Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ 1620-1659

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 23 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tài Liệu Của Đắc Lộ Viết Năm 1636
Tài Liệu Của Đắc Lộ Viết Năm 1636

❊ ❊ ❊

Cũng may chúng tôi khám phá được một tài liệu viết tay rất dài của Đắc Lộ, tức bản thảo cuốn sách Tunchinensis Historiae libri duo mà phần lớn đã được Đắc Lộ soạn vào năm 1636. Chính bản viết tay quý giá này còn lưu trữ tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã [1], sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn trình độ chữ quốc ngữ của Đắc Lộ.

Chúng ta biết rằng, sau khi Đắc Lộ bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài, ông được chỉ định dậy Thần học tại Học viện « Madre de Deus » ở Áo Môn trong 10 năm trời (1630-1640). Đắc Lộ tự coi như mình bị cầm chân trong 10 năm đó, vì ông muốn trở lại Đàng Ngoài hoạt động truyền giáo như trước, hay ít ra cũng được trở lại Đàng Trong để sống với người Việt Nam. Thật ra nếu Bề trên muốn, thì ông vẫn có thể trở lại Đàng Ngoài được, dầu ông đã bị Chúa Trịnh Tráng trục xuất. Bởi vì nhà cầm quyền Đàng Ngoài chưa có ác cảm với ông nhiều, còn đối với tôn giáo mới là Công giáo, họ cũng không cấm hoàn toàn. Chính vì thế mà vào tháng 3-1631, bốn Linh mục Dòng Tên là Gaspar d’Amaral, André Palmeiro, Antonio de Fontes và Antonio F. Cardim từ Áo Môn đến Thăng Long đã được Chúa Trịnh Tráng tiếp nhận, và ông cho phép hai Linh mục Gaspar d’ Amaral, Antonio F. Cardim được phép ở lại Thăng Long ; tới năm 1632, lại có thêm ba Lm. Dòng Tên khác đến Đàng Ngoài : Raymond de Govea (Tây Ban Nha) và hai người Ý là Bernardin Reggio, Jérôme Mayorica. Vậy nếu Đắc Lộ có trở lại Đàng Ngoài, thì nhà cầm quyền xứ này cũng có thể chấp nhận, ít nhất là trong một thời gian ngắn. Hồi ấy Chúa Trịnh Tráng tiếp nhận các nhà truyền giáo từ Áo Môn tới, không phải vì ông mộ mến đạo Công giáo, nhưng vì thương mại : các giáo sĩ Tây phương có mặt ở Đàng Ngoài làm cho các thương gia Bồ Đào hay lui tới xứ này, nhờ đó Chúa Trịnh Tráng có thể mở ngoại thương với Áo Môn dễ dàng hơn.

Sở dĩ Đắc Lộ phải vắng mặt ở Việt Nam từ 1630-1640 là vì một số tu sĩ ở Áo Môn không đồng ý với ông về ít nhiều thích nghi của ông tại Việt Nam, ví dụ : vấn đề từ ngữ Ki tô giáo, như từ ngữ Đức Chúa Trời Đất, vấn đề lập « Dòng tu », Thầy giảng, việc thích nghi tập tục Việt Nam vào phụng vụ vv... Dầu không hy vọng được trở lại Đàng Ngoài hoạt động, nhưng nhà truyền giáo của chúng ta vẫn luôn luôn muốn hiến đời sống mình cho Giáo hội Đàng Ngoài. Để tỏ lòng tha thiết với xứ này. Đắc Lộ đã soạn một tập lịch sử chính trị, xã hội và Công giáo Đàng Ngoài. Cuốn sách quý giá này được xuất bản tại La Mã năm 1650 và tại Lyon năm 1651, 1652, bằng ba thứ chữ : Ý, Pháp, La tinh. Như thế là bản thảo đầu tiên bằng La văn lại được in sau, tức 1652, còn bản Ý văn in đầu tiên năm 1650 và bản Pháp văn do Lm. Herry Albi dịch (có lẽ dịch từ bản thảo La văn) in năm 1651. Cũng nên biết rằng, cứ theo cuốn Ý văn, không thấy đề tên người dịch như vậy có thể hiểu được rằng, bản Ý văn do chính Đắc Lộ dịch ra từ bản La văn, nhưng không rõ ông dịch bản này khi còn ở Áo Môn, hay trong cuộc hành trình về La Mã (cuối năm 1645 đến giữa năm 1649), cũng có thể là sau khi ông đã về tới La Mã [2].

