Tài liệu là một bức thư của Thày giảng Igesico Văn Tín viết ngày 12-9-1659, hiện lưu trữ tại Văn khố Dòng Tên La Mã [1]. Thật ra, tác giả không xưng mình là Thầy giảng [2], nhưng qua các ý tưởng trong thư, chúng ta có thể đoán như vậy. Igesico Văn Tín gồm hai tên : tên thánh và tên « tục ». Tên Igesico [3] hay Iglésis, Iglesias, là một thứ mà ngày nay hiếm người mang tên đó, kể cả người Âu châu. Khi Văn Tín gia nhập Giáo hội Công giáo mới bắt đầu mang tên Igesico. Còn chính tên họ của Văn Tín là gì không được ghi lại, vì cứ theo chữ ký của ông, chỉ có hai chữ Việt là Văn Tín. Khi biên thư này, tác giả được bao nhiêu tuổi, sinh quán ở đâu, hoạt động ra sao, chúng tôi không rõ. Trong sổ bộ các Thầy giảng Đàng Ngoài năm 1637 do Lm. Gaspar d’Amaral ghi lại [4], không thấy dấu vết gì về Văn Tín.
Khi biên thư, tác giả đã đề ngày tháng năm rõ ràng bằng chữ thường ở hai dòng cuối cùng, tức là ngày « muờy hay thánh chinh D. C. J. ra dờy một nghìn sáu tram nam muơy chinh ». Còn về nơi viết, tác giả không ghi lại, tuy nhiên người ta có thể hiểu được rằng, ông viết ở Kẻ Vó (Đàng Ngoài) hoặc một nơi gần đó, vì ông nhắc tới nhiều tin xảy ra ở Kẻ Vó, nơi đây Lm. Marini (người nhận thư) đã ở khá lâu. Chính trong bức thư của Bento Thiện gửi cho Marini cùng năm 1659 mà chúng tôi sẽ bàn tới, cũng nhắc đến việc Marini ở Kẻ Vó và những tin tức nơi này. Về người nhận thư, dầu Văn Tín không viết rõ như trong bức thư của Bento Thiện, nhưng người ta cũng hiểu ngay là ông viết cho Lm. Marini, lúc đó đã rời Áo môn đi La Mã.
Bức thư gồm hai trang giấy : trang nhất viết trong khổ 17 X 25 cm có 34 dòng chữ cỡ trung bình, trang hai trong khổ 16 X 9 cm, có 11 dòng chữ, kể cả dòng chữ ký tên. Mời bạn đọc theo dõi bức thư của Igesico Văn Tín, sẽ biết nội dung, hiểu được trình độ chữ quốc ngữ và cách hành văn của ông.
« Lậy ơn Đức Chúa Trời phù hộ Thầy [5] bằng an lành linh hồn và xác. Từ năm Thầy trẩy về khỏi, thì hai Thầy ở lại chịu nhiều sự khó lắm [6], thì rằng [dầu hai thầy] chẳng có trẩy về [Áo Môn] song le cũng như về vậy [7], mà các Thầy trẩy về đến Macao thì đã xong. Song le hai Thầy hai Thầy [8] ở bên này [Đàng Ngoài] thì những chịu khó liên. Năm sau [9] Thầy cả [10] Miguel [11] lại đến, thì nói những sự các Thầy phải tòng chịu khó là thế nào ; tôi nghe rằng, Thầy chịu khó từ Hải Nam cho đến Macao thì tôi đau đớn ; mà ngờ là Thầy ở nghỉ [lại] Macao, chẳng hay ý Đức Chúa Trời cho Thầy chịu khó hơn nữa là trẩy đi đàng xa khách [cách] trở [12], lòng tôi càng trông nhớ Thầy liên. Đoạn [sau khi] tầu trẩy về [13] thì tôi ước rằng còn Thầy ở Macao, lòng tôi muốn trẩy sang mà theo Thầy. Song le Thầy đã trẩy khỏi [14], thì tôi bây giờ như con mất cha, mà trăm đàng thì cậy một Thầy cả ở bên này [15]. Người bảo tôi rằng, ngày sau tầu Olan [16] trẩy về bên ấy [Âu châu] thì sẽ viết một lời sang hầu Thầy. Ơn Thầy xưa dạy dỗ tôi nhiều đàng, cho nên thành mà ráp cậy Thầy ; cho nên chẳng hay bây giờ vắng Thầy, tôi càng buồn hơn nữa, mà ao ước cho được thấy mặt Thầy như con trông mẹ về cho được bú vậy. Muốn cho người ta được ơn Thầy nữa, chẳng hay Đức Chúa Trời chẳng cho, mà mở lòng cho Thầy đi phương khác [17] thì hầu biết làm sao được [18]. Ơn Thầy thương lấy tôi cùng, vì là kẻ có tội nhiều, chẳng đáng ở gần Thầy, thì phải làm một lời bằng thay mặt [19]. Tôi kính lậy Thầy vậy.
