Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ 1620-1659

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 51 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tài Liệu Năm 1621 Của Cristoforo Borri
Tài Liệu Năm 1621 Của Cristoforo Borri

❊ ❊ ❊

Trước khi bàn tới tài liệu của Cristoforo [1] Borri, thiết tưởng nên biết qua tiểu sử của ông, vì ông là người Tây phương đầu tiên đã viết và cho xuất bản một cuốn sách khá dài về xứ Đàng Trong đầu thế kỷ 17.

Cristoforo Borri (1583-1632) sinh tại Milan, gia nhập Dòng Tên ngày 16-9-1601. Năm 1615 ông đi Đông Á truyền giáo, nhưng chúng tôi không rõ ông tới Áo Môn vào năm nào.

Chỉ biết năm 1618 Borri phải tàng hình bồi tầu đi thương thuyền Bồ Đào từ Áo Môn tới Đàng Trong cùng chuyến với Lm. Pedro Marques. Ngay năm đó Borri theo hai Lm. Buzomi và Pina đến lập cơ sở truyền giáo ở Nước Mặn. Năm 1621, Borri rời Nước Mặn và cũng rời Đàng Trong luôn để về Áo Môn. Năm 1623 người ta thấy ông có mặt ở Goa. Sau đó ông về Bồ Đào Nha dạy Toán tại trường Đại học Coimbra. Tuy Borri chỉ sống ở Đàng Trong có 3 năm, nhưng ông khá thành thạo tiếng Việt và hiểu biết nhiều về xứ này. Borri lại rất giỏi về Toán, Thiên văn và khoa Hàng hải. Khi vua Philipphê nước Tây Ban Nha nghe biết Borri đang nêu nhiều thuyết mới ở Coimbra, liền vời ông sang Madrid để trình bày những khám phá của ông.

Chính Borri đã viết một cuốn sách bằng Bồ ngữ bàn về nghệ thuật đi biển [2], nhưng cho đến nay cuốn sách chưa được xuất bản mà vẫn còn nằm ở Evora (Bồ Đào). Ông cũng viết cuốn sách chỉ dẫn đi Ấn Độ [3] bằng tiếng Ý, nhưng chưa soạn xong. Cuốn sách của Borri làm chấn động dư luận lúc đó hơn cả viết về Ba tầng trời : khí, hành tinh, thiên khung [4]. Sách soạn bằng La ngữ và mãi khi ông qua đời được 9 năm rồi mới xuất bản. Năm 1631, Borri cho ấn hành ở Lisboa một tập về Thiên văn soạn bằng La ngữ [5].

Khi Borri ở Coimbra và Madrid nêu ra chủ thuyết ba tầng trời gây xôn xao trong nhiều giới, nên Lm. Vitelleschi Bề trên Cả Dòng Tên phải gọi ông về La Mã. Có lẽ cũng vì vậy một phần mà vào khoảng đầu năm 1632 ông xin xuất Dòng Tên, để vào tu trong Dòng « Bernardins de Ste Croix de Jérusalem » ở La Mã ; nhờ có phép đặc biệt của Tòa Thánh, chỉ sau ba tháng Nhà Tập, ông được phép khấn trong Dòng đó. Nhưng ông lại không khấn, nên tự ý xin ra khỏi Dòng này, rồi xin gia nhập tu viện Xi tô cũng ở La Mã. Tu được mấy tháng, Borri bị nhà Dòng trục xuất, ông liền kiện nhà Dòng và ông đã thắng kiện. Trong khi đi báo tin mừng đó cho một vị giám chức ở La Mã, thì ông bị chết giữa đường ngày 24-5-1632 [6].

Bây giờ chúng ta nhìn vào cuốn sách của Borri viết về Đàng Trong để trích ra những chữ quốc ngữ trong đó. Cuốn sách được xuất bản [7] lần đầu tiên bằng Ý ngữ năm 1631, cùng năm đó sách được dịch ra Pháp ngữ đồng ấn hành tại Lille và Rennes, đến năm 1632 lại được dịch ra La ngữ xuất bản ở Vienne, cũng năm 1632 được dịch ra tiếng Hòa Lan xuất bản ở Louvain, năm 1633 lại dịch ra Đức ngữ xuất bản ở Vienne và một bản Anh ngữ tại Luân Đôn. Năm 1704 một bản dịch mới bằng Anh ngữ được xuất hiện trong tuyển tập Churchill. Năm 1811, tuyển tập du hành của Pinkerton [8] in lại hoàn toàn bản dịch trong tuyển tập Churchill. Năm 1931, ông Bonifacy lại dịch từ bản tiếng Ý sang Pháp văn và cho in trong Bulletin des Amis du Vieux Hué [9].

