Mỹ Nhân Bowling Green

Lượt đọc: 34 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Hai
Mùa Xuân Cuộc Sống

❊ ❊ ❊

Ồ, tiếng trống dồn dập cùng tiếng sáo reo vang, những ngày tháng trôi qua mang lại một bầu không khí chẳng có gì là khó chịu đối với giới trẻ New York. Họ tận hưởng cảm giác hồi hộp pha lẫn chút sợ hãi xen lẫn niềm phấn khích tột độ; và trong một khoảng thời gian ngắn, gần như có một sự tự do buông thả theo cơn lốc chính trị và lòng ái quốc. Nhưng đối với những công dân có trách nhiệm hơn, tin chiến tranh lại chẳng lấy gì làm vui vẻ; thực chất, sự khó chịu ấy lớn đến mức chỉ vài ngày trước khi bản tuyên chiến được công bố, hai bản thỉnh nguyện thư đã được đệ trình lên Thượng viện với chữ ký của ba trăm mười công dân New York, cùng hầu hết các hãng buôn lớn, khẩn thiết xin tiếp tục duy trì lệnh cấm vận, “vì họ tin rằng nó sẽ mang lại mọi lợi ích của chiến tranh mà không phải gánh chịu tai họa của nó.” Quan tòa Justice Bloommaert từng là một trong những người đặt bút ký vào bản thỉnh nguyện này, và khi lấy lại được sự bình tĩnh vốn có của một bản tính điềm đạm, ông cảm thấy kinh ngạc lẫn chút bực bội trước sự vội vàng khi mình lại công khai thay đổi quan điểm. Điều đó phần nào thật khó lý giải, và ông lục lọi mọi ngóc ngách thẳm sâu trong tâm hồn để tìm xem điểm yếu đã khởi phát từ đâu.{31} Đó không phải là những lời châm chọc của người vợ hay sự đồng cảm bộc trực hơn từ cô con gái—ông vốn đã quen với những cuộc khẩu chiến ấy, và ông thừa chắc rằng chẳng có lý lẽ thuyết phục nào trong kho vũ khí của họ có thể đẩy ông vào cái sự hấp tấp thiếu suy nghĩ qua bài phát biểu bộc phát tại công viên Bowling Green.

Không, đó chính là “trò của cái tên thanh niên ngốc nghéo ấy, Leonard Murray.” Vị quan tòa đã trở về nhà vào ngày thứ Bảy trọng đại ấy với một cơn giận sục sôi căm ghét nước Anh cùng những chế độ bạo tàn xưa cũ của xứ sở đó. Ông vốn đã bực dọc trước thái độ dửng dưng và những lời tiên tri ảm đạm từ phần lớn bạn bè cùng đồng nghiệp, lại thêm việc mọi tờ báo trong thành phố đều chống lại chiến tranh. Rồi thì, trong lúc vợ và con gái đang kích động tâm trạng bất mãn đầy sốt ruột của ông, ông lại bất ngờ bị đẩy ra tuyến đầu để đứng về phía quan điểm của người khác đồng thời tuyên bố lập trường của chính mình. Ông cảm thấy dường như mình đã bị hoàn cảnh chơi kham và bị ép phải hành động; và chính trẻ tuổi Leonard Murray mới là kẻ phải chịu trách nhiệm cho toàn bộ rắc rối này. Ông chưa bao giờ ưa cha của cậu ta, và vì từng hai lần buộc phải đưa ra phán quyết bất lợi trong các vụ kiện quan trọng chống lại ông ta, vị trưởng tộc nhà Murray đã bày tỏ sự hằn học bằng những cách thức vừa gây khó chịu vừa tổn hại đến người khác. Họ cũng đứng ở hai chiến tuyến chính trị hoàn toàn đối lập, và hơn thế nữa, thời trẻ họ từng là tình địch tranh giành trái tim của người đẹp Carlita Duprey. Giờ đây, đứa con trai của kẻ khó ưa ấy dường như lại kế thừa quyền lực của người cha để ít nhất là tỏ thái độ chống đối ông. Ông tự nung nấu trong lòng một cơn giận ngấm ngầm sục sôi{32} hướng về phía người thanh niên ấy, và ngay lúc đó, ông hạ quyết tâm sẽ chấm dứt mọi quan hệ với cậu ta.

Không phải là ông có ý định rút lại bất kỳ lời nào mình đã thốt ra. Ông tự nhủ ngay lập tức rằng mình chỉ tuyên bố sự thật, và ông sẽ bảo vệ từng câu từng chữ trong bài phát biểu ấy. Nhưng ông ước gì mình đã phát biểu một cách tự nguyện, trong một cuộc họp được triệu tập đàng hoàng, chứ không phải để hưởng ứng lời đề nghị cất lên từ miệng của trẻ tuổi Leonard Murray. Đó chính là vết thương nhói đau khiến ông hầu như chẳng dám chạm vào, ngay cả trong suy nghĩ, mà lập tức quay trở lại với bài phát biểu của mình—giờ đây, khi ngẫm lại, nó mang vẻ khoa trương, rườm rà và ba hoa trống rỗng—hoàn toàn không phải kiểu phát biểu mà ông sẽ đưa ra tại Tòa thị chính hay trước Hội đồng Thành phố bằng bất cứ giá nào, và một cảm giác thẹn thùng nhói buốt chạy dọc sống lưng đáp lại nhận thức ấy. Chính những suy nghĩ tương tự thế này đã cuồn cuộn dâng trào với sức mạnh đầy cảm xúc trong tâm trí ông khi ông đứng vào chiều thứ Tư tuần sau đó trên những bậc thềm của Tòa thị chính.

Một cuộc họp công khai vừa diễn ra tại công viên nhằm hưởng ứng biện pháp chiến tranh, nhưng số người tham dự vô cùng thưa thớt; và khi đám đông ồn ào tản đi, chủ yếu dọc theo các ngả phố Broadway, ông mơ hồ chẳng biết nên vui hay nên buồn trước thất bại ấy. Tác phong náo động của đám thanh niên trong thành phố khiến ông chướng tai gai mắt, và nhìn chung, những người từng trải, giàu có vững vàng và có thế lực chính trị đều đã phớt lờ lời kêu gọi tham gia cuộc họp này. Bởi vì đó là một lời kêu gọi của phe Dân chủ, trong khi New York vào thời điểm ấy lại chính là thành trì vững chắc của phu nhân phái Liên bang.

Ông đứng lại vài phút để cân nhắc xem con đường nào có lẽ sẽ là lối đi yên tĩnh nhất để về nhà, và khi nhìn thấy đại lộ Broadway ngập tràn các đoàn hành quân, ai nấy đều cất tiếng hát ca và hò reo vang dội, ông bèn rẽ vào phố Nassau, với hy vọng tránh được những tiếng hoan hô cùng sự chú ý mà tấm lòng đồng cảm bộc trực của ông vừa mang lại. Trên một đoạn đường dài, bầu không khí tương đối yên tĩnh, nhưng khi đến đoạn giữa phố Garden và phố Beaver, ông thấy một đoàn người trông có vẻ như một đại đội đầy đủ đang tiến lại gần. Họ bước đi kiêu hãnh theo âm nhạc của khúc hành khúc “The President’s March”, và trong mắt Bloommaert, con phố hẹp ngập tràn những lá cờ đang phấp phới bay.

Không còn lối nào để thối lui, ông đành mang vẻ mặt uy nghiêm cùng dáng điệu tự tin—vừa là thứ vũ khí vừa là chiếc áo giáp quen thuộc của ông. Ông hy vọng sẽ đi qua mà không bị chú ý, nhưng khi đoàn người tiến lại gần, họ liền dừng bước theo khẩu lệnh. Tên ông được gọi lên. Buộc lòng ông phải ngước mắt nhìn lên, và ngay lập tức mọi chiếcếc mũ đều ngả rạp bày tỏ sự kính trọng. Ông có thể làm gì đây? Một số người trong số đó chính là những kẻ mà ông từng cất lời diễn thuyết và khơi gợi sự nhiệt huyết vào chiều thứ Bảy tuần trước. Bản tính cao thượng nhất trong con người ông bỗng trỗi dậy. Ông giơ tay chào đáp lễ, chúc họ “Thượng lộ bình an,” rồi rẽ bước đi tiếp, nhưng không kịp tránh khỏi việc nhận ra gương mặt hạnh phúc đầy đắc thắng của vị đại đội trưởng của họ, Leonard Murray.

“Lại là cái gã đó!” ông lầm bầm, và trong suốt quãng đường còn lại, ông chẳng tài nào gạt bỏ “gã đó” ra khỏi ký ức. Ông đi ngang qua ngôi nhà của mẹ mình nhưng không bước vào, bởi vì đã gần đến giờ ăn tối, và ông hy vọng nơi không gian quây quần bên vợ con sẽ tìm lại được sự điềm tĩnh thanh thản mà ông đã đánh mất{34} trong những biến cố của buổi sáng. Khi ông bước lên các bậc thềm, Sapphira liền tung cửa mở toang. Gương mặt bừng sáng rạng rỡ. Con bé chính là hiện thân của niềm vui sướng.