« Sau nữa, sự bổn đạo bên này thì Thầy biết hết, cùng mọi sự khác đã có thư Thầy cả [Borgès] gưởi cho Thầy được biết, tôi hầu nói làm chi, cùng đã có thư nói trước. Sau nữa [ở] Kẻ Vó, ông Chưởng Minh nên [lên] hai cái [mụn] độc lắm, mà người đã biết mình chẳng đã, thì mời Thầy rửa tội cho tên là Josaphat, đoạn liền sinh thì [20]. Mà con ông ấy tên [thánh] là Vito, Đức Chúa lại cho chức cha [ông] ấy là ông Chưởng Minh [21]. Còn sự ông Chưởng Trà thì đã có đạo cùng tên thánh ngày trước [22], song le chẳng giữ [đạo], nên liền phải liệt, [ông] chẳng cho bổn đạo đến cầu [nguyện] cho, liền mời bên đời đến chữa chẳng khỏi, mấy ngày [sau] liền chết [23] ; mà những họ hàng nhà ông ấy cùng anh em chung nhau làm quan hãy còn cầu nguyện [24], đến rầy chửa xong, cùng nhà thờ trong ấy thì nó làm hư hết [25]. Ấy là sự bên này thì làm vậy.
« Còn sự Thầy cả Miguel ở Roma về mà đi tìm vua Vĩnh lịch, chẳng hay có giặc hu nu [26] đến phá dấy, mà vua chạy lên len (?) rừng [27] mà người đi tìm chẳng được, lại trở lại đấy, giờ là Văn Hương Chu [28]. Người [Boym] có [viết] thư cho Thầy cả mà xin xuống Kẻ chợ [29]. Thầy cả liền dõi lệnh Chúa, Đức Chúa có cho xuống chăng [30], song le Đức Chúa chẳng cho. Người [Boym] ở đấy độc nước, phải liệt, mà lại có thư cho Thầy cả. Bây giờ Thầy đi thăm ông Già Hán, ông ấy cũng chẳng cho [31]. Đoạn cắt hai người lên thăm trên ấy, chẳng hay người đã sinh thì khỏi [32]. Lòng Thầy cả tiếc cùng thương lắm [33]. Ấy là bấy nhiêu. Đức Chúa Trời trả công cho Thầy đời này và đời sau. Mười hai tháng chín Đức Chúa Jêsu ra đời một nghìn sáu trăm năm mươi chín [34].
Tôi là Igesico Văn Tín »
❀ ❀ ❀
[1] ARSI, JS. 81, f. 274rv.
[2] Thầy giảng là cấp bậc cao nhất trong bốn cấp « Dòng tu » Thầy giảng, được Đắc Lộ thành lập năm 1630 và được Gaspar d’Amaral hoàn thành năm 1637. Ba cấp dưới là Kẻ giảng, Cậu và Ông già.
[3] Ông Hoàng xuân Hãn đã ghi lại là Igessio, nhưng theo nhận định của chúng tôi, thì tác giả viết là Igesico (HOÀNG XUÂN HÃN), Một vài văn kiện bằng quốc âm tàng-trữ ở Âu châu, báo Đại-học, số 10, tháng 7-1959, tr. 109.
[4] Real Academia de la Historia de Madrid, Jesuitas, Legajo 21 bis, Fasc. 16, f.31-38v.
[5] Thầy : Igesico Văn Tín gọi L.m. Marini là Thầy. Thời ấy các giáo hữu Việt Nam gọi các Linh mục là Thầy, vì họ kính trọng các ông như bậc Thầy (ít khi họ gọi các Linh mục là Cha như ngày nay). Đối với xã hội Việt nam, tam bộ « quân sư phụ » rất quan trọng : trước hết là Vua, sau đến Thầy rồi mới đến Cha sinh ra mình.
