Mỹ Nhân Bowling Green

Lượt đọc: 34 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Ba
Một Sự Ngọt Ngào Đáng Khao Khát Hơn Mùa Xuân

❊ ❊ ❊

Trong bầu không khí hòa hoãn ngầm ấy, những ngày tháng mới lần lượt trôi qua, nhưng dư âm từ dạo tuyên chiến vẫn chưa hề lắng xuống. Trái lại, sức ảnh hưởng của nó ngày một lan rộng, dẫu Leonard chẳng nhận được từ bà Bloommaert bất kỳ sự ưu ái hay lạnh nhạt nào đặc biệt. Về phần vị thẩm phán, ông vẫn giữ một mực lịch thiệp đầy trang trọng – một thái độ mà chàng thanh niên thấy gần như bất khả để lay chuyển hay làm cho ấm lại. Chẳng mấy chốc, bà Bloommaert nhận ra những chuyến viếng thăm dập dìu của chồng đến chỗ người bạn thân – Tướng Bloomfield – thực chất là để kiềm chế mọi cám dỗ muốn phá vỡ lớp vỏ bọc xã giao nghiêm cẩn ấy.

Thế nhưng, sức mạnh của kẻ si tình cũng chính là sức mạnh của thi nhân. Chàng có thể dệt nên tình yêu từ muôn vàn cung bậc tầm thường nhất của thế gian này. Và thời kỳ ấy lại càng không hề tầm thường; nó rung lên bần bật bởi những lời đồn đại về chiến tranh, thất bại và chiến thắng, khiến tiếng kèn trận và nhịp bước của đoàn quân hệt như một thứ âm đệm đồng hành cùng những bận rộn thường nhật vụn vặt nhất. Chẳng ai đoán trước được tin tức động trời nào sẽ ập đến trong khoảnh khắc tiếp theo. Sự mong chờ đứng ngồi không yên trước những điều kỳ diệu khó tin. Không chỉ riêng nước Mỹ, khắp thế giới Thiên Chúa giáo, những lá cờ chiến trận đang phấp phới bay, các quốc gia đều phải cúi đầu trước vị Hoàng đế Napoleon vĩ đại. Với một đội quân hùng hậu hơn nửa triệu người, lúc bấy giờ ông đang trên đường tiến đánh lãnh thổ của Hoàng đế nước Nga, đồng thời vẫn duy trì cuộc chiến với Anh và Tây Ban Nha trên bán đảo Iberia. Phần lớn phần còn lại của châu Âu đều nằm dưới quyền kiểm soát của ông; và nước Anh tất yếu phải lâm chiến, không chỉ với riêng Napoleon, mà còn với tất cả các cường quốc châu Âu khác – những kẻ hoặc là đồng minh, hoặc là chư hầu của ông. Trong hoàn cảnh ấy, thật khó lòng trông đợi London điều động từ các chiến trường lục địa một lực lượng lớn hơn mức cần thiết để gìn giữ những thuộc địa của mình tại Mỹ. Do đó, cho đến lúc này, người ta vẫn chỉ cảm nhận sự xôn xao và nhiệt huyết sục sôi của chiến tranh, mà chưa hề mảy may lo sợ về một mối hiểm họa cận kề.

Leonard ra vào tư dinh nhà Bloommaert như bao thanh niên khác, và mọi câu chuyện của họ đều xoay quanh binh nghiệp. Song, đôi mắt vốn có thứ ngôn ngữ riêng của nó; những bàn tay biết lên tiếng, hoa cỏ, sách vở và âm nhạc, tất cả đều hóa thành sứ giả của tình yêu, tận tụy tùng theo mệnh lệnh cao cả của chàng. Hơn thế nữa, thành phố New York lúc bấy giờ đang chìm trong một bầu không khí vui tươi đến mức kỳ lạ. Nơi đây trút hết mọi cảm xúc qua những buổi tiệc tùng xã giao và sự hiếu khách vô bờ bến. Tiệc trà, tiệc đánh bài, các buổi hội họp hay dạ vũ quyên góp, những chuyến ngoạn cảnh ngược dòng sông, những chuyến ghé thăm suối khoáng Ballston, những buổi cưỡi ngựa ngoạn cảnh lẫn dạo bước chiều tơi trên khu Battery – khi ánh trăng bàng bạc chiếu rọi, ban nhạc tấu khúc du dương, và những vị anh hùng tương lai tay dâng kem tươi rồi thì thầm những lời yêu đương chân thành – tất cả những điều ấy là một phần không thể tách rời của những ngày đầu chiến tranh năm một nghìn tám trăm mười hai; và Leonard Murray cùng Sapphira Bloommaert cứ thế liên tục hội ngộ trong những hoàn cảnh xiết bao hạnh phúc ấy.

Công viên Bowling Green chính là trái tim của mọi niềm vui hội hè này, bởi đây là đại bản doanh của các cấp chỉ huy quân đội; mọi sắc màu cùng sự hào nhoáng của chiến tranh đều quy tụ về đây. Mỗi buổi sáng, Sappha thức giấc trong âm thanh của khúc nhạc quân hành; và suốt từng giờ khắc ban ngày, những con phố đi bộ lúc nào cũng rực rỡ sắc phục của quân đội và lực lượng dân quân. Thật là một nỗi bất hạnh cho Annette khi phải sinh sống tận trên phố Nassau; nhưng ngặt nỗi, như cô từng bày tỏ, "rất nhiều sĩ quan lại thấy phố Nassau là một lối đi vô cùng thuận tiện để ra Battery." Quả thực là vậy, bởi gương mặt xinh xắn thấp thoáng giữa những khóm hoa và lùm cây cảnh lấp ló trước nhà cô chính là một sức hút đủ để bất cứ ai cũng sẵn lòng đi vòng thêm một chút. Dù vậy, cả Annette lẫn phu nhân Bloommaert đều dành rất nhiều thời gian tại dinh thự bên Bowling Green; và chẳng có ai lại tỏ ra quan tâm đến các vấn đề thời cuộc hơn thân mẫu của vị thẩm phán. Nàng dâu của bà còn vướng bận vô số mối bận tâm và nghĩa vụ khác; thế nhưng đối với phu nhân Jonaca Bloommaert, chiến tranh chính là chiếc trục xoay quy tụ mọi sự quan tâm của bà.