Nhờ có niên hiệu ghi trên bản thảo, chúng ta biết được Đắc Lộ đã soạn tập này vào năm 1636. Nhưng cuối bản thảo còn có mấy chương viết về tình hình truyền giáo ở Đàng Ngoài đến năm 1646 ; do vậy, có thể hiểu được rằng, sau năm 1636 Đắc Lộ đã viết thêm mấy chương đó và lúc soạn thảo những chương này có lẽ là sau khi tác giả đã về tới La Mã (27-6-1649).

Bản thảo bằng La ngữ gồm 62 tờ, tức 124 trang chữ, trong khổ 14 x 24 cm, mỗi trang trung bình có 43 dòng chữ viết nhỏ li ti. Bản thảo chia làm hai quyển : Quyển I, thuật lại lịch sử tổng quát của Đàng Ngoài về phương diện địa dư, chính trị, hành chính, kinh tế, tiền tệ, thuế má, tôn giáo, văn học, phong tục vv... ; Quyển II, dầy gấp đôi Quyển I, ghi lại lịch sử truyền bá Phúc Âm ở Đàng Ngoài từ 1627-1646.

Sau đây chúng tôi xin ghi lại những chữ quốc ngữ trong bản thảo của Đắc Lộ. Chúng tôi cũng xin bạn đọc miễn cho khỏi ghi số tờ có chữ quốc ngữ, vì nếu ghi lại hết thì quá dài.

Tình trạng « trần thế » nước Đông Kinh [Đàng Ngoài] (De statu temporali regni Tungkin), f. 1r-21v

Tung : Đông. Đông Kinh.

kin : kinh. Đông Kinh.

Annam : An Nam.

Ainam : Hải nam. Đảo Hải Nam.

Chúacanh : Chúa Canh. Có lẽ là Chúa Cao, tức là nhà Mạc cai trị vùng Cao Bằng.

Che ce : Kẻ Chợ. Thủ đô Thăng Long.

Chúa bàng : Chúa Bằng. Đắc Lộ dịch chữ bằng có nghĩa là công bằng ; nhưng thực ra phải dịch là bình an. Vì tác giả gọi Cháu Trịnh Tùng là Chúa Bằng, tức là Bình an vương. Trịnh Tùng qua đời năm Quí hợi (1623) ngày 20 tháng 6 đời Vĩnh tộ.

Chúa oũ : Chúa Ông. Thời đó dân chúng cũng gọi Trịnh Tráng là Chúa Ông.

Chúa thanh do : Chúa thanh đô. Chúa Thanh đô Vương Trịnh Tráng.

uuan : Vương.

min : Minh. Sáng sủa, rõ ràng.

bat min : Bất minh. Không rõ ràng, sáng sủa.

Thời kỳ Chúa Trịnh Tráng, hàng năm cứ vào ngày 6 âm lịch, quân lính ở thủ đô phải đọc lời tuyên thệ trung tín với Chúa. Ai đọc rõ ràng, được phê chữ Minh ; đọc không rõ, phê Bất minh ; đọc rõ vừa phải, phê Thuận.

thuam : Thuận. Người lính tuyên thệ, đọc rõ vừa vừa.

uan : văn. Quan văn.

uu : vũ. Quan vũ, quan võ.

gna ti : Nhà Ti (Ty). Tại mỗi Xứ, có Nhà Ty hay Nha Ty.

gna hien : Nhà Hiến. Tại mỗi xứ có Nhà Hiến hay Nha Hiến.

cai phu : Cai Phủ.

cai huyen : Cai Huyện.

gna huyen : Nhà Huyện.

cai xã : Cai Xã. Người đứng đầu một Xã.