[6] Tháng 7-1658, L.m. G. F. de Marini cùng với 6 L.m. Dòng Tên khác (3 người Ý : J. Agnès, C. de Rocha, A. Lubilli ; 1 người Áo Môn : B. d’Oliveira ; 1 người Pháp : P. Albier ; 1 người Bồ Đào Nha : F. Rangel) bị Chúa Trịnh Tạc trục xuất ra khỏi Đàng Ngoài, nên các ông đều lên tầu buôn Bồ Đào Nha về Áo Môn. Trịnh Tạc chỉ cho hai Linh mục ở lại như tác giả viết trong thư, đó là Onuphre Borgès (1614-1664), người Thụy Sĩ, đến Đàng Ngoài từ năm 1640, được Chúa Trịnh Tạc mến yêu và Joseph Tissanier (1618-1688) tới Đàng Ngoài năm 1658 (coi tiểu sử ở chương một). Đến ngày 12-11-1663, hai Linh mục này cũng bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài. Tuy năm 1658 hai ông được Trịnh Tạc ban đặc ân ở lại trong xứ, nhưng bị cấm không được đi khỏi thủ đô Thăng Long. Vì vậy, Văn Tín nhắc đến việc hai ông « chịu khó liên ».
[7] Tác giả hết sức bi quan, vì cho rằng, hai L.m. Borgès và Tissanier dầu đang có mặt ở Đàng Ngoài, nhưng cũng coi như là về Áo Môn rồi, bởi không được đi thăm viếng các giáo hữu ngoài thủ đô. Thật ra, hai ông vẫn còn được xê dịch trong Thăng Long, giúp đỡ các giáo hữu về mặt tinh thần. Năm 1660, nhân dịp ngày đầu Xuân Nhâm Tý, hai ông cũng mặc áo thụng mầu tím, đội mũ lục lăng, đến lậy Chúa Trịnh 4 lậy để dâng tuổi Chúa. Tới ngày 5 tháng 3 năm Nhâm Tý, đời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Vĩnh Thọ, tức vào tháng 4-1660, hai Linh mục này có dự lễ rước Vía Chúa Trịnh Tạc dịp khánh đản của ông, sau đó được Chúa mời dùng yến tiệc (hai ông ngồi một mâm riêng) ngang hàng với các quan đại thần (TISSANIER, Relation du voyage, tr. 273-276).
[8] Tác giả viết hai lần chữ hai Thầy.
[9] Tác giả nhớ lầm, thay vì viết năm ngoái hay năm trước, tức là 1658, thì ông lại viết năm sau. Bởi vì L.m. Miguel tới Đàng Ngoài vào tháng 8-1658.
[10] Thầy cả : Như chúng ta đã biết, lúc đầu các giáo hữu Việt Nam thường gọi các Linh mục là Thầy ; nhưng từ năm 1630 trở đi là lúc lập « Dòng tu » Thầy giảng ở Đàng Ngoài, thì những tu sĩ ở bậc cao nhất trong « Dòng tu » này cũng được gọi là Thầy. Vì thế để phân biệt Thầy giảng với các Linh mục, người ta gọi các L.m là Thầy cả, có nghĩa là lớn hơn các Thầy giảng. Nhưng khi đối thoại với các Thầy cả, thì chỉ xưng vắn tắt là Thầy, còn khi nói rõ đến một Linh mục nào thì thường thường người ta nói rõ là Thầy cả, để phân biệt hoàn toàn với Thầy giảng.
[11] Miguel tức là Miguel BOYM (1612-1659) sinh tại Ba Lan, thuộc gia đình quý phái, thân sinh là một Bác sĩ gốc người Hung Gia Lợi, nhưng ông bà của Boym đã đến lập cư ở Ba Lan. Miguel Boym gia nhập Dòng Tên tại Cracovie ngày 16-8-1631, đến Áo Môn năm 1642. Boym tới Đàng Ngoài lần thứ nhất vào năm 1645, nhưng hai năm sau ông bỏ xứ này về Áo Môn. Năm 1651, ông theo lời yêu cầu của « Hoàng Thái Hậu » Ning Cheng-tze, tới La Mã để trình bày vấn đề rối loạn ở Trung Hoa. Năm 1656, Boym đáp tầu từ Lisboa đi Xiêm. Từ xứ này, ông theo tầu buôn của người Trung Hoa đi Áo Môn, mà viên hoa tiêu là người Hòa Lan. Giữa hải trình bị bão, các thủy thủ Trung Hoa liền ném hết ảnh tượng của Boym xuống biển để cúng hải thần, song bão gió vẫn không ngớt, nên họ định quẳng chính Boym xuống biển hầu làm nguôi cơn giận của hải thần. Cũng may họ không thi hành ý định, nhờ đó Boym được thoát nạn. Tuy hải trình vắn, nhưng cuộc hành trình từ Xiêm tới Áo Môn phải mất hai tháng vì gió bão gây ra. Từ Áo Môn, Boym không thể vào lục địa Trung Hoa được, vì quân nhà Thanh đã chiếm được Quảng Châu rồi. Do đó Boym phải đến Đàng Ngoài để tìm cách đi Trung Hoa gặp vua nhà Minh là Vĩnh Minh vương. Boym tới Đàng Ngoài hồi tháng 8-1658. Khi ở Áo Môn. Boym được gặp Marini cùng 6 Linh mục Dòng Tên khác vừa từ Đàng Ngoài về, nên ông mới biết tầu chở các Linh mục đó bị bão lớn ở đảo Hải Nam, rồi thuật truyện lại cho Onuphre Borgès và Joseph Tissanier. Từ Đàng Ngoài, Boym đi Quảng Tây gặp vua nhà Minh, nhưng vua đã bị hại. Boym chết vì nước độc tại biên thùy Hoa Việt ngày 22-8-1659.