Một buổi sáng gần cuối tháng bảy, bà đang ngồi dùng bữa sáng cùng cô cháu gái. Một làn gió nhẹ thoảng qua cơ ngơi cổ kính, và bà khoác trên người chiếc khăn choàng bằng lụa trắng Canton – một dấu hiệu rõ mười mươi rằng bà đang có ý định ghé qua Bowling Green. Về phần Annette, cô đã chuẩn bị sẵn sàng cho một chuyến đi hứa hẹn ấy, và đang ngắm nghía chiếc đầm chintz họa tiết cùng chiếc khăn choàng pelerine trắng muốt làm bằng lớp vải muslin mỏng manh nhất với vẻ mãn nguyện đầy tự đắc.

“Về cái sự kiện diễn ra tại Nhà thờ Giám mục St. Paul Chủ nhật tuần trước, ta muốn hỏi ý chú Gerardus của con,” bà nói. “Ta mạn phép nói rằng điều đó thật chẳng ra thể thống gì. Ta khó lòng mà tin nổi câu chuyện ấy – hừm, con nghĩ sao?”

“Chắc chắn là thật rồi thưa bà; hôm qua con đang ngồi ăn cơm thì anh họ Peter ghé qua và kể cho nhà mình nghe.”

“Kể cho con nghe ư? Thế cụ thể thế nào?”

“Anh ấy bảo rằng sau khi rời nhà thờ vào sáng Chủ nhật, và tiễn chúng con về tận cổng an toàn, anh ấy đã đi ngược lên phố Nassau rồi cắt ngang Công viên Tòa thị chính với dụng ý ghé thăm John Van Ambridge. Không gặp anh ấy ở nhà, anh bèn đi theo đường Broadway để ra Bowling Green, và khi đang đi ngang qua Nhà thờ Giám mục St. Paul, một trung đoàn pháo binh bỗng tiến ra từ nhà thờ trong tiếng kèn tấu khúc Yankee Doodle; cứ thế họ tiến lên đại lộ Broadway, vấp phải cả sự phẫn nộ lẫn niềm vui sướng bày tỏ công khai của đám đông. Rất nhiều người lớn tiếng yêu cầu họ dừng lại; số khác thì giục họ cứ tiếp tục, thế là một vụ náo động nổ ra, và nếu không phải vì hôm đó là ngày Chủ nhật thì mọi chuyện chắc chắn đã lớn chuyện hơn nhiều rồi.”

“Peter nói gì nào?”

“Anh ấy tỏ ý không bằng lòng; anh bảo điều đó chẳng bao giờ có thể xảy ra ở Nhà thờ Middle Dutch, và thế là anh đổ mọi tội lỗi lên đầu giáo hội Giám mục.”

“Thế chú con nói sao?”

“Chú ấy cũng chẳng mấy hài lòng. Chú nghĩ các sĩ quan ấy đáng bị khiển trách. Còn bà thì sao ạ?”

“Ta thấy thích đấy chứ.”

Annette mỉm cười với một niềm háo hức dễ chịu. Cô khá thích thú trước sự bất đồng quan điểm giữa những bậc trưởng bối trong nhà. Hết lần này đến lần khác, điều đó thường mang lại cho cô vài chút lợi lộc nho nhỏ. Những màn giảng hòa thế nào cũng sẽ nối tiếp, và sự giảng hòa thường kéo theo những sự dễ dãi cùng nhiều ân huệ – chẳng hiếm khi là những món quà. Cô nào có quên chiếc đàn piano mới tinh của Sappha – những bông hoa hồng trắng cùng gương mặt đẫm lệ, và hệ quả tất yếu chính là cây đàn piano.

Trên bước đường tiến về Bowling Green, bà cụ nhận thấy sự tĩnh lặng bất thường trên các con phố, nhưng Annette – người luôn xem Bowling Green chính là New York – lại thấy mọi thứ vô cùng náo nhiệt. Màn hành quân mang âm hưởng âm nhạc xuất phát từ nhà thờ St. John đã trở thành chủ đề trò chuyện, hoặc ít ra cũng tô điểm thêm cho bữa ăn bằng một chút cay đắng vừa đủ thú vị, cho đến khi giờ ăn tối ghé đến. Vị thẩm phán luôn vui mừng mỗi khi đón mẹ, và luôn nhường chỗ ngồi của chính mình ở bàn ăn cho bà khi cụ dùng bữa cùng gia đình; sự kính trọng và lòng hiếu thảo ấy, dẫu lặp đi lặp lại vô số lần, chưa bao giờ thất bại trong việc chạm đến trái tim bà cụ hệt như một điều mới mẻ vừa diễn ra trong chính giờ phút đó. Thế nên, bà đã lên tiếng với sự khoan dung vượt xa dự tính ban đầu về vụ việc tại St. John, đồng thời trút phần giận dữ ít ỏi còn lại lên một sắc lệnh mà Hội đồng Thành phố vừa thông qua, theo đó cấm ngặt bất kỳ ai ngoài những người đang tại ngũ được phép đánh trống hay thổi sáo trên đường phố, trừ các trường hợp tuân thủ nghiêm ngặt về thời gian. Bà phẫn uất tuyên bố rằng đạo luật ấy chẳng khác nào “bóp nghẹt sự tự do của cá nhân”; và bà không quên nhắc nhở con trai mình rằng bản thân anh từng là một kẻ ngỗ ngược đến nhường nào khi cuộc chiến tranh Cách mạng vừa nổ ra.

“Khi ấy con mới chỉ là một chú nhóc mười tuổi, Gerardus, vậy mà chiếc trống chẳng lúc nào rời khỏi tay con, nếu không đánh trống thì con cũng thổi sáo,” bà nói.