“Cha ơi,” con bé kêu lên, “con thật mừng vì cha đã về nhà sớm thế này. Con có tin vui lớn lắm. Mẹ và con vừa nhận được một vinh dự vô cùng to lớn; cha không thể tưởng tượng nổi cả hai chúng con đang hạnh phúc nhường nào đâu.”

Niềm vui hiện rõ trên gương mặt con bé có sức lây lan mạnh mẽ, và Bloommaert liền ném bay sự bực dọc ra khỏi trí nhớ. “Nào,” ông vui vẻ nói, “để ta nghe xem tin vui ấy là gì nào. Ai đã mang nó đến cho con vậy?”

“Chà, cha sẽ không bao giờ đoán được đâu, cha yêu dấu ạ, và con sẽ để mẹ kể cho cha nghe.”

Họ bước vào phòng ăn ngay lúc con bé vừa dứt lời, và bầu không khí mát mẻ dễ chịu nơi đây tựa như một luồng gió thiên đường. Bà Bloommaert đứng dậy với nụ cười trên môi.

“Gerardus, anh yêu!” bà thốt lên, “anh về sớm hơn em tưởng. Thật tuyệt quá. Giờ thì chúng ta có thể dùng bữa tối rồi.”

“Nhưng Carlita ạ, trước tiên phải nghe tin vui mà Sapphira cứ chực trào muốn giữ rịt lấy đã.”

“Em ấy chưa nói với anh sao?”

“Chưa. Con bé bảo em hãy kể cho anh nghe.”

“Vâng, thế thì điều đó thật vui đối với con bé, và đối với cả em nữa. Leonard Murray đã đến đây sáng nay ngay sau khi anh rời nhà. Cậu ấy hy vọng vẫn tìm thấy anh ở nhà—và muốn chúng ta chọn quân phục cho đại đội của cậu ấy. Anh thấy đấy, họ sẽ chiến đấu dưới lá cờ của chúng ta! Cậu ấy mang theo rất nhiều mẫu vải, và chúng ta đã chọn màu xanh đậm cho áo khoác, màu cam cho áo lê-gít, còn mũ đội sẽ là một chiếc mũ lưỡi trai màu xanh đậm gắn nơ cùng dải lụa ba màu đỏ, trắng, xanh! Dải băng ba màu, anh yêu ạ—đó là vì đất nước của em, còn màu xanh và màu cam, đó là vì xứ sở của anh. Leonard vô cùng thích thú. Cậu ấy sẽ tự bỏ tiền túi trả chi phí quân phục và nuôi dưỡng đại đội cho đến khi thành phố đưa họ vào biên chế chiến đấu chính thức. Khi ấy, họ sẽ ra trận dưới lá cờ của chúng ta. Chẳng phải Leonard rất chu đáo và lễ phép hay sao?”

“Đó chỉ là một hành động hỗn xược chết tiệt. Tôi chưa từng nghe thấy sự vô lễ nào đến thế!”

“Cha!”

“Gerardus, em thật kinh ngạc về anh đấy!”

“Cái đồ cún con xấc láo ấy! Nó lấy quyền gì? Sao nó dám làm thế?”

“Thưa ng quan tòa, cậu ấy chỉ làm điều mà mọi thanh niên có thế giá đều đã làm: nhà Clarkson, nhà Fairlies, nhà Westervelts, nhà Moores—mỗi gia đình danh giá đều trao lá cờ của mình cho một đại đội nào đó. Đó là một vinh dự, thưa ngài quan tòa, một vinh dự lớn lao, và chúng tôi rất đỗi tự hào về điều đó. Em đã nói với Leonard như vậy.”

“Leonard cơ đấy! Xem ra hai người đã sớm trở nên thân thiết lắm rồi nhỉ.”

“Sớm ư! Đã quen từ lâu lắm rồi chứ. Em đã quen biết đứa trẻ ấy từ ngày cậu chào đời. Mẹ cậu ấy là bạn của em khi cả hai còn là những cô bé nhỏ xíu. Em đã ở bên cạnh mẹ cậu ấy lúc bà lâm chung. Em từng hứa với bà sẽ đối xử tử tế với Leonard bất cứ khi nào có cơ hội—và cơ hội đã đến vào sáng nay—em cứ nghĩ{36} anh sẽ cảm thấy vui mừng—và tự hào—nhưng rồi, người ta chẳng bao giờ thấu hiểu được tình cảm đích thực của một người đàn ông cả—chưa bao giờ! Huống chi lại sau chuyện ngày thứ Bảy vừa qua nữa chứ—thật không thể tài nào tưởng tượng nổi.” Bà Bloommaert đứng dậy, và khi con gái bước theo sau, vị quan tòa bị bỏ lại một mình cùng với bất kỳ câu trả lời nào mà ông dự định sẽ thốt ra.

Thông thường, khi một đối thủ rút lui, kẻ ở lại chiếm lĩnh chiến địa sẽ cảm nhận được hương vị của chiến thắng. Hắn sẽ ngẩng cao đầu một chút và đắc thắng theo cách thức phù hợp nhất với mình. Nhưng Quan tòa Bloommaert, với bàn tay nắm chặt đặt trên bàn ăn, lại chìm trong cảm giác thất bại trĩu nặng. Con người to lớn và uy nghi của ông bỗng sụp đổ khi hai bóng hồng mảnh dẻ lướt qua người—chiếc đầu kiêu kỳ ngúng nguẩy của Carlita bày tỏ sự không đồng tình đầy khinh miệt, còn Sapphira thì ném về phía ông ánh nhìn tràn ngập vẻ ngạc nhiên trách móc.

Bản năng tự nhiên dẫn dắt ông ngồi xuống để ngẫm nghĩ lại cách hành xử của mình. “Trời đánh thánh đâm!” ông thốt lên. “Quỷ tha ma bắt gã kia đi! Tất cả chuyện này có ý nghĩa gì chứ?” Rồi tâm trí lý luận của ông bắt đầu ngẫm suy, cân nhắc, đong đếm vụ việc của chính mình một cách lạnh lùng hệt như thể đó là rắc rối của một người hoàn toàn xa lạ. Kết quả là một phán quyết nghiêng về phía lập trường của vợ và con gái. Đứng từ góc độ của họ, ông đã tỏ ra vô lý và trước sau bất nhất. Và ông chẳng thể đưa ra một lời phản biện nào; bởi vì sự phản đối duy nhất mà ông có thể viện dẫn lại nằm ở nỗi ác cảm ngấm ngầm dành cho chàng thanh niên kia—một nỗi ác cảm mà ông chẳng thể đưa ra bất kỳ lý do gì có thể hợp lý hóa, ngoại trừ việc khiến bản thân trở nên nực cười hơn cả sự nhún nhường đơn thuần.

Ông vừa đi đến kết quả này thì một người nô lệ da đen, mặc trang phục vải lanh trắng tinh từ đầu đến chân, bước vào phòng. Hắn đang bưng một chiếc khay đựng món thịt bò thắt lưng nướng, và mùi thơm kích thích vị giác hòa quyện cùng hương thơm của đậu Hà Lan tươi—được luộc chung với nhánh bạc hà theo đúng điệu—đã thúc giục vị quan tòa thực hiện hành động cần thiết. Ông dứt khoát đứng dậy và đi về phía phòng khách ở gian sau. Ngay ngưỡng cửa, ông nghe thấy tiếng Sapphira và mẹ đang trò chuyện, nhưng họ bỗng im bặt ngay khoảnh khắc ông bước vào. Đó là một dấu hiệu mà ông không buồn bận tâm. Ông thừa rõ những chiến thuật luôn mang lại hiệu quả, và với một nụ cười cùng cái cúi đầu lịch thiệp, ông đưa cánh tay ra mời bà Bloommaert. Sự lịch thiệp ấy trở nên vô địch nhờ ánh mắt đi kèm theo—một ánh mắt mang theo sự giải thích, lời xin lỗi và niềm ngưỡng mộ được gửi gắm chớp nhoáng không chút hoài nghi vào tận trái tim bà. Mọi lời nói so ra đều sẽ trở nên ngập ngừng và bất lực, thế nên chúng bị phớt lờ. Từ duy nhất được thốt lên liên quan đến bữa ăn đang chờ đợi. “Bữa tối dọn rồi đây, Carlita,” và Carlita, với ánh mắt đáp lại ngập tràn sự tha thiết và yêu thương, kiêu hãnh choàng lấy cánh tay được mời chào. Trước khi họ kịp chạm tới ngưỡng cửa, Sapphira bangkhuâng được nhớ tới, và người cha liền với ngược tay ra sau để nắm lấy bàn tay con bé. Cứ thế, họ cùng nhau bước vào phòng ăn, và hầu như cùng lúc đó, Christopher cũng có mặt gia nhập.

