Mỹ Nhân Bowling Green

Lượt đọc: 34 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Bảy
Biến Cố Hôn Nhân

❊ ❊ ❊

Cuộc gặp gỡ vô cùng quan trọng đối với chuyện tình cảm của Leonard, và cũng là điều anh hằng mong mỏi thiết tha, đã không diễn ra theo đúng dự định của anh. Anh vốn định sẽ thưa chuyện với vị thẩm phán khi có mặt bà Bloommaert ở đó và Sappha ở không xa, bởi anh đặt rất nhiều kỳ vọng vào ảnh hưởng cá nhân của họ để nhận được một lời đáp thuận tình cho thỉnh cầu của mình. Thế nhưng, vào một buổi sáng khi anh đang đi ngang qua ngôi nhà, vị thẩm phán đang ngồi bên cửa sổ bỗng nhìn thấy anh; và bằng một cử chỉ thân thiện, gần gũi, ông đã mời anh vào gặp.

“Cậu thấy đấy, anh Murray,” ông vui vẻ nói, “tôi đã bỏ lỡ mọi tin tức trong thành phố rồi. Hãy ngồi đây một tiếng và kể cho tôi nghe dạo này có chuyện gì nào.” Rồi ông nắm lấy tay chàng trai và trìu mến nhìn vào khuôn mặt ngay thẳng, khôi ngô của anh.

“Thưa thẩm phán, De Witt Clinton chắc chắn sẽ tái đắc cử thị trưởng ạ.”

“Đúng vậy, đúng vậy; phần lớn hội đồng là những người theo phái Liên bang.”

“Tôi nghĩ phe chủ chiến cũng đồng lòng ủng hộ ông ấy.”

“Chắc chắn rồi, ông ấy đã làm một thị trưởng tốt. Có tin tức chiến sự nào không?”

“Có tin đồn rằng tàu Constitution đã bắt được chiến thuyền Java của Anh vào khoảng ngày lễ Giáng sinh vừa rồi. Tôi tin tin đồn ấy, vì nó được đưa đến bởi chiếc tàu tư lược Tartar do Thuyền trưởng King chỉ huy.”

“Ước gì chúng ta có được những tin tức như thế từ mặt trận Niagara. Chẳng có gì ngoài thảm họa xuất phát từ hướng đó. Chính phủ đã yêu cầu con trai tôi là Peter đến đó để hỗ trợ Brown xây dựng hạm đội trên hồ. Không biết việc đó có đạt được kết quả gì không nữa.”

“Tất cả những gì mà người ta dự định đạt được thôi, thưa thẩm phán. Chúng ta phải cho những người ở ngoài đó thời gian và cơ hội. Trước khi mùa hè kết quả, chúng ta sẽ có tin tức từ họ.”

Họ bắt đầu chuyển sang chuyện bàn về các công sự phòng thủ của New York, và Leonard miêu tả những công việc đang được tiến hành tại rạn san hô Hendrick và tại Navesink. “Có hơn tám trăm lính Jersey Blues đang đóng trên các cao điểm,” anh nói, “và trạm điện tín trên vùng cao nguyên đã sẵn sàng hoạt động. Tướng Izard là một sĩ quan năng nổ và nhiệt huyết.”

Sau khi đã bàn rốt ráo đề tài này, vị thẩm phán đột nhiên chuyển sang chuyện cá nhân, và với một vẻ đường đột khiến Leonard giật mình, ông hỏi:

“Cậu đang trải qua những ngày đông đẹp đẽ này thế nào, anh Murray? Hãy nói cho tôi nghe, nếu câu hỏi của tôi không phải là một sự phiền hà.”

“Thật sự, thưa ngài, tôi coi đó là một vinh dự lớn. Và những lời khuyên từ ngài, vào lúc này đây, sẽ hữu ích hơn nhiều so với những gì ngài có thể tưởng tượng.”

“Nếu cậu chịu nghe theo; nhưng hầu hết mọi người xin lời khuyên chỉ để củng cố thêm cho điều mà họ đã quyết tâm làm từ trước.”

“Tôi sẽ xin lời khuyên của ngài, thưa ngài. Chắc chắn nó sẽ tốt hơn ý kiến của chính tôi.” Thế rồi Leonard trình bày dự định của mình về việc nghiên cứu luật điều chỉnh bất động sản, và Thêm phán Bloommaert chăm chú lắng nghe với vẻ hài lòng rõ rệt.

“Đó sẽ là một việc tốt cho cậu, anh Murray,” ông đáp khi Leonard dứt lời. “Cậu không nên sống nhàn rỗi, ngay cả khi cậu có đủ khả năng tài chính; và việc nghiên cứu này không chỉ giúp cậu sử dụng thời gian có ích, mà cuối cùng còn tiết kiệm cho cậu rất nhiều tiền bạc. Hãy đi gặp ông Vanderlyn đi. Biết đâu ông ấy có thể nhận cậu đọc sách cùng. Không ai am hiểu về bất động sản hơn ông ấy đâu.”

“Tôi được bảo rằng, thưa ngài, ông Burr mới là người có thẩm quyền lớn nhất về lĩnh vực đó.”

“Ông Burr không nằm trong tầm cân nhắc.”