“Con rất tiếc khi nghe điều này, thưa mẹ,” anh đáp. “Những nỗi thống khổ do các màn biểu hiện lòng yêu nước trẻ con ấy gây ra thực sự vượt ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Người khỏe mạnh thì ngã bệnh, người ốm đau thì trở nặng, và chắc chắn rằng trong rất nhiều trường hợp, họ đã mất mạng chỉ vì thứ âm thanh đinh tai nhức óc ấy. Gần đây, những ban nhạc này lại giở chứng đến đánh trống inh ỏi trước cửa nhà bất kỳ ai bị nghi là phản đối chiến tranh, và nỗi khốnốn chung đã buộc các chủ nhà phải cầu cứu Hội đồng Thị trấn can thiệp.”

“Ta dẫu đã là một bà già,” bà cụ nói, “nhưng thứ âm thanh ấy chưa từng làm phiền ta.”

“Thưa mẹ, mẹ không hề già, và mẹ sẽ chẳng bao giờ già cả. Dù mẹ có sống đến một trăm tuổi đi nữa, mẹ vẫn sẽ ra đi khi hãy còn thanh xuân.”

Nghe lời ca tụng ấy, bà đưa bàn tay gầy gò, rám nắng về phía con trai, và anh liền phủ trọn bàn tay mình lên đó. Đoạn, bà nói thêm với chút giọng điệu thách thức: “Chúng ta sắp sửa được chứng kiến nhiều thứ tiếng ồn hơn nữa chỉ trong một hai ngày tới. Hội đồng Thành phố thực chất chẳng là gì sất. Căn bệnh mới của thời đại này chính là tiếng ồn, và lũ trẻ đứa nào cũng mắc phải.”

“Vậy thì thưa mẹ, luật pháp sẽ sớm dẹp yên chuyện đó thôi – những ai dám phớt lờ luật pháp sẽ phải đối mặt với mức phạt nặng nề cùng một đêm bị giam trong nhà trạm canh.”

“Tội nghiệp lũ trẻ!”

“Con nghĩ chúng ta đã bàn quá đủ về đề tài đó rồi,” bà Bloommaert lên tiếng; “còn tin tức nào khác không anh, Gerardus?”

“À, người bạn của tôi là Tướng Bloomfield sắp được miễn nhiệm chức vụ ở đây; thế nên những buổi tối ngồi hút thuốc và chuyện trò thú vị với ông ấy chẳng mấy chốc sẽ đi đến hồi kết. Tôi cũng nghe ngóng được rằng đại đội do Leonard Murray gây dựng đã gia nhập trung đoàn pháo binh của Đại tá Harsen, đồng thời ngỏ ý dâng hiến sức lực của toàn đội lên thống đốc bang, và đã được chấp thuận. Một vài bộ phận sẽ được điều động đến đảo Staten, số khác đến đảo Bedloe và eo biển Narrows.”

Anh không hề ngước mắt lên khi thốt ra những lời ấy, bằng không anh chắc chắn sẽ nhận ra gương mặt con gái mình lúc thì đỏ bừng, lúc lại tái mét đi trước từng lời anh nói. Cô ngầm hiểu từ đó rằng Leonard sắp sửa rời khỏi New York, và cô chẳng thể mường tượng nổi sự vắng bóng của chàng sẽ kéo dài bao lâu. Bà Bloommaert lặng thinh; nhưng bà đăm đăm nhìn nét mặt đang khẽ sụp xuống của chồng với vẻ tò mò. Bằng một cách mờ hồ nào đó, chỉ trong khoảnh khắc, bà đi đến kết luận rằng động thái quân sự này thực chất do Tướng Bloomfield dàn xếp nhằm làm vui lòng người bạn thân của ông. Annette nhún vai và bảo rằng hình như lúc nào cũng có ai đó, hoặc điều gì đó, cướp mất những người bạn của cô. Cô tự hỏi không biết mình sẽ xoay sở thế ra sao nếu thiếu vắng Leonard – chàng vừa niềm nở, vừa vui tính, lúc nào cũng sẵn sàng có mặt khi cô cần, lại vừa khéo léo biến mất đúng lúc để cô không cảm thấy phiền phức. Cô tiếp tục huyên thuyên với giọng điệu hờn dỗi đáng yêu, cứ như thể Leonard là người bạn đặc biệt hay thậm chí là người tình của cô vậy, và dẫu tất cả những người có mặt đều nhìn cô với vẻ kinh ngạc nhẹ nhàng, chẳng một ai bận tâm đến việc phản bác cái vị thế mà cô vừa tự nhận. Bà cụ thậm chí còn hùa theo bằng vẻ đồng cảm mang tính bản năng không giấu giếm. “Con bé này, con hãy còn dăm bảy cậu ngự trị trong lòng cơ mà,” bà nói; “và Leonard Murray hoàn toàn không phải là kẻ vô song. Hãy tặng cậu ta một tín vật rồi để cậu ta đi; chút kỷ luật đó sẽ có ích cho cậu ta thôi.”

Cuộc tranh luận này đã mang lại cho Sappha khoảng thời gian quý báu để lấy lại bình tĩnh, và bà Bloommaert nhìn cô con gái với ánh mắt đầy thán phục. Bà từng ái ngại rằng con bé có thể thốt ra những lời cay đắng hay giận dữ, thế nhưng gương mặt Sappha lại phẳng lặng tựa như một đứa trẻ đang say ngủ. Cô đã hoàn toàn làm chủ được bản thân; và cất tiếng xin mẹ một món tráng miệng với phong thái của một người chẳng màng điều gì khác ngoài bữa ăn của mình. Bằng một nỗ lực tinh thần mạnh mẽ, cô đã tạm thời khép chặt cánh cửa lòng mình trước hình bóng Leonard: cô yêu chàng quá đỗi sâu sắc và cao thượng, chẳng dại gì đem chuyện tình cảm của mình ra để bàn tán – nhất là với cô em họ Annette.