Cậu ta trông phờ phạc vì nóng nực và sạm nắng nhưng ngập tràn sự hài lòng tĩnh lặng. Cậu đặt tay lên vai mẹ khi đi ngang qua, rồi kéo ghế ngồi xuống cạnh em gái, âu yếm siết chặt bàn tay nhỏ bé của con bé dưới gầm bàn.

Với đôi mắt rạng ngời, cô bé ghi nhận cử chỉ yêu khát ấy,{38} rồi chạm tay vào một đoạn ruy-băng xanh nhạt luồn qua khuyết áo khoác của anh, và hỏi:

“Này Chris, vị thánh bảo trợ của anh bây giờ là ai thế? Năm ngoái thì là thánh Nicholas nhân từ, và sắc cam là câu cửa miệng của anh cơ mà. Sao anh lại phụ bạc vị thánh cũ và đổi cả màu áo thế này?”

Chris cười khúc khích. “Anh bị bắt thóp bất ngờ rồi, Sapphira,” cậu đáp. “Khi anh đi ngược lên phố Cedar, anh thấy Mary Selwyn đang hái hoa hồng trong khu vườn của ông Webster. Nàng cài một bông hồng trước ngực, một bông trên mái tóc, giỏ hoa hồng cầm trên tay, và nàng xinh tươi, ngọt ngào chẳng kém bất kỳ đóa hồng nào từng khoe sắc trên đất New York này. Rồi nàng nói ‘Chào buổi sáng, Đại úy Bloommaert; anh sắp ra khơi đối đầu với kẻ thù rồi phải không, cầu Chúa phù hộ cho anh!’ Còn anh thì đáp, ‘Chẳng mấy chốc nữa đâu, thưa cô Selwyn, có lẽ đây sẽ là lời chào tạm biệt của chúng ta.’ Thế là nàng nhấc chiếc kéo cắt ra từ dải ruy-băng quấn quanh cổ chiếc nơ mà anh đang đeo đây. ‘Đây là một nửa trọn vẹn,’ nàng bảo, ‘và em sẽ giữ nửa còn lại cho đến khi anh trở về trong vinh quang hạnh phúc.’”

“Chà, vậy đó chính là dải ruy-băng mang lại may mắn cho anh rồi đấy, Chris, và anh không được phép đổi nó đâu,” Sapphira nói.

“Chỉ ít phút sau thôi là anh đã rơi vào một sự cám dỗ lớn muốn làm điều ngược lại đấy, Sapphira ạ. Anh định ghé thăm bà nội, nhưng khi vừa đến gần nhà thì anh thấy Walter Havens đang bước ra từ cổng. Cậu ta bước đi vô cùng kiêu hãnh, trên đầu phấp phới chiếc nơ ruy-băng đỏ, và bước chân tiếp theo lộ ra trước mắt anh là tà váy trắng thấp thoáng đằng sau giàn dây leo ngoài hiên.{39} Thế là anh biết ngay là cô em họ Annette vừa tiếp lửa cho cậu ta khiến cậu ta cứ ngỡ mình có đến hai mươi trái tim thay vì chỉ có một.”

“Anh có nói chuyện với Annette sau màn quan sát đó không?” người cha lên tiếng hỏi.

“Sao lại không chứ, thưa cha. Em ấy nhìn thấy anh ngay lập tức, và chạy ào ra mở cổng. Em ấy trưng ra đủ mọi điệu bộ kiêu kỳ duyên dáng và trông rạng rỡ hệt như dải ruy-băng đỏ mà em ấy đang đeo. Em ấy thoáng thấy dải ruy-băng xanh của anh ngay lập tức, và bĩu môi nói, ‘Này nhé, cái thứ lỉnh kỉnh buộc ở khuyết áo của anh là ân huệ của ai thế hả? Trông thảm hại quá đấy, Chris ạ! Hay để em cắt cho anh một hai inch dải ruy-băng cài túi của em nhé?’ vừa nói em ấy vừa nhấc chiếc hộp đựng kim khâu bên thắt lưng lên, toan rút kéo ra. Nhưng anh liền bảo, ‘Thôi thôi, tiểu thư de Vries ạ, anh không có hứng chia chác gì với Walter Havens đâu. Anh cứ giữ chặt cái “thứ thảm hại” của mình thôi. Không biết em đã phát đi bao nhiêu dải ruy-băng hồng vào sáng nay rồi hả?’

“Em ấy có nói cho anh biết là bao nhiêu không, Chris?” Bà Bloommaert hỏi.

“Trông bộ dạng em ấy thì có khi phát tới cả trăm chiếc ấy chứ, nhưng em ấy giữ kín như bưng bí mật của mình—mẹ cứ tin là Annette chẳng bao giờ chịu để lộ thứ gì thuộc về nó đâu—ngay cả những bí mật; trong khi phần lớn phụ nữ đều đem ra khoe hết. Annette de Vries thì khôn ranh hơn thế.”

“Bà nội nói gì vậy anh?” Sapphira hỏi.

“Anh không gặp bà. Bà đang ở trong phòng nghỉ ngơi, Annette bảo thế. Tối nay họ sẽ sang đây—cùng gia đình Clark, và có lẽ cả những người khác nữa. Mẹ không phiền chứ, thưa mẹ?”

“Chắc chắn mẹ sẽ rất vui, nếu con muốn thế, Chris ạ.” Bởi vì trái tim người mẹ ấy đã thấu hiểu rằng lời “tạm biệt” mà cậu dành cho cô Selwyn đồng nghĩa với việc cậu đã sẵn sàng lên đường ra khơi. Và đó vốn là thói quen của Christopher: cậu thường lặng lẽ chuồn đi vào một đêm nào đó, hoặc lúc sáng sớm khi thủy triều lên, khi chẳng có ai xung quanh để làm phiền đến các mệnh lệnh của cậu. Bởi vì cậu không phải là kẻ thích hay cần đến sựán chuẩn phê chuẩn hay niềm cảm thông từ người khác; theo nguyên tắc chung, sự tự chấp thuận của Christopher Bloommaert đối với bản thân là quá đủ rồi.

Cậu rõ ràng đang bận rộn trăm bề, và rời đi ngay khi vừa dùng xong bữa tối. Vị quan tòa cùng đi với cậu, còn bà Bloommaert cùng con gái ở lại, lập tức bàn tán về chuyện chuyến đi của Christopher.

“Đó là tính cách của nó rồi,” bà Bloommaert nói. “Bữa tiệc nhỏ tối nay chính là tiệc chia tay của nó đấy. Chúng ta phải chuẩn bị sao cho thật ấm cúng. Chắc bà và Annette sẽ đến chứ?”

“Cả nhà Clark nữa—Elsie với Sally, Joe với Jack—và con đoán là Leonard Murray cũng sẽ đến cùng họ,” Sapphira đáp.

“Mẹ chẳng ngạc nhiên nếu Chris có mời cả cô Selwyn.”

“Rất có thể lắm chứ. Nương ấy là một cô gái dễ mến. Con rất mong Chris đã ngỏ lời mời.”

“Không ai có thể không yêu mến Mary Selwyn cả.”

“Chúng ta nên làm gì đây? Chris sẽ thích điều gì nhất? Mẹ biết rõ hơn ai hết mà, Sapphira.”

“Hay chúng ta dùng trà lúc sáu giờ đi, rồi tất cả có thể ra Bãi biển Battery nghe âm nhạc. Trăng đang non, và trời đủ ấm để những làn gió biển trở nên dễ chịu. Ban nhạc Quân đội Moffat sẽ biểu diễn từ hiên dựng cột cờ tối-{41}nay, và chúng ta có thể gọi kem, bánh ngọt cùng rượu vang phục vụ ngay trong khuôn viên nếu muốn.”

“Các con nên quay về nhà tầm chín giờ, mẹ sẽ chuẩn bị sẵn đồ nhắm ở đây cho các con. Phòng khách lớn có thể dọn bớt đi một chút, bác Bose sẽ kéo đàn vĩ cầm, và các con có thể tổ chức một buổi khiêu vũ nhỏ. Mẹ tin là cha sẽ không phiền đâu. Ông ấy thừa biết Chris đã sẵn sàng ra khơi rồi. Mẹ nhìn là đọc được ngay.”

“Ồ, mẹ ơi! Ôi mẹ yêu quý của con, sao mẹ tốt với chúng con thế!”

Công tác chuẩn bị cho buổi tụ họp có phần ngẫu hứng này chẳng làm bà Bloommaert bận tâm là bao. Đám gia nhân đều là nô lệ sinh trưởng ngay trong gia đình bà, và phần việc của họ trong niềm vui chung là điều chắc chắn và hiển nhiên. Họ nhiệt tình xắn tay vào lo liệu, và chẳng mấy chốc ngôi nhà đã khoác lên mình bầu không khí rộn ràng lễ hội mà viễn cảnh tiệc tùng khiêu vũ mang lại.

