thịnh vượng, nên đã truyền đổi tước hiệu của An Rê là ông Đề lĩnh ra ông Đề đốc, một cấp bậc lớn hơn và ông được đứng đầu các Quan trong tỉnh [12]).
Unghe chieu : « Alius hoc anno mandarinus ad Ecclesiam ascriptus est, patrio nomine Unghe chieu, christiano Ignatius » [13] (Năm nay một viên quan tên là Ông nghè Chiêu [14] đã gia nhập Giáo Hội có tên là thánh Y Nhã).
Nhit la Khaum, Khaum la nhit [15] : Nhất là không, không là nhất.
❀ ❀ ❀
[1] Emmanuel FERNANDES, Thư viết tại Hội An ngày 2-7-1625, bằng chữ Bồ Đào Nha, gửi cho Bề trên Cả Dòng Tên ở La Mã, ARSI, JS. 68, f. 15rv.
[2] Để vị Bề trên Cả hiểu biết hoạt động của các tu sĩ, hàng năm Bề trên mỗi nhà Dòng phải gửi một bản tường tình về La Mã. Ngày nay vẫn còn giữ như vậy.
[3] Pullocambi : Một đảo đối diện với Nước Mặn và Nước Ngọt.
[4] Gaspar LUIS, Cocincinae Missionis annuae Litterae, Anni 1625. Ad R.P.N. Mutium Vite’leschium Societatis Jesu Proepositum Generalem, ARSI, JS. 71, f. 56r-71r. Ba cư sở Dòng Tên ở Đàng Trong được thành lập vào những năm sau đây : Hội An : 1615-1616, Nước Mặn : 1618, Kẻ Chàm :1623.
[5] Ibid., f. 61r.
[6] Ibid., f. 64v-65r.
[7] Ibid., f. 65v.
[8] Ibid., f. 66r.
[9] Ibid., f. 66v.
[10] Theo tài liệu này thì tên vị quan như sau : Đề lĩnh là chức quan, An Rê là tên thánh, Bẩy là tên riêng, tức phải gọi là ông Đề lĩnh An Rê BẨY.
[11] Gaspar LUIS, Ibid., f. 67r.
[12] Tác giả gọi Qui Nhơn là tỉnh, nhưng vào năm 1625-1626, Qui Nhơn vẫn chỉ còn là một Phủ, tuy là Phủ rất rộng lớn.
[13] Gaspar LUIS, ibid., f. 67r.
[14] Chúng tôi không rõ phải viết là Chiêu, hay Chiểu, hay Chiếu.
[15] Gaspar LUIS, ibid., f. 70rv.