“Tôi thú nhận rằng, thưa ngài, tôi đã tính đến ông ấy rồi.”

“Cậu đã nói chuyện với ông ta chưa?”

“Vẫn chưa dứt khoát ạ.”

“Anh Murray, nếu cậu ngồi trong văn phòng của ông Burr, chẳng mấy chốc cậu sẽ chia sẻ những quan điểm của ông ta. Và trong trường hợp đó, tôi sẽ buộc phải cấm cậu giao du với tôi và gia đình tôi. Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.”

Ông nói với cơn giận đang dâng trào, và Leonard điềm tĩnh đáp lại hết sức nhún nhường:

“Thưa thẩm phán, tôi xin lời khuyên của ngài trong vấn đề này. Tôi đã nói với ngài từ đầu là tôi sẽ tuân theo. Chẳng lẽ chúng ta không thể bàn về ông Burr một cách hợp lý như khi bàn về chiến tranh và công sự phòng thủ hay sao? Tôi sẵn sàng lắng nghe lý lẽ, và cũng thẳng thắn thừa nhận rằng tôi không hiểu ông Burr đã làm gì để đáng bị tẩy chay như cách mà một số người đang đối xử với ông ấy. Tôi đoán đó là một trong những sự trớ trêu của số phận, một nghịch lý — mà cuộc đời thì ngập tràn nghịch lý.”

“Việc ông Burr bị tẩy chay không phải là ngẫu nhiên, đó là do chính hành động của ông ta. Con người ấy đã phạm tội, và sự giải thích cho điều đó được khắc hằn lên mọi việc ông ta làm.”

“Ý ngài là trận đấu súng với ông Hamilton ư? Thưa ngài, nếu ông Hamilton đã bắn chết ông Burr, liệu phái Liên bang có coi đó là một tội ác không?”

“Trường hợp của ông Hamilton nằm ngoài thẩm quyền phán xét của chúng ta. Nó đã được chuyển lên một tòa án cao hơn rồi.”

“Đó chẳng phải là sự biện hộ thiên vị sao, thưa thẩm phán?”

“Nó đủ dùng cho trường hợp này.”

“Hamilton từng công khai gọi Burr là kẻ vô đạo đức, nguy hiểm, đáng khinh, một tên Catiline nước Mỹ — ồ, cả tá những từ miệt thị khác nữa! Chẳng phải ông Burr sẽ bị coi là kẻ hèn nhát nếu ông ấy không đứng lên bảo vệ thanh danh của mình hay sao?”

“Bằng cách giết chết kẻ đã bôi nhọ mình ư?”

“Vậy thì, thưa ngài, còn cách nào khác mà ông ấy có thể làm chứ?”

“Trong chính trị, người ta gán cho nhau đủ loại tên gọi tồi tệ. Họ thậm chí còn bịa ra những từ mới để dành cho đối thủ. Và dẫu cho ở chốn thiên đường, sư tử có thể nằm chung với cừu non, thì ở đó người ta cũng chẳng phải đem những quan điểm chính trị đối lập của mình ra tranh cử trước toàn dân. Cứ cho là ông Hamilton đã dùng lời lẽ cay độc đi — đó chỉ là một cuộc chiến bằng lời. Ông Burr cũng có lưỡi và ngòi bút, chẳng kém gì ông Hamilton. Nếu ông Hamilton xúc phạm vợ của ông Burr, hay giật dắt con gái ông ấy đi, thì có lẽ đã có chút lý do để giải quyết bằng máu, đằng này chỉ là lời nói, lời nói và lời nói, cái lưỡi hoặc ngòi bút thừa sức đáp trả chúng.”

“Vậy, thưa thẩm phán, ngài không tán thành việc đấu súng?”

“Tôi không tán thành. Nhưng tôi nghĩ sai lầm chí mạng của ông Burr cuối cùng sẽ khiến tệ nạn đấu súng lỗi thời chẳng khác nào nạn phù thủy. Chắc chắn chúng ta cũng sẽ sớm có những bộ luật nghiêm khắc để trấn áp nó.”

“Tuy nhiên, chừng nào dư luận còn nể trọng việc đấu súng, thì chẳng có luật trấn áp nào đủ mạnh bằng dư luận cả. Chúng ta giờ đây đạo đức và thông minh chẳng kém bất kỳ dân tộc nào, thế nhưng đấu súng vẫn chưa bị mai một, và việc ông Burr bị tẩy chay cũng chẳng đủ sức làm gương răn đe.”

“Tôi biết điều đó. Năm ngoái, hai người đàn ông đã cãi nhau về một chiếc ô ở sảnh Bảo tàng Scudder, và ngày hôm mốt, một trong số họ đã bắn chết người kia tại chỗ. Mười người thì hết chín gọi kẻ chết là ngu ngốc vì rước họa vào thân. Anh Murray, việc đấu súng đã trở nên lố bịch một cách nguy hiểm. Người ta có thể nói về chuyện thổi bay óc nhau vì một câu nói giận dỗi, nhưng phần lớn đều thầm bật cười trước sự ngớ ngẩn đó. Hành động như vậy hoàn toàn không xứng với sự thông tuệ đời thường của người Mỹ. Sẽ chẳng có người thông minh nào chịu đấu súng nếu họ nhớ rằng mình sẽ biến thành đề tài cho một bài báo trên tờ The Morning Chronicle. Bị đối xử bằng sự châm biếm hay bằng đạo đức học của tờ báo ấy cũng đều tệ hại như nhau — nó sẽ biến anh ta thành kẻ nực cười tột độ trong mọi trường hợp. Dẫu vậy, chúng ta sẽ chẳng bao giờ từ bỏ đấu súng chỉ vì những lý do đạo đức hay trí tuệ đâu.”