Trước sáu giờ, các vị khách bắt đầu kéo đến, và con số tám hay mười người ban đầu theo dự tính của Christopher nhanh chóng phình to thành hai mươi người. Trông như thể cậu thanh niên ấy đã tiện tay mời tuốt tuột mọi quen biết của mình. Nhưng bà Bloommaert đón tiếp tất cả vô cùng nồng hậu, và chút khó khăn nho nhỏ trong việc sắp xếp chỗ ngồi—sự chen chúc chật chội đôi chút—lại thực sự khơi nguồn cho niềm hạnh phúc vô tư không chút câu nệ. Rồi lại thêm cảnh tất bật phục vụ cho kịp giờ, thế nên Christopher, Joe Westervelt và Willis Clark đã tình nguyện gánh vác; và ngoài ba người đó, chính bà Bloommaert còn bổ sung thêm Leonard Murray, chỉ định cậu làm phụ tá đặc biệt của mình; thế là buổi tiệc trà bỗng hóa thành một dạng dã ngoại phòng khách. Các ô cửa sổ đều{42} mở toang, rèm cửa trắng khẽ đung đưa theo làn gió, và hương hoa hồng thoang thoảng hòa quyện khắp nơi cùng mùi thơm tuyệt diệu của trà ngon, bánh tẩm gia vị, cùng những trái dâu tây chín mọng tươi rói. Những lời trò chuyện vui vẻ cùng tiếng cười rộn rã làm rung động bầu không khí ấm áp, và tự thân việc ngắm nhìn biết bao gương mặt trẻ trung bừng sáng, ai nấy đều hào hứng đáp lại niềm vui khi được hiện diện bên nhau đã là một niềm hạnh phúc lớn lao.

Trước bảy giờ, họ đã sẵn sàng cho chuyến tản bộ dọc Bãi biển Battery, và lũ lượt kéo nhau bước xuống chiếc cầu thang rộng lớn—một đoàn người rực rỡ gồm những thiếu nữ đáng yêu trong chiếc áo khoác ngắn đủ màu sắc bằng lụa, những chiếc váy hồng hoặc trắng, đội mũ rơm phong tẻm gipsy, và đi giày bệt buộc bằng khóa bạc hoặc đá trang trí. Từng tốp hai ba người thả bộ dọc theo lối đi thơ mộng, và khi vầng trăng non nhô lên, ban nhạc cất lên những giai điệu ngọt ngào từ chiếc thuyền trên mặt nước, những con sóng khẽ vỗ vào chân tường bờ kè, tiếng cười nói rộn rã của họ cũng dần trầm và nhỏ lại. Họ nghỉ chân trên các băng ghế, thì thầm những điều tâm sự nhỏ nhoi, và vô cùng hạnh phúc, dẫu cho niềm vui ấy được ru êm và dịu lại, tựa như trong giờ phút hiếm hoi này có một linh hồn thân thiện nào đó đang khẽ nhấn bàn đạp giảm âm lên cuộc đời, qua đó khiến niềm hạnh phúc trở nên mê hoặc và gắn kết riêng tư hơn biết bao.

Nhưng dẫu có quên mất màn khiêu vũ, đôi chân nhỏ nhắn của họ vẫn giữ nguyên ký ức; chúng bắt đầu ngứa ngáy, nhịp nhàng ra vào và trở nên bứt rứt không yên; và Sapphira chợt nhớ đến giờ giấc, dẫu cho Leonard vô cùng cuốn hút và câu chuyện cậu đang kể thật tuyệt vời. “Nhưng mà,” con bé nói, “mẹ đang mong chúng ta về đấy, và những người ở nhà không được phép làm họ thất vọng; bởi vì nếu có điều gì mà bà nội thích nhất, thì đó chính là ngắm nhìn màn khiêu vũ.” Thế là họ quay trở lại ngôi nhà của gia đình Bloommaert và thấy mọi thứ đã sẵn sàng chờ đón điệu nhảy cotillion. Lầu trên, với những bước chân nhanh như chớp, các thiếu nữ vui vẻ chạy vụt lên, trở xuống chưa đầy mười phút sau mà không còn khoác áo ngắn trên người, đôi chân được xỏ vào những đôi xăng-đan bằng sa-tanh. Tiếng đàn vĩ cầm vang lên lảnh lót, và người quản xướng đã bắt đầu nhắc nhở các quý ông chọn bạn nhảy. Khi ấy, căn phòng biến thành một nguồn sống tràn trề niềm vui. Trái tim của tất cả mọi người cùng đập nhịp theo từng bước chân lấp lánh của các vũ công, và ai nấy đều tóm lấy một khoảnh khắc hạnh phúc phù du, để rồi trong một nhịp thở của cuộc đời, họ quên bẵng đi việc rồi sẽ có lúc mỏi mệt hay phải chia lìa.

Bà cụ ngồi trên chiếc ghế bành của con trai, mặt hừng hực rạng rỡ và mỉm cười, đôi mắt đảo qua đảo lại giữa các cô cháu nội. Họ quả thực là những người phụ nữ đẹp nhất trong phòng, và khi vị quan tòa nhẹ nhàng bước đến bên bà vào khoảng mười giờ, bà liền bảo: “Hãy ngắm Annette kìa; dưới chân con bé là một nửa số đàn ông ở đây; còn về phần Sapphira, mẹ chẳng biết phải nghĩ sao nữa—tất cả đàn ông đều say mê con bé, nhưng có ai đó vừa thì thầm với mẹ rằng chỉ có một mình Leonard Murray mới làm con bé vừa lòng thôi. Mẹ mạn phép nói rằng chúng là một đôi uyên ương đẹp đôi đấy, Gerardus ạ.”

Bất giác, ông hướng ánh mắt theo lời mẹ và buộc phải thừa nhận tính xác thực trong lời nhận xét của bà. Nhưng điều đó mang lại cho ông một nỗi đau giận dữ, trong khi biểu cảm thỏa mãn say đắm của chàng thanh niên kia lại càng khiêu khích ông đến mức không lời nào tả xiết. Cậu đang nắm lấy bàn tay Sapphira, họ đang nhún nhảy theo một nhịp điệu—không hẳn theo tiếng đàn vĩ cầm mà theo khúc nhạc vang lên trong chính trái tim họ. Họ đã quên mất những giới hạn của cuộc đời, họ đang đắm chìm trong một bầu không khí hiếm hoi và thần thánh hơn. Từng bước nhịp nhàng, tay trong tay, với ánh mắt rực rỡ nhìn vào khuôn mặt nhau, họ lướt qua người ông hệt như những vị thần bất tử đang uyển chuyển theo khúc nhạc của các tầng trời.

Nhưng dẫu khung cảnh hoan ca nguyên thủy ấy có đẹp đẽ đến đâu, nó cũng chẳng hề khơi gợi được sự cộng hưởng nào trong trái tim Quan tòa Bloommaert, và sau vài câu trao đổi với bà cụ, ông liền lẻn đi tìm sự yên tĩnh trong phòng mình. Trằn trọc và thao thức, ông lật giở những tài liệu trong một tập hồ sơ có liên quan đến lợi ích cá nhân, và chẳng mấy chốc đã chìm đắm vào các chi tiết bên trong đó. Thế nhưng ông vẫn cảm nhận được sự tàn lụi tất yếu của cuộc vui sau thời khắc cao trào, và không lấy gì làm khó chịu khi nghe tiếng đám đông tản mác giải tán buổi tụ họp. Tiếng ríu rít của các cô gái đang mặc lại áo ngắn và giày đi bộ khiến ông đặt xấp giấy xuống, bước ra cửa sổ mở toang, và cứ thế ông lặng ngắm cảnh tượng hạnh phúc tàn phai; bởi vì các vị khách đã chia tách, ngay trước hiên nhà ông, thành từng nhóm nhỏ, kẻ thì băng sang phía bên kia công viên Green, người thì rẽ về các phố Wall, State, Cedar và Nassau. Nhóm đi sau có vẻ là tốp đông hơn, và ông nghe thấy tiếng đàn ông trong nhóm đó, khi họ rảo bước về phía bắc, bắt đầu cất cao khúc ca, “Chúng ta là ba người thủy thủ nghèo.” Giọng hát của Christopher vang lên lảnh lót đầy vui vẻ, và trái tim người cha trĩu nặng tình yêu cùng sự kiêu hãnh, khi ông dịu dàng cất lời, “Xin Chúa phù hộ cho đứa con trai.” Lời cầu nguyện ấy tựa như một nghi thức trừ tà; cơn giận dữ và mọi điều xấu xa đều bay biến trước những lời chúc phúc, nhờ đó khi bà Bloommaert bước vào phòng với vẻ mặt hốc hác vì mệt mỏi, ông đã có thể đón nhận bà với sự đồng cảm mà bà đang cần.

“Gerardus, anh yêu của em,” bà nói, “Chris vừa nói lời tạm biệt với em; em chắc chắn là thế. Thằng bé áp má vào má em và{45} thì thầm, ‘Tạm biệt mẹ một lát thôi nhé!’ và tất cả những gì em kịp thốt lên là ‘Xin Chúa phù hộ cho con, Chris!’”

“Thế là đủ rồi.”

“Khi nào nó ra khơi?”

“Khoảng bốn giờ sáng nay. Lúc đó nước triều sẽ lên cao nhất.”