Cô chẳng mỏi miệng gặng hỏi cha thêm bất kỳ thông tin nào nữa, và thái độ kiềm chế ấy khiến ông vô cùng hài lòng; đến mức khi bước qua ghế cô lúc rời đi, ông đã ân cần vuốt ve mái tóc con gái; và nụ cười rạng rỡ mà cô đáp lại đã khiến ông dành cho cô sự tôn trọng tuyệt đối. Thời bấy giờ, việc phụ nữ dễ dàng rơi lệ được xem là thước đo của sự tao nhã; và nếu dưới sức ép của bất kỳ niềm vui, nỗi buồn hay sự thất vọng bất ngờ nào mà ngất lịm đi, họ sẽ được ca tụng là đã hành xử đúng mực để minh chứng cho sự nhạy cảm tinh tế nhường ấy. Thế nhưng, giả sử Sapphira ngất xỉu khi hay tin người yêu lên đường tòng quân, vị thẩm phán chắc chắn sẽ chẳng thèm vuốt tóc cô, và cô cũng sẽ vụt mất cái liếc nhìn đầy thấu hiểu và khích lệ từ người mẹ – thứ ánh sáng vừa ra lệnh cho cô phải kiên cường trước nghịch cảnh, vừa trấn an cô bằng nguồn sưởi ấm của sự đồng cảm.

Thế nhưng, dòng sông dẫu dềnh dang mệt mỏi đến đâu cuối cùng rồi cũng tìm thấy đại dương, và năm tháng cùng giờ khắc rồi cũng sẽ trôi qua dẫu ngày dài đến mấy. Khách khứa lục tục kéo đến sau bữa tối, rồi giờ uống trà cũng đến rồi qua đi; và vị thẩm phán chuẩn bị tươm tất để đưa mẹ cùng cô cháu gái về nhà an toàn.

“Và Carlita thân yêu của anh,” ông nói, “anh có thể về muộn đấy. Sẽ có một buổi họp tại hội trường Tammany nhằm ủng hộ chiến tranh, và ngẫm lại cuộc trò chuyện của chúng ta vào bữa trưa hôm nay, có một chi tiết trong thông cáo triệu tập rất đáng để em biết – người ta ‘khuyến khích các công dân từ bốn mươi lăm tuổi trở lên tham dự’.”

Bà cụ bật cười và giật nhẹ đôi bao tay dài với vẻ thiếu kiên nhẫn – “mấy ông già râu tóc bạc phơ từ ‘bốn mươi lăm tuổi trở lên’ ấy chắc chắn sẽ bàn luận vô cùng uyên bác đây,” bà nói; “nhưng chính đám thanh niên mới là những kẻ trực tiếp điều khiển chiến hạm, trấn giữ các pháo đài, và xông pha vào chốn tử chiến.”

“Các bậc bô lão sẽ là người dẫn dắt họ, thưa mẹ.”

“Gerardus, con mới tròn mười sáu tuổi khi tòng quân ra mặt trận trong cuộc chiến trước; và Aaron Burr – kẻ dẫu chẳng lớn hơn, hoặc thậm chí trẻ tuổi hơn con – đã từng làm giao liên chạy qua làn đạn pháo dày đặc giữa Arnold và Montgomery ngay trong tâm điểm chiến sự tại Quebec; và khi Montgomery ngã xuống, chính tiểu tử Burr đã đỡ lấy thi thể ông, mang ra khỏi tầm lửa đạn giữa một cơn mưa đạn rát rạt – hãy nhớ rằng hắn khi đó chỉ là một đứa trẻ!”

“Thưa mẹ, con đã hoàn toàn cắt đứt mọi mối dây liên hệ cảm xúc với kẻ mang tên Aaron Burr ấy, đồng thời chẳng mảy bận tâm đến bất kỳ lời ăn tiếng nói hay hành động nào của hắn nữa.”

“Lại thế nữa rồi! Dù sao đi nữa, lời nói và việc làm rồi cũng sẽ tự lên tiếng vào một ngày nào đó. Thôi nào, chúng ta đi thôi trông Carlita có vẻ kiệt sức vì đám chuyện phiếm của chúng ta rồi kìa.”

Carlita chẳng buồn chối cãi lời buộc tội ấy, và ngay khi tiếng bước chân của họ chìm dần vào không gian xa xăm, cô cất lời: “Sappha, con hãy đem mấy ngọn nến sang phòng khách nhỏ đi. Mẹ muốn nằm nghỉ trên sô-pha. Mẹ muốn được ở trong không gian tĩnh mịch và tối tăm để tĩnh tâm lại xem mình là ai, và mình đang đứng ở đâu. Sức ép vừa rồi quá ư nặng nề. Cứ đặt chân đến phố Nassau là mẹ lại thấy mình chẳng còn làm nổi việc gì ngoài việc lăn ra ngủ.”

“Và rồi cái kết cho cuộc tranh cãi nhức đầu về Aaron Burr ấy nữa chứ. Bộ người ta không thể để yên cho ông ta được sao?”

“Không đời nào! Khi ông ta lập được công trạng, chẳng ai thèm nhắc đến; còn giờ đây khi người ta đồn đại ông ta phạm lỗi, cái tên ấy lại được réo lên suốt ngày từ sáng đến tối.”

Thế là Sappha bước sang căn phòng khách lớn, nơi chiếc đàn piano vẫn mở toang, rải rác những bản nhạc mới xung quanh. Cô thu dọn lại cho ngăn nắp, và chính hành động đó đã mang lại cho cô một tâm trạng bình yên và sâu lắng. Sau đó, cô khép nắp đàn lại, kéo một chiếc ghế bành êm ái đến trước khung cửa sổ và ngồi xuống để trò chuyện với cõi lòng mình. Nếu những gì cha cô vừa tiết lộ về đại đội của Leonard là sự thật – và cô chẳng mảy nghi ngờ điều đó – thì gần như chắc chắn bản thân Leonard sẽ tìm đến để thông báo trực tiếp cho cô. Chàng có thể đến ngay trong đêm nay; cô đoan chắc là chàng sẽ đến, và đôi tai cô chăm chú lắng nghe từng âm thanh nhỏ nhặt cùng mỗi tiếng bước chân đang hướng về phía ngôi nhà.