“Vậy thì dựa trên lý do nào khác chứ?”

“Tầng lớp đi đấu súng vốn là tầng lớp vô tích sự; và nếu thói tục này chỉ quẩn quanh trong giới hạn của chính bọn họ với nhau, thì nó đã là một trong những trò giải trí vô hại nhất rồi. Chúng ta phải làm cho việc đấu súng trở nên lố bịch, bởi vì khi sự chế giễu và châm biếm bao trùm lên bất kỳ vấn đề nào, thì cậu có thể biết rằng thứ đó đã chết, và chỉ còn trơ lại cái vỏ mà thôi.”

“Nhưng thưa thẩm phán, nếu danh dự của một người bị xâm phạm—”

“Nếu tất cả chúng ta đều là những kẻ nóng nảy như Hotspur, anh Murray, và sẵn sàng lao xuống vực sâu để giật lấy mớ tóc của nữ thần danh dự, thì chúng ta có thể trông chờ sự đồng cảm; nhưng khi đa số suy nghĩ giống như Falstaff, rằng ‘danh dự chỉ là một chiếc khiên gỗ vô tích sự,’ chúng ta sẽ thấy lạnh buốt sống lưng, cho đến khi nhớ lại luật thiêng liêng. Bởi xét cho cùng, thưa anh, Mười Điều Răn vẫn là chân lý cuối cùng. Hãy xem lại điều khoản thứ sáu trong bộ luật đó đi.”

“Chẳng còn gì để thêm vào đó nữa, thưa ngài.”

“Tính trên phương diện đạo đức và trí tuệ thì là vậy. Còn về mặt xã hội, cậu có thể nhớ đến câu tục ngữ bình dân khuyên rằng: ‘Hãy chơi với người tốt, và cậu sẽ được coi là một trong số họ.’ Hãy đi theo ông Burr, cậu sẽ bị đánh đồng với ông ta; được định giá bằng một mức giá — không, cậu sẽ chỉ là một kẻ chầu rìa của ông Burr mà thôi. Nếu cậu thực sự muốn học luật—”

“Không, thưa ngài. Tôi từ bỏ ý định đó. Tôi đã nói với ông Burr đủ điều để làm tổn thương ông ấy nếu giờ tôi lại đi theo người khác. Và chính vì ông ấy hiện đang thất thế, tôi sẽ không bồi thêm một cú đá hèn hạ nào nữa.”

“Chẳng có lý do gì để làm thế cả. Chào hỏi xã giao thì đâu phải là chuyện tội lỗi. Dù sao đi nữa, chuyện của ông Burr chẳng đem lại lợi lộc gì cho cậu, thế nên việc gì phải chuốc lấy hiểm họa?”

“Tôi cảm ơn lời khuyên chân tình của ngài, thưa thẩm phán.”

“Vậy thì hãy ghi nhớ lấy.”

“Tôi sẽ làm vậy, thưa ngài.”

“Giờ thì, vì đã làm gián đoạn dự định của cậu, tôi có trách nhiệm phải đề ra cho cậu một con đường khác thay thế. Đó là thế này: tôi có thể giúp cậu có được một công việc năng nổ cùng với Gouverneur Morris, Simeon De Witt và John Rutherford, những người hiện vẫn đang bận rộn hoàn thiện các bản vẽ quy hoạch cho những con đường của thành phố New York trong tương lai. Tôi sẽ chẳng lấy làm lạ nếu họ vạch bản đồ cho toàn bộ hòn đảo này. Trên thực tế, họ đã chuẩn bị sẵn không gian cho một dân số đông đúc hơn bất kỳ nơi nào ở phía này của Trung Quốc. Tôi không thể nói là mình thích cách bố trí toán học của họ; họ đang tạo ra một thành phố lý tưởng theo kiểu Euclid — thẳng tắp, cứng nhắc, nhàm chán, chẳng có chút cá tính hay biểu cảm nào.”

“Nhưng đó sẽ là một sự bố trí vô cùng tiện lợi. Tôi sẽ thực hiện bản vẽ đó, ngay cả ở phía bắc của Harlem Flat.”

“Sẽ chẳng có ngôi nhà nào mọc lên ở đó trong nhiều thế kỷ tới đâu.”

“Ồ có chứ, thưa ngài, trước khi thế kỷ này khép lại cơ.”

Vị thẩm phán mỉm cười. Ông thích sự nhiệt tình của chàng trai trẻ, và ông đáp: “Được thôi. Cậu sẽ giúp đo đạc khu đất đó. Tôi sẽ nói chuyện với De Witt vào ngày mai.”