“Nó đi đâu thế?”

“Đến bờ biển Connecticut trước để lấy nhu yếu phẩm; ở đó dễ kiếm hơn ở đây; sau đó thì nó đi đâu chẳng ai hay, nhưng như lời cha sở đã giảng chủ nhật tuần trước, nó chẳng thể đi đến nơi nào mà Chúa vắng mặt cả.”

“Em đặt niềm tin vào điều đó. Anh có để ý chiếc ruy-băng xanh trên áo khoác của nó không?”

“Có, anh thấy chứ.”

“Thằng bé có vẻ rất quý Mary vào tối nay. Em không tài nào không nhìn thấy sự tận tụy đó. Mẹ cũng nhận ra điều ấy.”

“Mẹ nói gì thế?”

“Mẹ bảo Mary là một cô gái ngoan, dòng dõi gia thế, chỉ có điều chẳng có lấy một xu dính túi. Em liền bảo, ‘tình yêu mới là tất cả trong hôn nhân, còn tiền bạc chẳng quan trọng lắm đâu.’”

“Hừm—m! Tiền chẳng bao giờ thừa cả.”

Rồi không gian chìm vào khoảng lặng ngắn ngủi; bà cụ đang tháo chiếc mũ ren và cổ áo ra, còn vị quan tòa thì cất gọn giấy tờ. Cả hai cùng đang suy nghĩ về một chuyện và chẳng ai muốn khơi mào chủ đề đó trước. Nhưng sự kiên nhẫn của vị quan tòa được rèn luyện tốt hơn, và ông điềm đạm chờ đợi câu hỏi mà ông chắc chắn sẽ chẳng mấy chốc được cất lên.{46}

Bà đứng dậy khi thốt ra câu hỏi ấy, đi về phía bàn trang điểm và bắt đầu mở hộp trang sức. “Anh có để ý thấy Sapphira và Leonard Murray khiêu vũ không? Em tưởng em thấy anh đang dõi theo họ đấy.”

“Có, anh có thấy, và nếu nói cho em nghe chính xác những gì anh nghĩ về màn biểu diễn đó thì chỉ chuốc thêm đau lòng cho em thôi, Carlita ạ. Đừng hỏi anh.”

“Em chắc chắn là mình không hiểu tại sao lại không được hỏi anh cơ chứ; ai nấy đều mê mẩn trước vẻ duyên dáng của họ. Thậm chí ngài Washington Irving lịch lãm còn bảo những chuyển động của họ chính là ‘chất thơ của sự uy chuyển.’ Em nghĩ đó là một nhận xét rất hay.”

“Ừ thì, anh đoán ngài Washington Irving am tường mọi thứ về chất thơ của sự uy chuyển. Nhưng nếu em tin anh, Carlita ạ, ở New York này vẫn có những kẻ theo trường phái Hà Lan không tôn sùng ngài Washington Irving đâu.”

Rồi lại một khoảng lặng nữa buông xuống, và lần này vị quan tòa là người phá vỡ nó.

“Carlita,” ông cất lời, “em cứ vo ve vòng vo tam quốc quanh cái quảng trường này làm gì thế? Nói thẳng ra đi, vợ ơi.”

“Thì thế này, Gerardus, ai cũng nhìn thấy Leonard Murray đang say đắm Sapphira, và Sapphira cũng chẳng hề thờ ơ với cậu ta. Em muốn hỏi anh xem liệu cuộc hôn nhân này có môn đăng hộ đối hay không, bởi vì nếu anh phản đối, mối quan hệ thân thiết của chúng cần phải được chấn chỉnh lại ngay lập tức.”

“Em định chấn chỉnh bằng cách nào? Nói cho anh nghe xem nào. Chúng ta không thể nhốt con bé trong phòng rồi cắt cử người canh gác nó được, cũng chẳng thể tống cổ nó đến Hong Kong hay Timbuctoo—cho khuất mắt cậu ta.”

“Thế nghĩa là anh phản đối ư?{47}”

“Đúng vậy.”

“Nhưng tại sao chứ?”

“Anh chưa sẵn sàng để đưa ra lý do cho em đâu.”

“Em không tài nào tưởng tượng nổi lý do là gì. Leonard rất giàu.”

“Rất giàu là đằng khác. Đại tá Rutgers bảo với anh gia sản đất đai, nhà cửa và tiền mặt của cậu ta có trị giá lên tới bảy trăm ngàn đô-la. Nhưng, đúng như em từng nhắc nhở anh về trường hợp của Mary Selwyn, tiền bạc trong hôn nhân chẳng quan trọng lắm đâu.”

“Em không nghĩ nó quan trọng bằng tình yêu; dẫu cho, như anh vừa nói, tiền bạc chẳng hề gây hại gì cho hôn nhân cả. Nhưng với Leonard, vấn đề không chỉ có tiền. Cậu ta vốn dòng dõi gia thế.”

“Cụ cố của cậu ta là một gã người Xốt-len vùng cao, còn James Murray, cha cậu ta, chẳng màng đến thứ gì ngoài tiền bạc. Hết mảnh đất này đến vài ba đồng bạc lẻ—một kẻ keo kiệt tàn nhẫn, với cả bạn bè lẫn kẻ thù. Anh chưa từng ưa hắn. Chúng ta từng cãi vã nhiều lần, và có lần thượng cẳng chân hạ cẳng tay—đó là vì em đấy, Carlita.”

“Anh cần gì phải tranh chấp vì em chứ. Từ đầu đến cuối vẫn chỉ có anh thôi, Gerardus ạ; chỉ có anh và một mình anh mà thôi.”

“Thế mà sau khi chúng ta đính hôn, James Murray vẫn mở lời cầu hôn em. Chẳng có một người đàn ông danh dự nào lại đi làm cái chuyện đó.”

“Anh quên sạch rồi sao? Người ta đã khuất núi rồi. Hãy để những lỗi lầm của ông ta chìm vào quên lãng đi.”

“Anh không thích nhìn thấy em tỏ ra bênh vực con trai hắn ta như thế.{48}”

“Thằng bé là con của mẹ nó. Nó sở hữu những phẩm chất hoàn toàn trái ngược với cha mình. James Murray là kẻ cố chấp và bủn xỉn. Còn Leonard lại có góc nhìn bao dung và rộng lượng nhất.”

“Đấy, em vừa nói đủ điều rồi đấy. Nếu có kẻ nào không đáng tin cậy nhất trên đời, chính là cái tên mang tư tưởng rộng lượng khoan dung này đây. Em còn nhớ Herman Strauss chứ? Hắn ta cũng thuộc tuýp người đó, lớn lên trong lòng Giáo hội Trưởng lão Trung tâm, hắn cưới một phụ nữ theo Anh giáo, và chẳng gặp chút khó khăn nào—vì quá đỗi bao dung—hắn theo vợ sang đạo Trinity. Hắn ca tụng phe Dân chủ—cả phái Clinton lẫn Madison—nhưng vẫn tự nhận mình là người theo phái Liên bang—cho rằng cả hai đều có điểm đúng theo những cách nào đó. Thế nhưng giống như mọi kẻ mang bản chất ba phải mơ hồ này, hắn lại có một hoặc hai quan điểm vụn vặt chẳng có chút trọng lượng nào, chẳng mang lại lợi ích gì cho chính hắn hay ai khác, nhưng vì những thứ đó hắn sẵn sàng đánh mất tiền bạc, bạn bè, thậm chí liều cả mạng sống. Chỉ vì vấn đề nhãn hiệu loại rượu vang ngài Jefferson từng uống mà hắn xúc phạm Đại tá Wilde, để rồi hậu quả là phải đấu súng và biến thành một kẻ tàn phế suốt đời. Thế đấy, hãy nhìn cái gã mang tấm lòng đồng cảm bao la cùng góc nhìn rộng mở của em xem! Anh thích một người đàn ông có quan điểm lập trường rõ ràng và kiên định với nó. Phải, kiên định đến cùng, dẫu đúng hay sai! Một người đàn ông kiên định với quan điểm sẽ kiên định với bạn bè và gia đình mình. Cái gì cũng tốt! Ai cũng tốt! Thật nhảm nhí! Những tư tưởng kiểu đó chẳng dẫn đi đến đâu và chẳng thành cái tích sự gì. Kẻ nào ôm giữ những thứ đó thì đừng hòng mơ chuyện cưới con gái anh.”

“Bà Clark bảo nhân cách đạo đức của Leonard rất tuyệt vời.”

“Bà Clark mới quen cậu ta được khoảng bốn ngày. Và xin hỏi, bà Clark, hay em, hoặc bất kỳ người phụ nữ nào khác hiểu được bao nhiêu{49} về nhân cách đạo đức của một người đàn ông? Tổ tiên của Leonard Murray bao đời nay đều là những kẻ thượng võ người Xốt-len vùng cao ngang ngạnh, ưa gây gổ và hiếu chiến. Cậu ta chưa tròn hai mươi hai tuổi, đã đi dạt về tận phía tây và phía nam xa nhất có thể, và chỉchịu về nhà vì nghe hơi có mùi chiến trận đang chờ sẵn.”