Tuy cuốn sách của Borri được in lần đầu tiên bằng tiếng Ý năm 1631, nhưng phải hiểu là những chữ quốc ngữ trong đó là thứ chữ ông viết vào năm 1620-1621. Bởi vì Borri bỏ Đàng Trong hoàn toàn năm 1621, và khi ông về Âu châu chắc không sửa lại những chữ Việt trước khi đem xuất bản. Vậy chúng ta phải coi thứ chữ quốc ngữ này là vào năm 1621. Có một điều cũng nói rõ ở đây là, những chữ quốc ngữ trong sách của Borri sự thường không đúng hoàn toàn với những chữ trong bản thảo của ông, bởi vì nhà in không có những dấu chữ quốc ngữ mà rất có thể Borri đã dùng lúc soạn thảo. Tiếc rằng chúng ta không có chính bản viết tay của Borri để trình bày. Dưới đây chúng tôi xin căn cứ theo cuốn sách của Borri nhan đề Relatione della nuova Missione... in tại La Mã năm 1631, rút ra những chữ quốc ngữ trong đó. Chúng tôi xin bỏ qua việc ghi lại các số trang có chữ quốc ngữ, vì không cần.

Anam : An Nam.

Tunchim : Đông Kinh.

Lai : Lào. Nước Lào.

Ainam : Hải Nam. Đảo Hải Nam.

Kemoi : Kẻ Mọi. Xứ Mọi ở Cao nguyên Trung phần.

Sinuua : Xứ Hóa (Thuận Hóa).

Cacciam : Ca Chàm (Kẻ Chàm, thủ phủ Quảng Nam Dinh).

Quamguya : Quảng Nghĩa.

Quignin : Qui Nhơn.

Renran : Ran Ran, tức sông Đà Rằng miền Phú Yên.

Dàdèn, Lùt, Dàdèn Lùt : Đã đến lụt, Đã đến lụt.

Nayre : Nài, Nài voi.

doij : đói.

scin mocaij : xin một cái. Cho tôi xin một cái.

chià : trà. Uống trà, cây trà.

Sayc Kim : Sách Kinh. Tứ Thư, Ngũ Kinh.

Sayc Chiu : Sách chữ.

Cò : Có

Con gnoo muon bau tlom laom Hoalaom chiam : Con nhỏ muốn vào trong lòng Hoa Lang chăng. Người thông ngôn đã dùng lầm những tiếng đó để hỏi một người khác có muốn gia nhập đạo Công giáo không. Vì thời ấy một số người hiểu lầm, gọi đạo Công giáo là đạo Hoa Lang, mà đạo Hoa Lang có nghĩa là đạo Bồ Đào Nha. Sở dĩ có danh từ Hoa Lang là vì, theo sự hiểu biết của chúng tôi, khi người Bồ Đào tới Đàng Trong bán một thứ vải có in hoa giống như Hoa Lang, vì thế người ta gọi những thương gia ấy là người Hoa Lang. Các nhà truyền giáo đến Đàng Trong vào đầu thế kỷ 17 cũng bị dân chúng gọi là người Hoa Lang, tức là người Bồ Đào Nha, mặc dầu vào năm 1618 đã thấy những nhà truyền giáo Nhật, Ý, Trung Hoa tới Đàng Trong [10].

Muon bau dau christiam chiam : Muốn vào đạo Christiang chăng. Vì thấy người ta hiểu lầm về đạo Công giáo, nên Lm. Buzomi đã tìm được câu trên đây thay vào câu kia, để hỏi người Việt mỗi khi họ muốn vào đạo Công giáo.

Onsaij : ông Sãi.

Quanghia : Quảng Nghĩa.

Nuoecman : Nước Mặn.

Da, an, nua, Da, an, het : Đã ăn nửa, Đã ăn hết. Khi có nguyệt thực, dân quê Việt Nam tin là có gấu ăn trăng.

Omgne : Ông Nghè.

Tuijciam, Biet : Tôi chẳng biết.

Onsaij di Lay : ông Sãi đi lại, hay là ông Thầy đi lại. Khi người Việt thấy các Lm. Tây phương cứ đi đi lại lại, thì họ nói thế. Việc đi đi lại lại cho khỏe, người Việt Nam ngày xưa không có thói quen này. Cũng nên biết rằng, thời đó dân chúng gọi các Linh mục là Thầy và đọc trại đi là i. Dân chúng cũng gọi các nhà sư (Thầy) là Sãi.