Đúng lúc cuộc tranh luận đang hồi sôi nổi này thì có tiếng gõ cửa trước, theo sau đó là chút xôn động của những người bước vào, kèm theo tiếng nói chuyện và những tràng cười giòn giã. Cả hai người đàn ông lập tức vểnh tai lên nghe ngóng. Chẳng còn cuộc trò chuyện nào nữa, và sau vài khoảnh khắc ngóng chờ trong im lặng, bà Bloommaert và Sappha cùng bước vào phòng. Họ đang ở trong tâm trạng vui vẻ, và Sappha vô cùng đáng yêu với vẻ đẹp phơn phớt của tiết trời giá lạnh in trên gương mặt đang mỉm cười, khiến Leonard quên sạch sành sanh mọi thứ và tất cả mọi người ngoài cô ra; và trước khi ai nấy kịp nhận ra, anh đã cầm lấy đôi tay cô và đặt lên đó một nụ hôn.

Khoảnh khắc tiếp theo, cả hai mới nhận thức được tình cảnh của mình, và Leonard, vẫn nắm chặt tay Sappha, dìu cô đến trước mặt người cha đang ngỡ ngàng. “Thưa ngài,” anh nói, “chúng tôi đã yêu nhau từ thuở bé thơ. Giờ đây, ngài có thể chúc phúc cho tình yêu của chúng tôi và cho phép chúng tôi đính ước được không?”

Vị thẩm phán nhìn vợ với vẻ bất lực. Bà đang dõi theo đôi trẻ với nụ cười trên môi và sự đồng cảm chan chứa trong tim dành cho mối lương duyên của họ. Nếu ông muốn tỏ ra cứng rắn và khó tính, ông thừa biết mình sẽ chẳng nhận được sự hậu thuẫn nào từ bà Bloommaert. Thế nhưng, để vứt bỏ ngay trong chớp mắt mọi cảm giác ghét bỏ lửng lơ mà ông vẫn dành cho Leonard, cùng với bao dự định kiên quyết không cho con gái đính hôn chính thức cho đến khi chiến tranh kết quả, quả là một cuộc đấu tranh tư tưởng gian nan. Có lẽ thật may mắn khi ông buộc phải quyết định trong một khoảnh khắc. Vào đúng giờ phút đó, ông đang có thiện cảm với Leonard, và ông chẳng có thời gian để tự biện lý cho bản thân sang một tâm trạng khác. Chậm rãi và với một chút gay gắt, ông đáp:

“Anh Murray, có vẻ như cậu chẳng thèm chờ sự chấp thuận hay cho phép của tôi gì cả.”

“À, thưa ngài, xin hãy nghĩ đến sự cám dỗ.”

Theo bản năng, ông nhìn vào gương mặt của “sự cám dỗ” ấy. Với đôi mắt sáng ngời, trong trẻo, cô giữ ánh mắt ông trong giây lát, rồi giọng nói của cô cất lên lời thỉnh cầu không thể chối từ: “Con yêu Leonard sâu sắc lắm, thưa cha. Và anh ấy cũng yêu con.”

“Ta thấy rồi! Ta thấy rồi!”

“Chúng con chỉ mong làm cha hài lòng thôi, thưa cha; đó mới là điều tuyệt vời nhất.”

“Quả thật vậy, thưa ngài, đó là điều tuyệt vời nhất!” Leonard háo hức tiếp lời.

“Thôi được, thôi được! Ở đất nước này phe đa số là phe chiến thắng. Một người đàn ông có thể làm gì khi có tới ba kẻ chống lại mình, nhất là khi một trong ba kẻ đó lại chính là vợ hắn?” và ông lắc đầu, liếc nhìn vợ với vẻ trách cứ nửa đùa nửa thật.

Lúc đó Sappha vòng hai tay qua cổ ông, áp má vào má ông, và ông ôm chầm lấy cô con gái rồi chìa tay về phía Leonard.

Thế đấy, Thần May Mắn thường mang đến những con thuyền mà chúng ta chẳng hề chèo lái, và bằng thứ mà chúng ta gọi là một sự tình cờ hạnh phúc, dẫn dắt những hy vọng thiết tha và gian nan nhất của chúng ta đi đến kết quả viên mãn bất ngờ. Những lúc ấy, thật khôn ngoan khi để ngỏ cánh cửa đón chào những vị thần vô danh ghé thăm. Họ thường hoàn thành thay chúng ta những điều mà ta chẳng dámM mong tự mình thực hiện.

Sau cột mốc định đoạt này, Sappha và Leonard cảm thấy họ có thể thỏa sức đắm mình trong niềm vui sống và tìm kiếm niềm hoan lạc ở bất cứ đâu họ muốn. Và họ đã tìm thấy nó ở cả chốn công cộng lẫn trong đời sống riêng tư. Đám cưới của Annette sẽ diễn ra vào tháng Sáu, và vô số công tác chuẩn bị đang được tiến hành ráo riết cho sự kiện đó. Ông ngoại De Vries đã tặng cô, như một món quà cưới, dinh thự Semple, một cơ ngơi cổ kính tuyệt đẹp nằm trong một khu vườn xinh xắn từng thoai thoải thoai thả dốc xuống tận bờ sông.