“Nhưng mà này, Gerardus—sau lưng anh thì có những gì nào?”

“Những thế kỷ ngập tràn những người Hà Lan kính sợ Chúa—những thương nhân lương thiện, những thị dân hòa bình và các vị mục sư uy bác.”

Oh, vâng, cả những “Kẻ ăn mày biển cả,” và những kẻ từng chiến đấu cùng De Ruyter và Tromp, phiêu bạt đến tận cùng thế giới cùng Van Heemskirk để tìm kiếm phiêu lưu, rồi theo chân người Anh Henry Hudson đến tận xứ này, làm vài cú mần ăn béo bở với người da đỏ tội nghiệp. Và Gerardus, hãy nhìn lại các con trai của anh xem—Christopher chẳng bao giờ chịu ở nhà ngoại trừ lúc ở trên biển. Nó hạnh phúc khi ở trên tàu hơn là trong một ngôi nhà, và nó cũng thích tàu chiến phải mang theo dao găm và đại bác. Còn về phần Peter, anh thừa rõ chẳng kém em rằng nếu nó không đóng tàu thì nó sẽ lái tàu. Nó yêu tàu hơn cả vợ. Nó nắm rõ tường tận mọi chi tiết về từng con chiếc tàu mà nó từng đóng—chiều dài, chiều rộng, tốc độ, sức chứa buồm, cần bao nhiêu người để vận hành, và nó gọi tên chúng hệt như thể chúng có da có thịt vậy. Peter có bao giờ đi thăm phụ nữ không? Không; nó đi thăm hết con tàu này đến chiếc tàu nọ. Thế thì, những thương nhân lương thiện và thị dân hòa bình của anh đã có ảnh hưởng gì đến các con trai của anh nào?”

“Carlita yêu dấu của em ơi, em không thấy là mình đang nói năng lan man vượt quá giới hạn rồi sao? Em đang biện hộ cho phe của anh chứ không phải{50} cho phe của em đâu đấy. Chris và Peter là kết quả, và Leonard Murray cũng vậy. Em không thể đẩy tự nhiên ra khỏi cửa được đâu, Carlita. Bản tính tự nhiên còn lớn hơn cả sự giáo dưỡng; mọi thứ mà mái ấm, nền giáo dục và môi trường thương mại của chúng ta có thể mang lại cho lũ trẻ, đều đã dành hết cho Peter và Chris; nhưng tự nhiên đã đi trước chúng ta một bước—nó đã gieo vào huyết quản chúng những giọt nước mặn phiêu lưu từng khuấy động “Besr của Biển,” Tromp và Van Heemskirk. Anh nói thật với em đấy, Carlita, dòng giống quan trọng hơn nhiều so với đồng cỏ. Như em biết đấy, con chim cúc cu đẻ trứng vào bất kỳ chiếc tổ của loài chim nào; nó có thể nở ra giữa bầy chim sáo đen, chim cổ đỏ hay chim hoét, nhưng nó vẫn luôn là con chim cúc cu. Và thế là chúng ta lại quay về lập điểm xuất phát của anh, rằng một kẻ chẳng thể nào rũ bỏ được cội nguồn tổ tiên của mình.”

“Em chẳng thèm quan tâm đến tổ tiên gì sất, Gerardus; em nhìn Leonard đúng như con người hiện tại của cậu ấy ngày hôm nay. Và em muốn anh nói thẳng cho em biết phải làm thế nào. Hay là chính anh sẽ trực tiếp cho Leonard biết suy nghĩ của mình về vấn đề này? Có lẽ đó là cách tốt nhất.”

“Anh nói chuyện với cậu ta bằng cách nào? Chẳng lẽ anh lại từ chối Sapphira khi người ta còn chưa ngỏ lời hỏi cưới? Chẳng lẽ anh lại xách mé đến gặp cậu ta và bảo, ‘Thưa ngài, tôi thấy ngài ngưỡng mộ con gái tôi, và tôi không có ý định để ngài cưới nó đâu.’ Làm thế khác nào tự chuốc nhục nhã cho Sapphira và cho cả bản thân anh, và anh sẽ chẳng có quyền than vãn nếu chuốc lấy kết cục ê chề đó.”

“Thế còn việc gì em có thể làm được không, khi mà anh phản đối Leonard gay gắt đến vậy?”

“Có chứ, em có thể nói cho Sapphira biết anh cảm thấy nặng nề thế nào về một mối lương duyên như vậy; em có thể chỉ cho con bé thấy con đường vâng lời và bổn phận; và anh trông đợi em làm được ngần ấy việc. Anh không hề thích thái độ của mẹ chút nào trong chuyện này, và tự anh sẽ nói chuyện với bà.{51} Phải làm cho Sapphira thấu hiểu rằng Leonard Murray là một điều hoàn toàn không thể xảy ra.”

“Vâng, Gerardus, em sẽ nói chuyện với con bé tội nghiệp ấy. Ồ, em thương con bé quá—nó sẽ phải chịu đựng đả kích đủ đường; nhưng có những người cha chẳng màng bận tâm, dẫu có biến đám cưới thành một đám tang đi chăng nữa.”

“Những lời đó chẳng đúng chút nào, thậm chí còn sai sự thật. Anh quan tâm đến hạnh phúc của Sapphira hơn bất cứ thứ gì trên đời.”

“Hãy nói chuyện với mẹ đi; em mong anh làm thế đấy. Bà sẽ không từ chối Leonard nếu cậu ta ngỏ lời xin cưới Annette. Và Annette thực ra đã đem lòng yêu cậu ta rồi, em không lầm lẫn chuyện đó đâu. Con bé xanh mặt vì ganh tị và hờn ghen tối nay cơ mà.”

“Cả Annette cũng dính vào chuyện này nữa ư?”

“Vâng, và lún sâu là đằng khác, em nghĩ thế.”

“Thế thì anh xin đầu hàng vụ này. Chẳng người đàn ông nào có thể đấu lại ba bốn người phụ nữ một lúc. Giờ anh đi ngủ đây, và anh hy vọng sẽ phải mất một thời gian dài nữa mới lại nghe thấy cái tên Leonard Murray vang lên lần nữa.”

Hy vọng của ông chẳng kéo dài được bao lâu. Khi bước vào phòng ăn sáng vào sáng hôm sau, cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt ông là Sapphira đang cúi người bên chiếc giỏ đựng sậy xanh, tràn ngập những nụ hoa hồng trắng. Con bé quay lại với gương mặt rạng rỡ niềm vui.

“Nhìn kìa cha,” con bé kêu lên. “Chúng xinh lắm phải không? Ngọt ngào lắm phải không? Nếu cha thơm con, cha sẽ hít được cả sương mai đọng trên môi con đấy.”

Ông cúi đầu hít hà hương thơm ngào ngạt từ những đóa hoa,{52} rồi hỏi: “Con hái chúng ở đâu mà từ sớm tinh mơ thế này?”

“Leonard Murray gửi tặng đấy ạ. Để con cài nụ hoa này lên khuyết áo cho cha nhé.”

“Không,” ông lạnh lùng thốt lên, đẩy bàn tay trắng ngần cùng đóa hoa trắng ra xa. “Về phòng của con đi, và mang theo cả đám hoa đó nữa. Ta không muốn nhìn thấy chúng xuất hiện ở bất cứ nơi nào trong tầm mắt của mình.” Rồi khi một cậu bé nô lệ bước vào, ông quay sang quát lớn, ra lệnh dọn bữa sáng với giọng điệu và thái độ không cho phép bất kỳ sự chậm trễ hay đôi co nào.

Sapphira đã nhấc chiếc giỏ lên, nhưng ngay khi chỉ còn lại hai cha con, con bé liền hỏi: “Những lời cay đắng vừa rồi của cha là thật lòng chứ?”

“Từng câu từng chữ đều là thật.” Ông bực dọc gạt chiếc tách cà phê, làm rơi cả kẹp đường, rồi nổi giận lôi đình giật chuông gọi hầu bàn. Thế nhưng ông vẫn không tài nào xua đi được ánh nhìn bi thương ngập tràn vẻ ngạc nhiên và tổn thương trong đôi mắt Sapphira khi con bé bước khỏi phòng, ôm chặt giỏ nụ hồng vào trước ngực.