Hy vọng và ước nguyện của chúng ta hiếm khi nào trọn vẹn thành hiện thực! Nhưng giờ phút này lại vô cùng thuận lợi cho tình yêu của Sappha. Chẳng mất bao lâu, cô đã nghe thấy tiếng bước chân mạnh mẽ, dồn dập mà cô hằng mong chờ; gương mặt cô bừng sáng lên vì hạnh phúc, và một nụ cười ngọt ngào biến đôi môi đỏ mọng của cô trở nên vô cùng quyến rũ. Cô không chạy ra đón chàng – cửa chính mở toang suốt những buổi tối mùa hè ấy, và việc ngồi yên một chỗ chờ đợi hạnh phúc bước đến mang lại một thứ cảm giác xa xỉ thật khác biệt. Nó đang đến thật chắc chắn, thật nhanh chóng, và khi tiếng bước chân mỗi lúc một gần hơn, giữa không gian gần như phẳng lặng ấy, cô lắng nghe tiếng nói từ tận sâu thẳm trái tim mình.

Chàng bước vào thật nhẹ nhàng, mang theo vẻ duyên dáng nửa như thần bí nửa đầy nhục cảm; và cứ đứng sững ngước nhìn cô mà chẳng nói một lời. Bấy giờ cô ngước mắt lên, và chàng nhìn thấy ánh sáng rực rỡ trong đôi mắt ấy hóa thành dịu ngọt, để rồi chàng cúi xuống áp má mình vào má cô, thì thầm: “Em có yêu anh không? Em có yêu anh không? Em có yêu anh không, Sappha? Hãy nói đi, người anh yêu! Nói mau lên nào! Ôi, hãy nói những lời dịu dàng với anh!”

Và tâm hồn cô chồm cả lên đôi môi, chẳng cần đến từ ngữ nào nữa. Tình yêu đã tìm thấy một cách diễn giải ngọt ngào hơn thế.

“Bàn tay nhỏ nhắn trắng ngần của em, hãy đưa nó cho anh.”

Cô chẳng có chút ý định từ chối nào, dường như tự thân nó đã trượt vào giữa hai bàn tay vững chãi đang ôm trọn lấy nó. Bấy giờ, chàng thốt ra những lời yêu đương đong đầy hạnh phúc – những lời ca hân hoan đến mức nhảy múa trong ngọn lửa tình; những câu từ vừa đơn sơ vừa uyên bác, vừa dịu dàng lại vừa kiên cường.

Và điều kỳ diệu lớn lao của tình yêu vẫn luôn là thế này – sự thiếu hụt trầm trọng về kiến thức và trải nghiệm lại có thể ép buộc một con người thốt lên với kẻ khác rằng: “Anh yêu em!”; thứ buộc các tâm hồn phải lao vào nhau hệt như thể họ bị cuốn hút bởi một thứ lực hấp dẫn không thể chối từ giống như cách các hành tinh buộc phải tuân theo quỹ đạo của mình. Cả hai hãy còn quá trẻ và quá đỗi hạnh phúc, khiến họ trông càng thêm phần xinh đẹp khi ngồi đan chặt tay nhau, chuyện trò về đại đội của Leonard cùng điểm đến của họ.

“Làm sao em có thể chịu đựng được sự vắng bóng của anh đây, hỡi Leonard? Em chẳng biết nữa. Giờ đây anh chính là lẽ sống của đời em, người anh yêu hỡi,” Sappha thổn thức.

“Nhưng Sappha, ngọt ngào của anh ơi, anh sẽ luôn hiện diện trong tâm trí em, cũng như em trong tâm trí anh; và chúng ta sẽ chẳng hề cảm thấy mình bị chia cắt. Hơn nữa, thời gian ấy chỉ kéo dài vỏn vẹn chín mươi ngày thôi.”

“À, nhưng anh Leonard yêu dấu ạ, tình yêu thường đếm ngày ra năm tháng, và mỗi sự biệt ly dù ngắn ngủi cũng dài đằng đẵng như cả một cõi đời! Những giờ phút lê thê sẽ trôi đi nặng nề, và từng phút giây đều dài dằng dặc tựa một ngày uể oải.”

“Em học được những điều này ở đâu thế?”

“Chính anh đã dạy em mà.”

“Ôi, tình yêu! tình yêu! tình yêu! Em đáng yêu làm sao! Khi anh trở về, em sẽ là hiền thê của anh. Hãy cho phép anh thưa chuyện với cha mẹ em ngay tối nay nhé. Tại sao chúng ta phải chờ đợi cơ chứ?”

“Leonard, em đã hứa với cha mẹ rằng mình sẽ không đính ước với bất kỳ ai cho đến khi chiến tranh kết thúc.”

“Nhưng đó là chuyện trước khi khoảnh khắc hạnh phúc này diễn ra. Một lời hứa như thế giờ đây không thể ràng buộc chúng ta nữa đâu, em yêu.”

“Nó không thể bị phá vỡ. Làm sao anh có thể tin tưởng em nếu em quay lưng với người cha người mẹ kính yêu – những người đã dành cho em ngần ấy tình thương?”

“Nhưng chúng ta đã đính ước rồi còn gì, Sappha. Chẳng một nghi thức hỏi xin sự chấp thuận nào có thể khiến chúng ta hòa làm một một cách trọn vẹn hơn thế nữa.”

“Vậy thì, tình yêu của anh, hãy bằng lòng với sự thật đó đi.”

“Cuộc chiến này có thể kéo dài suốt cả một đời người.”

“Nó có thể kết thúc chỉ trong một năm – hoặc sớm hơn thế.”

Ánh sáng tình ái trong đôi mắt cô, những nụ cười thoảng rung rẩy, nét đẹp thấm đẫm tâm hồn cùng ngọn lửa bền bỉ trong một trái tim đầy kiên định đã lấp đầy tâm trí chàng bằng niềm vui khôn tả xiết. Đôi mắt chàng ánh lên vẻ ngất ngây; chàng có cảm giác như mình đang bước đi trên mây và hít thở bầu không khí thuộc về một thế giới siêu phàm nào đó. Niềm hạnh phúc của tình yêu đã xộc lên đầu chàng mạnh mẽ hệt như thứ rượu nồng.