“Nó không hẳn là nơi tôi sẽ chọn,” cô dâu tương lai nói; “nhưng đó là một tài sản giá trị, và ông ngoại sẽ chẳng đời nào trao nó cho tôi nếu tôi không hứa sẽ dọn về đó sống.”

“Được sống ở nhà Semple thì có gì là khổ sở đâu,” Sappha nói. “Các phòng rộng thênh thang, đồ gỗ chạm trổ tinh xảo, và khu vườn thì đúng là nơi ngọt ngào và râm mát nhất ở New York này, tôi nghĩ thế.”

“Bà ngoại sẽ sắm sửa toàn bộ đồ đạc trong nhà, và bà để tôi tự tay chọn chính xác những gì mình muốn. Thật tình, thân thiết như anh Achille với tôi mà chẳng có lấy thời gian để chuyện trò tình tứ, chúng tôi cứ phải lo ngay ngáy về mấy cái bàn cái ghế với cả trang phục cưới ấy chứ.”

“Tôi chưa từng nghĩ Achille lại có thể bận lòng vì điều gì. Anh ấy lúc nào cũng điềm tĩnh và thong thả thế cơ mà.”

“Ồ, nhưng một người đàn ông khi đã vướng vào lưới tình lại là một sinh vật hoàn toàn khác, và tôi có thể nói cho cô biết Achille đang yêu đến mức điên cuồng đấy. Tôi đâu có mù mờ gì về những thói quen kỳ quặc của đàn ông khi đang lên cơn cuồng si. Sao chứ, anh ấy giờ gần như chẳng bao giờ buồn bén mảng đến tiệm làm bánh ngọt nữa kìa.”

“Ôi, nhưng de Singeron từng là một sĩ quan hào hiệp của Vua Louis! Anh ấy hiện đang phải sống lưu vong và gặp hoạn nạn, chỉ có vậy thôi. Việc kinh doanh bánh ngọt chẳng qua chỉ là kế sinh nhai tạm thời — và anh ấy xoay sở với nó cực kỳ xuất sắc—”

“Tất nhiên rồi. Tôi vẫn luôn thích những món ngon do anh ấy làm. Và anh ấy sẽ làm cho chúng ta chiếc bánh cưới tuyệt vời nhất. Tuy nhiên, khi tôi và Achille kết hôn, Achille sẽ phải từ bỏ rất nhiều thứ, và Ngài Auguste Louis de Singeron sẽ là một trong số đó. Hiện tại thì tôi đang có quá nhiều thứ phải bận tâm nên chưa buồn chen vào đâu.”

“Cô còn gần nửa năm nữa để mà lo lắng cơ mà. Sao không thong thả đón nhận mọi thứ hơn nhỉ?”

“Ồ, niềm vui nằm ở sự bận rộn chứ lị! Cô có nghe tin Tướng Moreau sắp quay lại châu Âu để gia nhập lực lượng đồng minh không? Hoàng đế Nga đã cho gọi ông ấy, và giờ ông ấy sẽ có cơ hội trả thù Napoleon vì chín năm lưu vong. Nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ bước qua số 119 phố Pearl mà không ngậm ngùi thở dài đâu. Chẳng ai tổ chức những buổi tiệc tùng vương giả như nhà Moreau cả. Vị tướng quân sẽ nhận được một chức vụ trọng trách, nhưng điều ông ấy thích nhất chính là cơ hội được chiến đấu với gã bạo chúa lớn nhất thế giới này. Achille sẽ đi tiễn ông ấy lên đường — cùng với rất nhiều người khác nữa. Nhưng đó không phải là chuyện của tôi. Kìa, còn chiếc váy cưới của tôi nữa chứ.”

“Cô đã quyết định chọn kiểu chưa?”

“Nó phải có màu trắng — mọi thứ khoác lên người tôi đều phải màu trắng. Achille bảo vậy. Tôi nghĩ bà ngoại sẽ cho người sang tận Boston để mua lụa hoặc xa-tanh; ở đây chẳng có loại nào đạt chất lượng xứng tầm cho chiếc váy quan trọng nhất trong đời một người phụ nữ cả. Cô cứ tưởng tượng đây là đám cưới của bà ngoại ấy chứ, bà quan tâm đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất liên quan đến nó cơ mà.”

Quả thực, Annette đã không hề phóng đại quá mức về sự quan tâm của phu nhân đối với công tác chuẩn bị cho đám cưới của cô cháu gái. Bà gánh vác thêm phần việc, và thậm chí cả khoản chi phí phát sinh, với một sự hào hứng phơi phới đến kỳ lạ. Và theo nhiều cách khác nhau, niềm vui ấy đã mang lại cho bà một phần thưởng xứng đáng và hậu hĩnh. Bà từng sống khép kín như một ẩn sĩ suốt nhiều năm trời, thế nhưng giờ đây người ta liên tục bắt gặp bà trên các con phố, trong các cửa hiệu, và không ít lần nhờ vậy mà bà trở thành một khán giả đầy phấn khích của các cuộc diễu hành công cộng, các buổi tập luyện và điều động quân sự. Achille thường xuyên đi cùng bà, và sự ân cần, kính trọng của anh là nguồn gốc của sự ngạc nhiên và bàn tán đối với những ai quên mất một điều rằng người Pháp được huấn luyện đặc biệt để bày tỏ sự tôn kính, thậm chí là sùng kính, đối với tuổi già. Thế nên chẳng có gì là lạ khi phu nhân như được hồi xuân lần nữa; làm sao bà có thể sống trong sự hòa hợp đầy yêu thương và gắn bó với bốn trái tim trẻ trung mà lại không được như vậy chứ?