Bua : Vua.

den : Đền. Thi Đền, Thi Đình.

sin do : Sinh đồ. Người đi Thi Hương đậu Sinh đồ.

huan com : Hương cống. Người đi Thi Hương đậu Hương cống.

ten si : Tiến sĩ. Người đi thi Hội đậu Tiến sĩ.

tam iau : Tam giáo. Ba tôn giáo lớn ở Đàng Ngoài : Khổng giáo, Phật giáo, Lão giáo.

dau nhu : Đạo Nho. Đạo Khổng hay Khổng giáo.

dau thic : Đạo Thích. Đạo Thích Ca hay đạo Phật.

Thicca : Thích Ca.

Thiccả : Thích Ca. Trong bản thảo chỉ có chỗ này (f. 12r) Đắc Lộ viết là Thiccả, còn các chỗ khác ông đều viết là Thicca hoặc Thic ca.

sai : Sãi. Các vị Sãi.

sai ca : Sãi Cả. Vị sư đứng đầu nhiều Sư nhiều chùa.

Lautu : Lão Tử.

Giô : Giỗ. Cúng giỗ, làm giỗ, ăn giỗ.

cu hồn : Cô hồn.

ba hôn : Ba hồn.

bai via : Bẩy vía.

chin via : chín vía. Ngày xưa dân Việt cho rằng, đàn ông có ba hồn bẩy vía ; còn đàn bà có ba hồn chín vía. Dịp khánh đản, Chúa Trịnh Tráng tổ chức rước vía long trọng.

dum : Đồng. Ví dụ đặt tên cho một người là Đồng.

QUYỂN HAI

Đức tin Ky Tô bắt đầu [được truyền bá] ở nước Đông Kinh và sự tiến triển [của đức tin] (De Principio ac progressu fidei) (Christianae in Tunchinensi Regno), f. 22r-62v.

cua bang : Cửa Bạng. Thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đắc Lộ và Pedro Marques tới Cửa Bạng ngày 19-3-1627.

phạt, but : Phật, Bụt.

dang : đàng. Đàng đi, hay đường đi.

Ciüa ou : Chúa Ông. Ở đây tác giả muốn nói là Chúa Nguyễn Hoàng.

Ciüa ban uuan : Chúa Bằng vương. Bình an Vương Trịnh Tùng.

Ciüa sai : Chúa Sãi. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên.

Ciüa Canh : Chúa Canh. Có lẽ là Chúa Cao cai trị Cao Bằng.

thinh hoa : Thanh Hóa. Tỉnh hay Xứ Thanh Hóa.

thai : Thầy.

sai vai : Sãi Vãi.

Che bich : Kẻ Vích. Cửa Vích. Theo bản đồ Việt Nam mà Đắc Lộ cho xuất bản, thì ông viết là Cuabic, một cửa sông ở phía Bắc Thanh Hóa.

Che no : Kẻ Nộ. Trong bản đồ của Đắc Lộ ghi là Van-no, tức Vạn Nộ, có lẽ là chính tỉnh lỵ Thanh Hóa ngày nay.

Ghe an : Nghệ An. Tỉnh Nghệ An.

bochin : Bố Chính. Xứ Bố Chính ở phía Nam Nghệ An.

Rum : Rum. Cửa Rum ở Nghệ An.

Image

Kiemthuong : Kiêm Thượng. Chúa Kiêm Thượng Trịnh Tạc, Trịnh Tạc có danh hiệu này đến năm 1652, là năm ông lấy danh hiệu Tây định Vương.