Chỉ chốc lát sau, bà Bloommaert bước vào phòng, và dẫu đang ngái ngủ cùng tâm trí lơ đễnh, bà không thể không chú ý đến cặp đôi đang đứng nắm chặt tay nhau để chào đón mình. Sappha vừa tròn mười8 tuổi, nhưng gương mặt rạng rỡ của cô trông gần như ngây thơ hệt một đứa trẻ trong niềm vui sướng hồn nhiên; còn Leonard đứng bên cạnh cô chính là hiện thân của tuổi trẻ cường tráng; được ban cho sức mạnh, vẻ duyên dáng cùng nhan sắc, và được đội lên đầu vương miện vinh quang của một tình yêu viên mãn.

Leonard mong bà hiểu cho, nhưng bà mỉm cười gạt phắt mọi lời giải thích, đồng thời ra vẻ lo lắng vẩn vơ về giấc ngủ kéo dài cùng thời khắc đã muộn màng; và chẳng còn cách nào khác, Leonard đành phải cất lời “Chúc ngủ ngon”. Cả hai cùng tiễn chàng ra cửa, và khi bóng chàng khuất hẳn, cánh cửa khép lại, người mẹ liền cất lời: “Chắc là mẹ đã ngủ quên! Cha con sẽ về đây sớm thôi, Sappha. Con đi ngủ đi thì hơn. Chắc là Leonard đi cùng với số tân binh mà cậu ấy tự tay chiêu mộ rồi nhỉ.”

“Vâng, anh ấy đi ạ.”

“Cậu ấy nên cảm thấy vui vì được đi. Trải nghiệm chút ít thực sự có ích cho một thanh niên. Thôi nào, con yêu, ngày hôm nay đã khép lại; và con hẳn đã mệt lử rồi.”

Bấy giờ Sappha nhận ra rằng mẹ cô không hề muốn nghe một cách rành mạch những điều mà bản thân bà đã ngầm hiểu rất rõ; và cảm thấy đôi chút chạnh lòng trước sự thiếu đồng cảm ấy, cô lặng lẽ bước vào chốn tĩnh mịch mang theo niềm hạnh phúc của riêng mình.

Ba tháng nối tiếp cuộc gặp gỡ ấy ngập tràn những biến cố dồn dập. Người dân New York chẳng cần đến nhà hát; chính chiến tranh đã cung cấp mọi cung bậc cảm xúc từ kinh hoàng cho đến khải hoàn mà trái tim con người có thể chịu đựng được. “Tiến về Canada!” từng là khẩu hiệu hô vang khi tiếng súng vừa nổ ra, và Tướng Hull cùng hơn hai nghìn tinh binh đã nhanh chóng chiếm lĩnh trong hòa bình ngôi làng nhỏ Sandwich trên bờ biển Canada. Những bức thông điệp đầu tiên của ông đã đẩy New York vào một cơn lốc chấn động và ngập tràn hân hoan. Lá cờ Mỹ tung bay ở cả hai bờ sông Niagara, và từ bản tuyên ngôn khoa trương mà Hull gửi đến người Canada cùng những bản tin đầu tiên của ông, có vẻ như Canada thực sự đã thất thủ. Thế nhưng, ngay khi những hồi chuông còn đang ngân vang và tiếng đại bác còn đang réo vang mừng chiến thắng cho tin tức ấy, chính Hull lại giương cao lá cờ trắng tại pháo đài Detroit, đầu hàng toàn bộ cứ điểm cùng toàn binh đoàn mà không thừng bắn lấy một phát súng. Mọi sự phẫn nộ cùng nỗi nhục nhã của người dân chẳng mấy chốc lại được chuyển hóa thành niềm khải hoàn; bởi nếu Tướng Hull đầu hàng vào ngày mười chín tháng Tám, thì Đại úy Hull trên chiếc chiến hạm Constitution vào ngày mười tháng Tám đã tóm gọn chiếc chiến hạm Guerrière của Anh ngoài khơi bờ biển Newfoundland; và tin tức về chiến thắng này, truyền về New York vào khoảng đầu tháng Chín, đã khơi bùng lên một niềm nhiệt huyết cuồng dại nhất.

Hoàn cảnh này phản ánh rất rõ tiến trình của cuộc chiến. Các chiến dịch quân sự tại biên giới Canada ở đâu cũng mang lại thảm họa cho nước Mỹ; nhưng trên đại dương, những chiến hạm của họ đã khẳng định qua các chiến thắng lừng lẫy liên tiếp rằng những thủy thủ nơi đây chính là hậu duệ xứng đáng của một cường quốc hàng hải vĩ đại – nơi lá cờ từng hiên ngang thách thức bão tố và chiến trận suốt cả ngàn năm. Xuyên suốt lịch sử chưa từng có một biên niên sử hải quân nào lộng lẫy hơn những gì mà Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã tạo dựng trong suốt chín mươi ngày đan xen giữa hoảng loạn và khải hoàn ấy. Và chẳng có thành phố nào cảm nhận trọn vẹn những chiến thắng trên biển kỳ diệu ấy như cách mà New York đã trải qua. Những xưởng đóng tàu lớn ven sông Đông của họ đã hạ thủy những chiếc chiến hạm và tàu hộ vệ vũ trang, bao phủ toàn bộ quốc gia – ngay cả trong mắt kẻ thù – bằng một vẻ vang vĩ đại và bất ngờ. Constitution! President! Essex! United States! Những con tàu hiên ngang ấy mang trong mình một thứ cá tính riêng biệt đối với người dân New York. Họ từng chứng kiến chúng lớn lên thành những tuyệt tác tại các xưởng của Christian Bergh và Adam Brown. Họ từng đứng làm cha đỡ đầu trong lễ rửa tội của chúng, và dõi theo hành trình đầy dũng mãnh của chúng gần như cách một người cha dõi theo bước đường thành công rực rỡ của con trai mình.