Thế là trong suốt nửa năm tiếp theo, Annette trở thành tâm điểm của sự chú ý trong thế giới nhỏ bé của riêng cô. Vị thẩm phán và bà Bloommaert, Sappha cùng Leonard đều hân hoan hòa mình vào tinh thần phục vụ tận tụy và sự đồng cảm sâu sắc dành cho cô dâu nhỏ đang ngập tràn hạnh phúc. Và trong giai đoạn này của cuộc đời, ngay cả những thói hư tật xấu hay sự ích kỷ của cô cũng được dung thứ một cách hoan hỉ. Đó là ngụm men say cuối cùng của tuổi thiếu nữ vô lo vô nghĩ; chẳng ai nỡ làm vương vãi hay phá hỏng dù chỉ một giọt.

Leonard và Sappha dành phần lớn thời gian ở dinh thự Bloommaert trên phố Nassau; mặc dù Leonard, tại văn phòng Ủy viên Thành phố, cũng đang làm ra vẻ như đang bận rộn vạch bản đồ các con đường và khu đất hoang vu quanh vùng Harlem Flat. Nhưng công việc này chẳng mấy khi ảnh hưởng đến sự quan tâm mà anh dành cho Sappha và Annette; cũng chẳng làm xao lãng tinh thần quân sự đã đưa anh đến đều đặn tại phòng trực chiến của một số đại đội tình nguyện. Anh cũng là chỗ dựa quen thuộc mỗi khi thành phố muốn khoản đãi một vị anh hùng nào đó mà họ tôn vinh; bởi khi ấy cả hầu bao lẫn năng khiếu thiên bẩm về trật tự và sắp xếp của anh đã biến anh thành một bảo chứng vô giá cho sự thành công.

Trong suốt nửa năm này, không có nhiều sự kiện chiến tranh nào ảnh hưởng lớn đến New York, và người dân nơi đây đã trở nên quen thuộc với tiếng súng từ các pháo đài phát tín hiệu “hạm đội Anh xuất hiện ngoài khơi Sandy Hook.” Nhiều báo động giả cũng góp phần củng cố cảm giác an toàn này. Họ thừa biết rằng các pháo đài vốn đã vô số kể đang được không ngừng củng cố và gia cố thêm, và vào tháng Tư, khu vực diễu binh ở Battery đã được xây dựng công sự. Công viên này khi ấy là một dải cỏ xanh mướt rộng chừng ba trăm bộ, nằm giữa phố State và mép nước. Nơi đây không có kè chắn sóng, mà chỉ có một hàng rào gỗ thấp nằm bên mép vách đá cao chừng hai ba bộ; tiếp đó là cát và sỏi vụn trải dài ra tận mép nước. Có một bến tàu ở chân phố Whitehall, và tại phố Marketfield, dòng nước tràn vào gần đến giữa khu nhà nằm giữa phố Washington và phố Greenwich. Gần trung tâm của phần phía đông nam công viên này có một khu vườn công cộng và một sảnh nhỏ xinh xắn, nơi phục vụ cà phê, bánh ngọt, kem và các món ngon khác; và vào những buổi tối mùa hè, một số ban nhạc quân đội thường đến đó tấu lên những khúc nhạc tuyệt vời cho du khách thưởng thức.

Tất nhiên, việc dựng lên một chiến lũy dọc theo đường nước của công viên này là một sự kiện đầy thú vị đối với tất cả cư dân sinh sống quanh khu Bowling Green, và vào những ngày tháng Tư, tháng Năm tươi đẹp, Sappha cùng Leonard thường dạo bước quanh các công sự ở Battery, qua đó thắp lên ngọn lửa tình yêu nồng cháy đan xen với niềm đam mê ái quốc cùng bầu không khí sục sôi của các công tác chuẩn bị chiến tranh.

Chính trong khoảng thời gian các công sự ở Battery đang được thi công thì thành phố đã tổ chức một trong những buổi tiệc long trọng thường lệ để chào mừng Thuyền trưởng Lawrence, người trên chiến hạm Hornet đã bắt giữ được pháo thuyền Peacock của Anh. Có hai tình tiết khiến bữa tiệc này kéo chiến tranh đến sát rạt với người dân New York — thứ nhất là việc Lawrence vốn là một công dân của New York; thứ hai là cuộc diễu hành của một trăm linh sáu tù binh sống sót từ chiếc tàu Peacock bị đánh chìm qua tất cả các con tuyến phố chính của thành phố để vào nhà giam tại Pháo đài Gansevoort, qua đó phơi bày trước mắt quần chúng một chứng cứ rành rành về chiến thắng. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là có rất ít người mang dòng máu Mỹ thò miệng lăng mạ những thủy thủ với vẻ mặt ủ rũ ấy, trong khi rất nhiều nhân vật có thế ma lực lớn trong xã hội đã ngả mũ chào khi đoàn người khốn khổ ấy đi ngang qua. Leonard và Achille nằm trong số những người đó. “Kính cẩn trước kẻ bại trận!” Achille xúc động nói; và Leonard, nhớ lại ai là người đã dạy họ tâm tình ấy, liền lặp lại theo. Sự lịch thiệp này càng trở nên sâu sắc hơn, bởi vào đúng thời điểm đó, một lượng lớn chiến thuyền của Anh đã tiến vào vịnh Chesapeake và Delaware.