[12] Khi Văn Tín viết thư này, ông được tin Marini đã đi La Mã dự đại công nghị thứ 11 của Dòng Tên (9-5 đến 27-7-1661), nên ông rất buồn.
[13] Tác giả nhắc lại việc chiếc tầu chở Marini cùng 6 Linh mục Dòng Tên khác từ Đàng Ngoài về Áo Môn vào tháng 7-1658.
[14] Marini đã bỏ Áo Môn đi La Mã.
[15] Thầy cả ở bên này tức là Onuphre Borgès.
[16] Olan bởi chữ Bồ Đào Nha Holanda, có nghĩa là nước Hòa Lan. Tuy chữ Holanda viết như thế, nhưng người Bồ Đào đọc là ôlãda. Do đó Văn Tín cũng theo Bồ Đào mà đọc và viết tắt là Olan.
[17] Thầy đi phương khác : Marini về La Mã, tức là bỏ phương Đông về phương Tây.
[18] thì hầu biết làm sao được : thì biết làm sao được.
[19] thì phải làm một lời bằng thay mặt : Văn Tín phàn nàn vì không được ở gần Marini, nhưng bù lại, ông phải viết một lá thư, dùng lời lẽ thay mặt nói chuyện với Marini.
[20] Có lẽ lúc đó Thầy cả Borgès được Chúa Trinh Tạc cho phép đi Kẻ Vó làm bí tích Thánh Tẩy (Rửa tội) cho ông Chưởng Minh. Khi chịu phép Thánh Tẩy, ông Chưởng Minh mang tên thánh là Josaphat. Sau khi được Rửa tội, ông Chưởng Minh sinh thì, có nghĩa là qua đời.
[21] Chúng ta đoán được rằng, ông Chưởng Minh có công lớn với nhà nước, nên sau khi ông qua đời, thì con ông, tên thánh là Vito (không rõ tên Việt) được Chúa Trịnh Tạc cho chức tước như ông Chưởng Minh.
[22] Ông Chưởng Trà đã theo đạo Công giáo, nhưng không giữ đạo, mặc dầu khi ông chịu phép Thánh Tẩy cũng mang tên thánh.
[23] Có lẽ tác giả muốn nói ông Chưởng Trà mời thầy « phù thủy » đến chữa bệnh. Ngày xưa cho đến đầu thế kỷ này, nhiều nơi dân Công giáo dùng danh từ bên đời để chỉ những người không theo đạo Công giáo, còn danh từ bên đạo chỉ người theo đạo Công giáo.
[24] Chúng tôi không hiểu rõ ý tác giả. Có lẽ Văn Tín muốn nói rằng sau khi ông Chưởng Trà chết, anh em nhà ông chung nhau làm ma chay, cho đến nay chưa an táng.
[25] Có lẽ tác giả muốn nói : nhà thờ Công giáo nơi đó đã bị tục hóa, nhưng nơi đó là nơi nào thì không rõ.
[26] hu nu : Giặc Hung nô hay là quân lực Mãn Thanh.
[27] Thực ra, vua Vĩnh lịch trốn sang Miến Điện.
[28] giờ là Văn Hương Chu : Có lẽ Văn Tín muốn nói : nơi Boym đang ở gọi là Văn Hương Chu.