Phuchen : Phúc Chân. Ngày 11-3-1647, Trịnh Tạc nhận Lm. Dòng Tên người Ý là Félix Morelli làm con nuôi. Từ lúc đó Trịnh Tạc cho F. Morelli một tên mới là Phúc Chân.

Sau khi chúng ta đã trích những chữ quốc ngữ trong bản thảo cuốn « Tunchinensis historiae libri duo » viết tay vào năm 1636, bây giờ chúng ta thử đem so sánh với một số chữ quốc ngữ trong ba cuốn sách in tại La mã, Lyon vào các năm 1650, 1651, 1652. Như thế chúng ta sẽ thấy được có những chữ đã in giống với bản thảo 1636, nhưng cũng không thiếu những chữ đã in khác với bản thảo.

Bản viết tay 1636 - Bản Ý in 1650 - văn Bản Pháp Văn in 1651 - Bản La văn in 1652

Tung - Tun - Tun - Tum

kin - Chin - quin - quin

Annam - Annàm - Annam - Annam

Che ce - Chece - Che ce - Chè cè

Chúacanh - Ciuacain - Ciüa Cauh – Ciüa-chanh

Chúa oũ - Ciuaon - Ciua ou - Ciüa ou

Chúa bàng - Ciuàbàng - Ciua bang - Ciua bang

Chúa thanh do - Ciua thanh do - Ciüa thanh do - Ciua Thando

uuan - Vuàn - VVan - Vuan

thuam - Ihuam - thuan - Thuan

uan - Van - Van - Van

uu - Vu - Vu - Vu

gnati - Gnati - Gna to - Gna ti

gna huyen - Gnà huyen - Gna huyen - Gna huyen

Cai Xã - Cai xà - Cai xa - Caixa

huan com - huam Com - Huan Com - huancon

Lautu - Lauta - Lautu - Lautu

cu hồn - Cuhon - Cuhon - Cuhon

phạt - Bhat - Phat - Phat

thinh hoa - Tinhoa - Thin hoa - Thin hoa

sai vai - Say Vay - Saj Vaj - Sai Vai

Ghe an - Ghéan - Ghean - Ghean

Kiemthuong - Kiem Iuonq - Kien Thuong - Kiem thuong

Phuchen - Phuchien - Pluchen - Phucon

❀ ❀ ❀

[1] ARSI, JS. 83 et 84, f. 1-62v.

[2] RHODES, Relazione De’filici successi della Santa Fede Predicata da Padri della Compagnia di Giesv nel regno di Tvnchino, alla santita di N.S.PP. Innocenzio decimo. Di Alessandro de Rhodes avignonese, Roma, 1650, in-4°, 326 tr, kèm theo bản đồ Việt Nam kích thước 12,5 x 18cm. - RHODES, Histoire dv Royavme de Tvnquin, et des grands progrez qve la predication de l’Evangile y a faits en la conuersion des Infidelles. Depuis l’Année 1627 jusques à l'Année 1646. Composée en latin par le R.P. Alexandre de Rhodes, de la Compagnie de Jésvs Et tradvite en françois par le R.P. Henry Albi, de la mesme Compagnie, Lyon, 1651, in-4° 326 tr., kèm theo bản đồ Việt Nam kích thước 12,5 X 18 cm. - RHODES, Tvnchinensis Historiae libri dvo, qvorum altero status temporalis hujus Regni, altero mirabiles evangelicae praedicationis progressus referuntur. Coeptae per Patres Societatis Jesv, ab Anno 1627. ad Annum 1646, Authore P. Alexandro de Rhodes, Auenionensi, ejusdem Societatis Presbytero ; Eorum quae hic narrantur teste oculato, Lyon, 1652, in-4°, Q.I : 89 tr., QII : 200 tr., kèm theo bản đồ Việt Nam kích thước 12,5 X 18 cm.

HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG ebook©MotSAch —★— vte-4u© Nhà xuất bản : ANTÔN . ĐUỐC SÁNG, SAIGON 1972
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Đỗ Quang Chính, Sj.

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.