Nhưng liệu chiến tranh có bao giờ ngăn cản được hôn nhân không? Trái lại, nó dường như còn truyền cho chuyện tình yêu một sức sống kỳ lạ và một nhịp điệu gấp gáp; và giữa muôn vàn tiếng còi báo động, công tác chuẩn bị đám cưới của Annette vẫn tưng bừng tiến bước đến cao trào đã định. Vào ngày mùng bảy tháng Sáu, khi Annette đã đủ tuổi trưởng thành, cô chính thức trở thành người chủ sở hữu gia sản của mình, và đến ngày mười bảy của cùng tháng đó, cô kết hôn với Achille St. Ange.

Đó là một ngày hè tuyệt đẹp, và ngôi nhà cổ trên phố Nassau chưa bao giờ trông đậm chất bình yên và thơ mộng đến thế. Mọi bụi hoa hồng đều đang nở rộ, cửa chính và cửa sổ đều mở toang để đón luồng không khí thơm ngát tràn vào. Số lượng khách mời đã vượt xa sức chứa của các phòng khách; họ tràn ngập ngoài sảnh, trên cầu thang, các hiên nhà, và thậm chí cả trong khu vườn, những người trẻ tuổi đang hạnh phúc dạo bước giữa những luống hoa tử đinh hương cùng những khóm hồng đỏ trắng đan xen. Rồi chẳng mấy chốc, một chút xôn động đầy mong ngóng và tha thiết vang lên, Annette, theo sau là bà ngoại và Sappha, nhẹ nhàng bước xuống cầu thang. Lúc ấy, những thiếu nữ đang ngồi đó liền đứng dậy xếp thành hai hàng dọc theo lối đi, và Achille vội vã tiến đến đón lấy bóng hình trắng muốt, chạm tay vào đôi bàn tay cô trước khi cô kịp đặt chân xuống sàn nhà. Chưa bao giờ Annette trông xinh đẹp và đáng yêu đến thế; từ nhành hồng cài trên mái tóc cho đến đôi giày xăng-đan bằng sa-tanh dưới chân, cô rực lên một sắc trắng ngà ngọc. Vẻ phớt hồng trên má, màu đỏ thẫm hơn của đôi môi, cùng đôi mắt xanh biếc tựa thiên đường chỉ là những gam màu dịu dàng thổi bừng sức sống cho vẻ đẹp kiều diễm, chậm rãi bước đi của một nàng dâu.

Đã bao lần Annette cố tình ra vẻ đăm chiêu, suy tư, bởi Achille thích cô nhất ở những khoảnh khắc như thế; nhưng ngày hôm nay thì chẳng cần phải diễn trò làm gì nữa. Những ai có cái nhìn sắc sảo tinh tường đều có thể nhận ra, ẩn sau ánh cười và cái liếc mắt ngọt ngào của cô, là đôi mắt phảng phất nỗi niềm của kẻ vừa hoài niệm vừa tiên tri. Cô vốn chẳng phải là tuýp thiếu nữ thích chiêm nghiệm, nhưng cảm xúc và trực giác thường dẫn lối đến những nơi mà lý trí chẳng thể đặt chân tới, và Annette cảm giác rằng chính ngày hôm nay là đỉnh cao rực rỡ nhất trong cuộc đời cô. Đã chạm tay tới đỉnh điểm của hy vọng và khát khao, cô tự hỏi — dẫu là trái với mong muốn — “rằng liệu từ nay về sau mình có phải bước đi trên con dốc sụt xuống cho đến khi bóng chiều tà của cuộc đời phủ bóng?” Liệu ngày hôm nay sẽ mang lại một tương lai cho quá khứ của cô và biến những ước mơ giản dị thuở thiếu nữ thành niềm hạnh phúc phong phú hơn của đời vợ chồng? Hay cái bản ngã mới vừa vặn chiếm đoạt lấy cô lúc này sẽ mang lại những nụ hôn đẫm nước mắt, những hoài niệm vô ích về thời gian đã vụt bay, và những tiếng thở dài não nề cho những ngày tháng sắp tới? Không hẳn là những từ ngữ này, mà chính thứ tâm trạng ấy đã len lỏi vào ý thức của nàng dâu. Nó đến chẳng đúng lúc, chẳng ai chào đón; và Annette, nhíu mày trước sự xâm nhập ấy, liền xua đuổi nó đi. Cô từng nhận ra rằng “sự thay đổi” luôn đồng nghĩa với một điều gì đó tốt đẹp hơn, và rằng luôn có một niềm vui sống động chực chờ thay thế cho một thứ đã lụi tàn, tựa như —

Loài hoa anh thảo cuối cùng nở rộ trên đồng

Cũng là ngày xuất hiện đóa anh túc hồng đầu tiên.