Suốt cả ngày hôm đó, hình ảnh ấy cứ bám riết lấy tâm trí ông. Ông muốn về nhà từ sớm trước giờ cơm quen thuộc, nhưng làm thế chẳng khác nào đầu hàng. Ông viện cớ bị đau đầu, nhưng thực ra nỗi đau thắt ở lồng ngực mới là thứ đang dằn vặt ông, và trong phần lớn thời gian ngày hôm đó, ông cứ trằn trọc tự vấn bản thân làm thế nào mà một hoàn cảnh khốn khổ như thế lại có thể thao túng ông chỉ trong một khoảng thời gian ngắn đến vậy. Bởi vì, nếu có ai đó vào một tuần trước đây mà dám quả quyết với ông rằng ông có thể bị chi phối mọi tình cảm sâu kín nhất bởi một mối ác cảm thoạt nhìn vô cùng vô lý như thế, ông chắc chắn sẽ cười trừ chế giễu ngay ý tưởng đó{53}. Miệng ông liên tục lặp đi lặp lại từ “vô lý,” bởi đó chính là cái gai nhức nhối, bực bội nhất của sự cám dỗ. Bản thân chàng thanh niên kia chưa từng làm điều gì mà một người công tâm hay lý trí lại có thể coi là xúc phạm—hoàn toàn ngược lại là đằng khác; thế mà ông lại tự nhận thức được một sự đối kháng còn vượt xa hơn cả nỗi ghét bỏ thông thường—thậm chí là một thứ cảm xúc hoàn toàn có thể dễ dàng biến thành lòng thù hận.

Ông vừa thốt lên từ “thù hận” trong tâm thức thì đã đặt chân đến lối vào Tòa nhà Chính phủ. Ngày hôm nay cuối cùng cũng lê lết trôi qua, mệt mỏi hết chỗ nói, cho đến tận giờ ăn tối. Giờ thì ông có thể về nhà và đối mặt với bất kỳ rắc rối nào mà mình đã khơi mào.

“Chào buổi chiều, thưa ngài quan tòa.”

Ông quay người lại, và ánh sáng của một ý chợt lóe lên bừng sáng trên khuôn mặt khi ông nhìn thấy người vừa cất lời chào.

“Chào buổi chiều anh, Biện lý Willis. Tôi đang nghĩ về vụ án mà anh bào chữa cách đây vài ngày—vụ án của cái gã Gavazzio ấy. Quả là một vụ kỳ lạ.”

“Một vụ án vô cùng kỳ quái. Hắn đâm một người không vì lý do mẹ gì sất; đơn giản chỉ bảo là ghét nạn nhân, và hình như nghĩ rằng cảm xúc đó đã là quá đủ lý do chính đáng rồi.”

“Hãy gặp lãnh sự Ý để bàn về vụ này xem sao. Tôi không nghĩ hắn đã phạm luật pháp Ý—nghĩa là, có những bộ luật bất thành văn tồn tại giữa những con người đó, có sức nặng ngang ngửa với cả luật định thành văn. Chúng ta phải cân nhắc yếu tố đó khi tuyên án. Nghe nói nạn nhân bị đâm đang hồi phục phải không?{54}”

“À vâng; tôi sẽ gặp ngài lãnh sự theo đúng ý ngài muốn. Gavazzio chắc chắn đinh ninh rằng chúng ta đang chõ mũi vào chuyện riêng tư của hắn khi tiến hành bắt giữ.”

“Tôi không mảy may nghi ngờ điều đó. Chà, thưa ngài biện lý, luật pháp là tối thượng, nhưng chúng ta không được quên rằng bản chất của luật pháp chính là công lý. Chào ngài nhé.”

Sự cố tình cờ và không hề tính toán trước này mang lại cho ông một cảm giác thỏa mãn dễ chịu; ông thấy khá hơn hẳn, dẫu cho ông không buồn tự hỏi lý do vì sao hay nguyên cớ từ đâu trong chuyện này. Khi tiến đến gần nhà, ông nhìn thấy Sapphira đang ngồi bên ô cửa sổ, cúi đầu miệt mài bên xấp công việc dở dang. Con bé nghe thấy tiếng bước chân của cha, nó biết ông đang dõi theo mình, nhưng nó chẳng thèm ngước mắt lên, cũng chẳng nở nụ cười mà ông vẫn hằng mong đợi. Và khi ông bước vào phòng, con bé vẫn giữ nguyên thái độ đó. Ông nhấc tờ báo lên bắt đầu đọc; đám gia nhân bưng bữa tối lên, và bà Bloommaert cũng bước vào ngồi vào vị trí bên bàn ăn. Bà hoàn toàn không phải là một Carlita quen thuộc hằng ngày, và vị quan tòa có một bữa ăn vô cùng ảm đạm. Về phần Sapphira, con bé không thèm hé răng nửa lời, trừ khi để đáp lại những câu hỏi trực tiếp liên quan đến thức ăn. Trông con bé xanh xao, tiều tụy, và đôi mắt đỏ hoe vì khóc.

Vị quan tòa ăn món vịt quay của mình, liếc nhìn hai người phụ nữ kiên nhẫn, im lặng và đầy khiêu khích kia. Họ đang làm ông khổ sở, và phá hỏng bữa ăn của ông,—dù ông rất thích ăn vịt quay,—thế nhưng ông chẳng biết phải kết tội họ bằng cách nào. Thoạt nhìn họ hoàn toàn là những người phụ nữ vô tội, nhưng khuất tầm mắt người phàm, họ đang nắm chặt trái tim của người chồng, người cha trong đôi bàn tay nhỏ bé trắng ngần{55} kia và nhẫn tâm bóp nghẹt nó. Khi bữa tối kết thúc, Sapphira nhấc đống đồ khâu vá về phòng mình, còn bà Bloommaert, thay vì ngồi xuống trò chuyện tâm tình như thói quen với chồng trong lúc ông hút tẩu, lại đi lại bồn chồn, cất dọn đồ bạc và pha lê, ra điều vô cùng bận tâm say mê với công cuộc tìm tòi khám phá của mình. Ông lặng lẽ dõi theo bà cho đến khi bà chuẩn bị bước ra khỏi phòng, rồi cất giọng có phần hách dịch, “Carlita, em định đi đâu thế? Chuyện quỷ quái gì đang xảy ra với em thế hả!”

“Anh thừa biết chuyện gì đang xảy ra mà, Gerardus.”

“Anh đoán rắc rối lại là—Leonard Murray chứ gì. Quỷ tha ma bắt gã đó đi!”

“Thưa ngài quan tòa, xin ngài vui lòng nhớ cho là tôi đang có mặt ở đây nhé. Em nghĩ anh đã đối xử với Sapphira vô cùng tệ bạc vào sáng nay—và con bé tội nghiệp đã có một ngày vô cùng bất hạnh! Trái tim em như thắt lại vì xót xa cho con ấy.”

“Thì, Carlita, anh hơi quá tay, anh thừa nhận điều đó; nhưng anh không thể nói với Sapphira rằng mình đã sai được. Mọi chuyện diễn ra chớp nhoáng trong tích tắc—hình ảnh những bông hoa, và niềm vui của con bé khi nhận chúng——”

“Em hiểu mà, Gerardus. Em cũng phải thú nhận là mình cũng nổi giận y như anh vậy. Khi bước xuống lầu và phát hiện ra anh đã đi mà không kịp ăn sáng đàng hoàng, lại chẳng thèm lên lầu chào tạm biệt em hay để lại dăm ba lời nhắn nhủ nào, em cảm thấy chạnh lòng. Rồi em bị đau đầu, phải lôi cổ Sapphira xuống bàn ăn, và cảnh tượng con bé{56} khóc lóc thảm thiết vì mấy đóa hồng phiền toái kia đã châm ngòi cho sự tức giận trong em; thế là em còn thốt ra những lời cay độc và tồi tệ hơn cả anh nữa. Em mắng con bé rằng nó phải thấy xấu hổ khi dám làm người cha nổi giận vì một gã đàn ông xa lạ nào đó; và cái cách nó làm lố lên vì Leonard Murray là thiếu thể diện của một thiếu nữ; rồi bản thân chàng thanh niên kia quá đỗi suồng sã phô trương—ôi anh thừa biết đấy, Gerardus, những lời lẽ khó nghe nào mà một người mẹ cáu bẳn có quyền tuôn ra với con cái mình! Và rồi, ngỡ như bấy nhiêu vẫn chưa đủ, Annette ghé qua tầm mười một giờ, và em bảo rằng Sapphira không khỏe, nhưng con bé cứ khăng khăng muốn vào thăm em họ. Và tất nhiên, thứ đầu tiên đập vào mắt con bé chính là bó hồng trắng cùng nỗi buồn của Sapphira, và cái quân ranh con ấy xâu chuỗi mọi thứ lại với nhau chỉ trong tích tắc. Anh đoán xem nó đã nói gì nào, Gerardus?”

“Tỏ lòng thương hại Sapphira chứ gì, anh đoán thế.”