[29] L.m. Miguel Boym đã theo lời yêu cầu của bà Ning Cheng-tze về La Mã trình bày cuộc nổi binh ở Trung Hoa do người nhà Thanh đánh nhà Minh. Ning Cheng-tzi là « mẹ » của vua Vĩnh Minh vương, niên hiệu Vĩnh lịch. Nên nhớ là sau khi vua Tự Tôn nhà Minh tự thắt cổ ở Môi Sơn tại Bắc Kinh năm 1644 vì thua lực lượng Mãn Thanh, thì Trung Hoa vẫn còn rối loạn. Tại Triệu Khánh ở Hoa Nam, Quế vương là Do Lang (Vĩnh lịch) được tôn làm vua năm 1646 (ngày mùng 4 tháng 10 âm lịch). Năm 1659 vua chạy trốn sang Miến Điện, thế là nhà Minh bị diệt hoàn toàn. Bà Ning Cheng-tze đã chịu phép Thánh tẩy có tên thánh là Hà Liên (Hélène), do Linh mục Dòng Tên André-Xavier Koffler, một người Đức giỏi Toán học. Đến năm 1647, bà Ning Cheng-tze cũng lo cho ba người trong hoàng tộc theo đạo Công giáo, đó là hoàng thái hậu Maria, hoàng hậu An Na và thái tử Công Tăng (Constantin). Ngày 11-5-1650, bà Hà Liên Ning Cheng-tze viết thư cho Đức Giáo Hoàng Innocens X và ngày 4-11-1650 cũng viết thư cho L.m. Bề trên Cả Dòng Tên ở La mã, trình bày việc bà cùng mấy người trong hoàng tộc đã theo đạo Công giáo ; ngoài ra bà cũng nói rõ là L.m. Boym sẽ trình bày với các ngài về tình hình Trung Hoa. Bà trao hai thư cho Miguel Boym để ông đích thân đem về La Mã. Lúc Boym ở La Mã trở lại Trung Hoa cũng mang hai bức thư của Đức Giáo Hoàng A Lịch Sơn VII (Innocens X qua đời năm 1655, A Lịch Sơn VII làm Giáo Hoàng từ 1655-1667). Hai bức thư cùng đề ngày 18-12-1655, một gửi cho bà Ning Cheng-tze, một gửi cho Thống Tướng Pan-Achille (đây là tên thánh, không rõ tên Trung Hoa là gì). (Coi : E. DUPERRAY, Ambassadeurs de Dieu à la Chine, Paris, 1956, tr. 38-43). Nên nhớ là, Boym tới Đàng Ngoài tháng 8-1658, nhưng mãi ngày 16-2-1659, Chúa Trịnh Tạc mới cho phép đi Trung Hoa. Khi ông tới Trung Hoa để kiếm vua Vĩnh lịch, thì vua đã phải trốn sang Miến Điện rồi. Sau này người Miến Điện nộp vua Vĩnh lịch cho tướng nhà Thanh là Wou San-kouei. Viên Tướng này đã theo lệnh vua Khang Hi cho thắt cổ vua Vĩnh lịch năm 1663, lúc đó vua Vĩnh lịch được 38 tuổi. Boym định trở lại Đàng Trong, nhưng Chúa Trịnh Tạc không chấp thuận. Có thể coi thêm : Robert CHABRIÉ, Michel Boym, jésuite polonais et la fin des Ming en Chine (1646-1662). Paris, 1933.
[30] Thầy cả liền dõi lệnh Chúa : Thầy cả Borgès liền cố gắng xin Chúa Trịnh Tạc cho phép Boym trở lại Thăng Long (Kẻ Chợ), song Đức Chúa (Trịnh Tạc) không chấp thuận.
[31] Boym phải ở lại Văn Hương Chu trên đất Trung Hoa, sát biên thùy Đàng Ngoài. Boym ở đó bị đau nặng vì nước độc, ông lại viết một thư khác báo tin bệnh trạng của mình cho Borgès biết. Được tin, Borgès xin phép Chúa Trịnh Tạc cho mình được đi thăm ông Già Hán, tức là Manoel Văn Hán, là một người ở trong cấp bậc thấp nhất « Dòng tu » Thầy giảng ; có lẽ lúc đó ông Già Hán cũng ở gần biên thùy Trung Hoa, Borgès xin đi thăm ông Già Hán, để nhân dịp đó thăm Boym, nhưng Chúa Trịnh cũng không cho phép.
[32] Borgès phải cử hai người đi thăm Boym, một trong hai người có tên thánh là Thanh Diêu (Tadeo). Nhưng khi tới nơi (sau tám ngày hành trình) thì Boym đã chết ngày 22-8-1659.
[33] Thầy cả Borgès rất thương tiếc Boym.
[34] Thiết nghĩ, ông Võ Long Tê đã ghi lầm là thư viết ngày « mùng hay thánh chính... ». Thực ra, Văn Tín viết là « mườy hay thánh chinh... ». Do đó, chúng ta phải ghi là tác giả biên thư này ngày 12-9-1659. (Coi : VÕ LONG-TÊ, Lịch-sử Văn- học Công-giáo Việt-nam, C I, Saigon, 1965, tr. 127).