Bancò : Bàn cổ, ông Bàn cổ.

Maa : Ma. Ma quỉ.

Maqui, Macò : Ma quỉ, Ma quái.

Bũa : Vua.

Chiuua : Chúa.

❀ ❀ ❀

[1] Về tên Cristoforo có nhiều nơi viết khác nhau, ngay chính trên các bìa sách của ông cũng có khi đề là Christoforo có khi lại đề Christofle như chúng ta sẽ thấy.

[2] Tratado da arte de navegar, pelo Rdo Pe Crìstovão brono, da Companhia, Anno Domini M...

[3] Istruzione par facilitare il viaggio dell’Indie.

[4] BORRI, Doctrina de tribus Coelis, Aereo, Sydereo, et Empireo, Opus Astronomis, Philosophis et Theologis favens, Ulyssipone, 1641, in-4°.

[5] BORRI, Collecta astronomica, ex doctrina P. Christophori Borri, Mediolanensis, ex Societate Jesu..., Ulyssipone, 1631, 470 tr.

[6] Về tiểu sử C. Borri, có thể đọc : SOMMERVOGEL, Bibliothèque de la Companie de Jésus, Nouvelle édition, Louvain, 1960, tìm chữ Borri. - C. B. MAYBON, Notice sur Cristoforo Borri et sur les éditions de sa « Relation », trong báo Bulletin des Amis du Vieux Hué, năm 1931, tr. 269-276.

[7] BORRI, Relatione della nuova missione delli PP. De’la Compagnia di Giesu, al regno della Cocincina, scritta dal Padre Christoforo Borri Milanese della medesima Compagnia, Roma, 1631, in-12°, 231 tr. - BORRI, Relation de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au royaume de la Cochinchine. Traduite de l’Italien du Père Chritofle Borri Milanios, qui fut un des premiers qui entra en ce Royaume. Par le Père Antoine de la Croix, de la mesme Compagnie. A Lille, De l'Imprimerie de Pierre de Rache, à la Bible d’Or, 1631, in - 12°, 233 tr. - về bản Pháp văn in ở Rennes cũng do Antoine de la Croix dịch, đầu đề bìa sách cũng như cuốn xuất bản ở Lille, chỉ khác là do nhà xuất bản Jean HARDY. - BORRI, Relatio de Cocincina R.P. Christophori Borri e Societate Jesu, ex Italico latine reddita pro strena D.D. Sodalibus Inclytae Congregationis Assumptae Deiparae in Domo Professa Societatis Jesu Viennae Austriae. Excudebat Michael Rictius, in novo mundo, 1632, in - 8°, 142 tr. - BORRI, Historie van eene nieuwe Seyndinghe door de Paters der Societeyt Jesu in’t ryck van Cocincina. In’t Italiaens gheschreven door P. Christophorus Borri Melanois... Ende verduytscht door P. Jacobus Susius der selve Societeyt, Tot Loven, 1632, in - 12°, 203 tr. - BORRI, Relation von dem newen Konigreich Cochinchina... aus dem Welsch und Latein verseuscht Gedruckt zu Wien in Oesterreich bey Michael Riekhes, 1633, in - 8°, 142 tr. - BORRI, Cochinchina containing many admirable Rarities and Singularities of that countrey. Extracted out of an Italian Relation, lately presented to the Pope, by Christophoro Borri, that lived certaine years there. And published by Robert Ashley, London, 1633.

[8] A general collection of the best and most interesting Voyages and travels in all parts of the World... by Pinkerton, London, 1811, vol. IX, tr. 771-828.

[9] Lt Col. BONIFACY trong BAVH, 1931, tr. 277-405.

[10] Về vấn đề Hoa Lang xin coi thêm : - RHODES, Cathechismus, tr. 25. - M. SACCANO, Relation des progrès de la foi au royaume de la Cochinchine, tr. 2-3. - L.A. PONCET, L'un des premiers annamites, sinon le premier, converti au catholicisme, BAVH, tháng 1-3 năm 1941, tr. 85-91. - L. CADIÈRE, ibid., tr. 95-96. - ARSI, JS. 89, f. 545r - 547r. - NGUYỄN-HỒNG, Lịch sử Truyền giáo ở Việt nam, quyển 1, tr. 23, chú thích 4.

HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG ebook©MotSAch —★— vte-4u© Nhà xuất bản : ANTÔN . ĐUỐC SÁNG, SAIGON 1972
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Đỗ Quang Chính, Sj.

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.