Vào ngày mùng bốn tháng Chín, Sappha và bà Bloommaert đang mua sắm trên phố Greenwich thì chợt nghe thấy một tiếng hô vang phấn khích. “Constitution! Constitution!” Hai từ ấy truyền miệng nhau nhanh tựa lửa bén cỏ khô. Cả thành phố đang gầm vang cái tên ấy. Những hồi chuông gióng lên hưởng ứng. Tiếng đại bác nổ vang rền trời chuyển đất qua đất liền lẫn biển khơi. Những người đàn ông dẫu chẳng quen biết khi vô tình chạm mặt cũng ôm chầm lấy nhau; và những người phụ nữ vùi đầu vào ngực nhau nức nở. Liệu còn sót lại chút cảm xúc nào để một thiếu nữ phải sầu muộn hay tương tư nữa chăng? Chẳng hề có trong trường hợp của Sappha. Cô dồn trọn trái tim để hòa chung niềm vui với đất nước trước tiên, rồi sau đó mới kiêu hãnh nhớ về chàng trai thanh niên thân thương – kẻ có lẽ cũng đang hân hoan cùng cô vào khoảnh khắc ấy.

Thư từ của chàng gửi về thường xuyên hơn những gì cô dám hy vọng. Những người đưa thư quen mặt thường xuyên ghé qua pháo đài ở Narrows, và Leonard chưa từng bỏ lỡ một cơ hội nào. Chẳng có bất kỳ sự cấm đoán nào đối với mối liên lạc này từ cha mẹ cô, dẫu vào thuở ban đầu, vị thẩm phán từng kiên quyết đề nghị phải thắt chặt quản lý.

“Những lời viết ra thì không thể chối cãi hay xóa bỏ được đâu, Carlita,” ông nói. “Anh lạ gì tính tình đám thanh niên. Giả sử Leonard đem thư của Sappha ra khoe với mấy gã bạn đồng hành thì sao.”

“Anh đang giả định một điều không thể xảy ra đấy, Gerardus.”

“Không hẳn đâu. Một kẻ đang yêu lúc nào cũng là kẻ kiêu ngạo, nếu tình cảm của hắn được đáp lại. Hắn đã chiến thắng, và hắn trưng ra mọi điệu bộ của một kẻ khải hoàn. Thường thì hắn sẽ muốn có ai đó ngưỡng mộ và ghen tị với mình, và một bức thư tình chính là bằng chứng sờ sờ cho chiến tích của hắn giữa chốn hồng trần. Anh sẽ không cho phép Sappha viết thư đâu.”

“Thế thì anh đã lầm to rồi, người tình của em ạ. Chẳng có gì tuyệt vời hơn cho một đôi tình nhân bằng một quá trình viết thư tình cả. Đó là khóa giáo dục tuyệt hảo nhất để bước vào hôn nhân.”

“Bọn họ hay thốt ra những điều quá đỗi phóng đại.”

“Thì sao chứ. Điều đó tốt chứ sao. Bọn họ quen dần với việc nói những lời hay ý đẹp, rồi sau đó họ sẽ thực sự cảm nhận được chúng, và chẳng có chút hại gì khi một gã si tình viết trong thư rằng người tình của hắn là ‘một thiên thần’. Nhờ thế hắn có thể đối xử tốt với cô ấy hơn trong suốt quãng đời chung sống.”

“Thế à! Thế à! Cứ theo ý dại dột của mình đi vậy, bà xã. Ta nào có quên những bức thư tình nhỏ nhắn đáng yêu của nàng – cùng với mấy chiếc lá tầm xuân luôn được kẹp trong đó. Ta vẫn còn ngửi thấy hương thơm của nó đấy.”

Thế là Sappha vẫn nhận được những bức thư tình của mình, và cô cũng hồi đáp lại chúng. Thư của Leonard phản chiếu đúng con người chàng – bộc trực, ngập tràn sự phóng đại trong cả tình yêu lẫn chiến trận. “Chàng yêu cô hơn bất kỳ người đàn ông nào từng yêu trên cõi đời này”; và cô ngắm nhìn những dòng chữ lấp lánh trên trang giấy, tin tưởng chúng bằng trọn vẹn tâm hồn mình. “Chàng khao khát bọn bạo chúa khốn nạn người Anh kia lọt vào tầm ngắm đại bác của họ, chúng sẽ bị đánh chìm xuống tận hai mươi trượng nước trong chớp mắt – rồi thì, rồi thì, ồ rồi thì, chàng sẽ tung cánh bay về bên cô tựa loài chim bay về tổ!” Tình yêu và vinh quang cứ thế đan xen vào nhau, cho đến khi tình yêu chiếm lĩnh toàn bộ; để rồi đoạn kết là màn bộc lộ đầy đam mê quanh từ ngữ khao khát mang tên “tại sao?” “Tại sao họ không thể kết hôn khi chàng trở về? Tại sao phải chờ đợi? Tại sao cô lại không suy nghĩ giống như chàng? Tại sao lại phải bận tâm đến chiến tranh làm gì? Tại sao lại để mụ bạo chúa già mang tên nước Anh ấy xen vào hạnh phúc của họ? Tại sao lại để bất cứ thứ gì? Hay bất kỳ ai cản trở?” Có những buổi tiệc nhỏ của khách khứa từng ghé qua Narrows, “Tại sao cô không thuyết phục cha mẹ cùng mình đáp thuyền đi xa đến thế? Tại sao, tóm lại là tại sao cô không hiểu rằng cuộc đời trong pháo đài này tẻ nhạt đến phát sợ, và chỉ cần được nhìn thấy cô thôi cũng đủ tựa chốn thiên đường đối với chàng rồi? Tại sao? Tại sao? Tại sao cô lại không yêu chàng cuồng nhiệt, sâu đậm và vĩnh cửu như cách chàng yêu cô?”