“Nó vỗ tay reo hò và hét lên, ‘Ồ, hóa ra cậu cũng được tặng hoa á! Hoa hồng trắng nữa chứ! Của tớ là màu hồng—những nụ hồng phồng xinh xắn làm sao! Cậu biết sắc màu của tớ là hồng mà.’ Và Sapphira đáp lại, ‘Tớ cứ tưởng là màu xanh cơ,’ nhưng Annette lập tức phớt lờ chủ đề đó và bắt đầu lải nhải ca thán về đôi mắt sưng húp cùng cái mũi đỏ hoe của Sapphira, rồi ban phát cho con bé hàng tá bài thuốc—cứ thế đấy. Sapphira chỉ biết ngậm đắng nuốt cay chịu trận. Anh thừa biết con bé thà chết chứ đời nào chịu bày tỏ dù chỉ chút tò mò hay bực bội. Thế là, sau khi giáng đòn thứ ba cay đắng nhất vào Sapphira, con bé tung tăng bỏ đi, dặn dò ‘hãy ngủ một giấc và đừng mơ mộng gì về anh chàng Leonard điển trai nhé.’ Em thường hay sang phòng Sapphira sau mỗi chuyến viếng thăm của Annette, và khi bước vào phòng con bé tội nghiệp, nó đang nức nở nấc nghẹn như thể trái tim sắp vỡ tung. Nó kể cho{57} em nghe những gì Annette vừa thốt, và càng khóc to hơn, bởi vì nó vừa bị cả anh lẫn em mắng mỏ, mà nguyên nhân chẳng vì cái quái gì cả.”

“Con bé tội nghiệp!”

“Đúng thế thật đấy, Gerardus. Những trái tim trẻ trung ấy chịu nhiều tổn thương lắm. Chúng ta đã quên mất cảm giác khi ở tuổi thiếu niên, những chuyện cỏn con lại to tát và khó khăn nhường nào; nhưng mỗi trái tim đều là một trái tim non trẻ, và em nghĩ nó sinh ra là để chịu đựng tổn thương.”

“Anh không tin Annette được tặng một giỏ hoa hồng hồng đâu. Anh không ưa Murray, nhưng anh nghĩ có những việc cậu ta không đời nào làm. Anh còn thấy một lá thư—nằm ở đáy giỏ nữa cơ. Ồ, anh chẳng tin Annette đâu!”

“Đúng thế. Em đã bảo thẳng với Sapphira đó là lời nói dối—ừ đấy, em cứ nói toạc móng heo ra thế, vì em đinh ninh đó chính là lời dối trá. Nhưng con bé Annette ranh mãnh lắm. Nó thâu tóm mọi khía cạnh của vấn đề nhanh như chớp. Nó thừa biết những bông hoa đó là do Leonard gửi, và đã có chuyện xảy ra, đồng thời nó biết Sappha sẽ không bao giờ nhắc đến hoa hồng hồng trước mặt Leonard. Nó hoàn toàn giữ được thế an toàn nhờ lòng kiêu hãnh của Sappha, bởi vì dẫu cho nó cố tình tạo ra ấn tượng rằng Leonard đã gửi tặng mình một giỏ hồng hồng, nó chưa từng thốt ra câu đó là do Leonard tặng. Nếu bị tra hỏi, nó sẽ vờ ngạc nhiên trước suy luận của Sapphira, khiêm tốn từ chối tiết lộ danh tính người tặng, và rất có thể sẽ bồi thêm ‘thật đấy, chỉ vì một chút ganh tị cỏn con thôi mà dearest Sapphira lại hiểu lầm tớ.’ Anh thấy đấy, em đã nuôi nấng Annette từ bé. Con bé luôn tìm cách đẩy Sapphira vào thế sai trái; đồng thời vẫn tự vẽ cho mình vẻ mặt ngây thơ vô số tội.”

“Chúng ta phải làm gì với rắc rối khốn khổ này đây, Carlita? Lại đây ngồi cạnh anh nào, vợ ơi, và chỉ cho anh biết đi. Vì em là một người phụ nữ khôn ngoan, nhân hậu, và em yêu thương tất cả chúng ta.”

“Chúa mới biết được, Gerardus! Em đã vắt óc suy nghĩ, suy nghĩ và suy nghĩ suốt cả ngày dài, và điều em muốn nói là thế này—hãy mặc kệ những chuyện mà anh không thể kiểm soát. Vì không thể kiểm soát nổi, chúng khiến anh nổi giận; rồi anh đánh mất lòng tự trọng, rồi nổi cáu, và cuối cùng, Chúa mới biết rõ, sẽ còn biết bao nhiêu sự mất mát khác về tình yêu, cuộc sống và hạnh phúc nữa. Cha em từng hay bảo—và cha em là một người đàn ông nhân đức, Gerardus ạ.”

“Chẳng có người đàn ông nào sống tốt hơn cụ Duprey cả.”

“Vấn đề là, ông luôn bảo rằng sinh, hôn, tử là phần việc của Chúa; và trong ba sự kiện lớn lao đó thì hôn nhân chính là chuyện thuộc về Người nhiều nhất. Bởi vì sinh nở chỉ trao phó linh hồn vào tay cha mẹ có lẽ trong vòng hai mươi năm; để rồi phần đời còn lại đều nằm trong tay người chồng. Còn về cái chết, khi ấy chính Chúa Trời mới là đấng trực tiếp nắm giữ. Hãy để lũ trẻ tự do đến đi; chúng có thể đang thực thi thánh ý và con đường của Ngài—nếu chúng ta chịu khó tìm hiểu thánh ý và con đường ấy.”

“Nhưng nếu Murray mở lời với anh để xin cưới Sapphira thì sao?”

“Lúc đó có chiến tranh. Hãy bảo cậu ta rằng hôn nhân là điều bất khả thi cho đến khi hòa bình lập lại. Thời chiến luôn đầy rẫy những bất ngờ. Trong chuyện tình cảm, thời gian là tất cả. Hãy từ chối một cách khéo léo, tử tế và kéo dài thời gian.”

“Rất hay, Carlita. Nhưng nếu anh phát hiện ra bất kỳ lý do nào khiến cuộc hôn nhân này không thể diễn ra, kế hoạch hoãn binh này sẽ hỏng bét. Nếu một mối tình nên bị cắt đứt, nó phải được giải quyết ngay lập tức—và nhỡ như có một chút sự thật nào trong câu chuyện hoa hồng hồng kia thì sao!”

“Thì thế này, Gerardus, nếu anh cứ mãi trông chờ rắc rối, anh cứ việc để Annette tự tung tự tác tạo ra nó. Nhưng ý kiến của em là Sapphira xứng đáng nhận được sự tin tưởng. Nếu anh tin rằng Chúa đã trao phó con bé vào tay chúng ta trong suốt những năm tháng tuổi thơ ngây trong sáng, lẽ nào anh lại không thể tin tưởng Ngài sẽ sắp đặt cho con bé một đời vợ, một đời làm mẹ; thậm chí khi về già, vẫn dìu dắt và định hướng cho con đường của nó? Nếu Ngài tiên tri được cha mẹ nó, thì Ngài cũng tiên tri được người chồng của nó. Chẳng lẽ anh đang nhúng tay vào quá sớm và quá đà rồi sao? Suy cho cùng, chúng ta chống lại số phận bằng cách nào được chứ?”

“Em nói đúng, Carlita. Giờ hãy đi an ủi con bé tội nghiệp một chút đi. Em biết phải nói gì mà—cả phần của em và phần của anh nữa.”

Rồi bà Bloommaert đứng dậy, mỉm cười đầy tin tưởng và hạnh phúc, nhưng ngay ngưỡng cửa bà chợt quay người lại. Chồng bà bước về phía bà, và bà bước về phía ông, để rồi khi gặp nhau, bà trao cho ông một nụ hôn tràn ngập thứ tình cảm chẳng thể dịch nổi thành lời. Một lần nữa bà đặt chân đến ngưỡng cửa, và vị quan tòa đứng giữa phòng dõi theo bóng lưng bà. Khi bà từ từ đẩy mở cánh cửa, ông đã hạ quyết tâm về một chuyện mà mình vẫn hằng băn khoăn suốt mấy tuần nay.

“Carlita,” ông cất lời, “em có thể nói với Sapphira rằng ngày mai anh sẽ mua cho con bé chiếc đại dương cầm hoành tráng ở cửa hàng Bailey & Stevens’ mà con bé cứ mê mẩn mãi không thôi.”

“Ôi, Gerardus yêu dấu của em!”

“Nó không phải là nụ hồng trắng, nhưng có lẽ con bé sẽ thích nó.” Ông chẳng tài nào nhịn được việc thốt lên chút châm chọc nho nhỏ ấy.{60}

“Chẳng có món quà nào trên đời này mà con bé ao ước đến thế, dẫu cho nó chưa từng dám mơ sẽ sở hữu được nó.”

“Rồi chúng ta sẽ rõ, em yêu ạ! Rồi chúng ta sẽ rõ!”

Khoảng nửa tiếng sau, cánh cửa khẽ kẹt mở và một bóng người nhẹ tênh lướt vụt vào. Rồi Sappha đã quỳ sụp bên gối ông, gương mặt áp sát vào lồng ngực cha, ông cúi đầu xuống, và con bé vòng đôi tay trắng ngần ôm lấy cổ ông rồi hôn ông thắm thiết. Chẳng có lời nào được cất lên; và cũng chẳng cần đến lời nào nữa—nụ hôn ấy—hình bóng đang quỳ gối—vòng tay ôm siết, chính là lời giải thích rõ ràng nhất, là lời hứa hẹn chắc chắn nhất. Quả thực “kẻ nào làm chủ được tâm can mình còn mạnh mẽ hơn kẻ chiếm được một tòa thành.{61}”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.