Tất cả sự cường điệu ấy lại chính là chân lý tuyệt mỹ nhất trong mắt Sapphira. Cô tôn sùng người yêu bởi chính sự dồi dào trong những lời khẩn khoản và thề thốt của chàng. Việc các đôi tình nhân phải chịu đựng mọi nỗi thống khổ của sự chia ly là điều vô cùng đúng đắn và phải phép; cô thậm chí còn có phần tự hào về những tiếng than vãn và hờn dỗi của Leonard, đồng thời vô cùng cẩn trọng để không xoa dịu chúng quá mức bằng cách đem so sánh với nỗi niềm của chính mình. Quả thực, cô có phần chuộng phong cách của một vị cố vấn ngọt ngào – người mang sứ mệnh nhắc nhở chàng rằng bản thân phải luôn tôn kính danh dự, thậm chí còn đặt nó lên trước cả cô. Và cô khéo léo hòa quyện những hy vọng cùng hạnh phúc của đôi bên vào các vấn đề gia đình lẫn quốc gia sự vụ, khiến những lá thư của mình trở nên trọn vẹn hệt như một tờ nhật báo đối với một kẻ đang bị giam cầm trong ngục tối hay trong một pháo đài giữa chốn hoang vu. Leonard thấu tỏ qua những trang thư ấy hình bóng của một New York mà chàng yêu dấu – một thành phố nhộn nhịp, ngập tràn hy vọng, nơi con người đang chuyện trò, buôn bán, ca hát, hút thuốc, yêu đương và tận hưởng sự sống bằng mọi giác quan; và chàng cảm nhận với niềm hoan hỉ tột cùng mọi sự tự ti ngọt ngào cùng nỗi áy náy của Sappha về niềm hạnh phúc và may mắn của chính cô khi được chàng yêu thương.

“Em không thể diễn tả cho anh biết, người bạn thân thiết nhất của đời em,” cô viết vào ngày mùng sáu tháng Mười một, “những lời khẳng định về tình cảm của anh đã mang lại cho em niềm hạnh phúc nhường nào. Những kẻ đang vô cùng, vô cùng hạnh phúc thường chẳng biết làm sao để viết ra niềm vui sướng của mình. Em chẳng có từ ngữ nào ngoài những câu từ xưa cũ tự ngàn xưa – rằng em yêu anh biết bao! Chỉ cần nghĩ đến tên anh thôi, em đã ban phước cho nó mãi mãi muôn đời. Khi thư anh đến, em hôn lên con dấu trước khi mở ra; lúc viết thư cho anh, em gửi gắm cả tình yêu vào từng con chữ mình đặt bút. Cha chẳng nhắc gì đến anh – ồ, ngoài kia có quá nhiều thứ khác để ông bận tâm bàn luận! Mẹ chỉ ánh lên sự đồng cảm ngọt ngào mà bà quyết không thốt ra cho đến khi cha cho phép – và em nghĩ làm thế là đúng. Annette có lẽ đã hoài nghi, nhưng con bé chẳng biết chắc chắn điều gì; bí mật của chúng ta vẫn thuộc về riêng chúng ta và nhờ thế mà nó càng trở nên trân quý hơn. Anh cũng sẽ đồng mắt như thế, nếu được nhìn và nghe New York ở thời điểm hiện tại. Bất chấp những thiếu thốn nhỏ nhoi, tất cả chúng ta đều đang vô cùng hạnh phúc. Lực lượng dân quân đồn trú tại đây đang có khoảng thời gian vô cùng gắn kết, các buổi diễu hành và duyệt binh diễn ra liên tục không ngừng nghỉ. Nhà hát giờ đây luôn kín chỗ mỗi khi mở màn, và hễ có một vị tư lược dũng mãnh nào, hay một anh thủy thủ từ các chiến hạm bước vào, buổi biểu diễn buộc phải tạm dừng cho đến khi anh ta được tung hô vang trời dậy đất. Em rất tiếc, người bạn thân yêu nhất của em, vì anh đã không gia nhập hải quân; bởi vào lúc này các thủy thủ chính là những thần tượng của thành phố chúng ta – ý em không phải thế – ồ, không đâu! Em không tài nào chịu nổi ý nghĩ phải nghĩ đến anh lênh đênh ngoài khơi xa. Giờ đây em đang đếm từng ngày từng giờ. Em nghe mẹ nói với Annette rằng những người lính tại Narrows sẽ được về nhà tham dự cuộc đại diễu hành vào Ngày Di Tản, Annette vỗ tay reo hò và bảo ‘thế thì Leonard Murray sẽ trở về với chúng ta; và em sẽ xin bà thết đãi anh ấy một bữa tối. Anh ấy hẳn sẽ rất vui khi được gặp lại em,’ con bé nói thêm, ‘và em cũng sẽ vô cùng hạnh phúc khi được gặp anh ấy.’ Con bé gạt phăng em ra khỏi tính toán của nó, và em chẳng mảy may bận tâm; bởi anh nhớ lấy, em còn màng chi đến việc thiên hạ có lãng quên mình hay không? Thật tệ làm sao khi những chiến hạm Anh lại chẳng cho anh cơ hội lập công hiển hách, chúng ta đã gần như quên mất cảm giác sợ hãi chúng là gì rồi. Ai nấy đều đang ở trạng thái tinh thần phấn chấn nhất; chúng ta chẳng mảy may hoài nghi Thiên Chúa, đất nước, hay những người lính thủy và binh đoàn dũng mãnh của mình. Và, ồ Leonard! Leonard thân yêu, người yêu dấu của em ơi, em chẳng có lấy một chút hoài nghi nào về anh cả. Thế nên em xin gửi trọn trái tim mình cho anh; bởi em thực sự đặt trọn niềm tin nơi anh, hỡi Leonard, vì tất cả niềm vui mà cuộc đời này sẽ mang lại cho em. Vâng, em thực sự tin tưởng! Em thật lòng tin tưởng! Sappha.”

Những lời lẽ ngớ ngẩn làm sao! À, không đâu! Đó chính là những lời lẽ đầy khôn ngoan và diễm lệ! Và thật hạnh phúc thay cho người phụ nữ nào khi ở tuổi thanh xuân đã cất giấu những bức thư nhường ấy vào Sách Đời của mình. Chúng sẽ tô điểm ngọt ngào cho từng trang giấy – cho đến tận cùng những dòng cuối cùng của cuộc đời.{81}

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.