May mắn thay, sau bất kỳ biến cố gia đình lớn lao nào, thường sẽ có một khoảng lặng ngưng trệ cho mọi thứ khác thường. Gia đình vừa trải qua biến cố ấy từ chối bị lôi kéo vào những thay đổi tiếp theo. Họ bản năng cảm nhận rằng hôn nhân, cũng giống như cái chết, làm cho cuộc đời trở nên trống trải, và họ lặp lại theo nhiều cách khác nhau rằng: “Thế là đủ rồi. Hãy để mọi thứ nguyên vẹn như cũ; ít nhất là trong một thời gian ngắn.”

Đó chắc chắn là tâm trạng bao trùm trong gia đình Bloommaert, và nó càng trở nên rõ mồn một trước tình trạng bất ổn của đất nước. Chiến dịch ở mặt trận phía bắc trong suốt cả năm trời chỉ toàn là thảm họa quân sự, và tổng thống đã ấn định ngày mùng chín tháng Chín là “ngày chịu tang, ăn chay và cầu nguyện, đồng thời là ngày khẩn cầu sự trợ giúp thiêng liêng.” Vào ngày mùng tám tháng Chín, các chiến hạm Anh đã bắt giữ ba mươi chiếc tàu ven biển chỉ cách thành phố New York có mười hai dặm, và những người dân quỳ gối trong các hàng ghế tại nhà thờ Trinity vào ngày hôm sau không chỉ cảm thấy cần đến sự trợ giúp của bề trên, mà còn vô cùng được củng cố và an ủi bởi những đoạn Kinh Thánh thích hợp đã được chỉ định đọc trong Sách Cầu Nguyện cho ngày mùng chín tháng đó. Chúng phù hợp và khích lệ đến ngạc nhiên khiến một số tờ báo đã phải lên tiếng lưu ý về sự trùng hợp này.

Ngay sau ngày thỉnh cầu sự trợ giúp công khai ấy, Phó đô đốc Perry trên kỳ hạm Lawrence đã giành chiến thắng vang dội trên hồ Erie, và đến ngày hai mươi hai của tháng đó, tin tức đã bay về tới thành phố New York, biến nỗi sợ hãi và buồn tủi thành hy vọng và khải hoàn. Chiến thắng của Tướng Harrison trước Tecumseh tiếp nối theo sau, và hai chiến thắng này mang ý nghĩa đặc biệt đối với lòng biết ơn của thành phố lẫn bang New York; bởi “chúng mang lại sự an toàn và yên bình cho hai trăm nghìn hộ gia đình, những người chỉ một tuần lễ trước đó thôi, chẳng thể nào chợp mắt yên giấc nổi một đêm nào với sự chắc chắn rằng mình sẽ thoát khỏi ngọn lửa thù hằn hay lưỡi rìu tàn sát của thổ dân cho đến tận sáng hôm sau.”

Chưa bao giờ kể từ khi người da trắng đặt chân lên hòn đảo Manhattan, lương thực và quần áo lại trở nên khó kiếm đến thế; thế nhưng phần lớn người dân thành phố New York lại chẳng hề tỏ ra lo lắng chút nào về các vấn đề quốc gia sự vụ. Họ đã quen với chiến tranh, và đời sống gia đình khi ấy vẫn diễn ra vô cùng suôn sẻ, hướng tới những khúc khải hoàn cùng đủ loại niềm phấn khích. Bởi vì, dẫu cho giá cả của mọi nhu yếu phẩm và tiện nghi sinh hoạt đều leo thang cao ngất ngưởng, nhưng lại có vô số giấy bạc kho bạc để chi trả cho chúng; và rất nhiều lần, những chuyến hàng hóa giá trị đã được đưa hoặc phái cập cảng như những chiến lợi phẩm từ các chiếc tàu tư lược của Mỹ đang tung hoành trên đại dương khi ấy.

Chiến thắng của Harrison cùng sự cận kề của mùa đông đã mang lại cho New York cảm giác an toàn trước mắt, và thành phố trở nên náo nhiệt bất thường. Những bữa tiệc vương giả của Tướng Moreau chẳng mấy khi bị tiếc nuối nữa, bởi những bữa tiệc tối và vũ hội do nhà St. Ange tổ chức thậm chí còn diễn ra thường xuyên hơn và lộng lẫy hơn nhiều; và Annette chủ trì những buổi tụ hội đó với một vẻ duyên dáng và khéo léo tuyệt vời. Cô dường như vào lúc ấy đã hiện thực hóa được hoài bão lớn nhất của đời mình, cảm thấy hạnh phúc và mãn nguyện với thực tại. Ngay cả vị thẩm phán cũng trở nên hiếu khách hơn bao giờ hết; và phu nhân thì luôn chìm đắm trong trạng thái phấn khích không ngừng nghỉ giữa những bữa tối của người con trai Gerardus và những vũ hội của cô cháu gái Annette.

Cứ thế, giữa tiếng trống trận rộn rã, tiếng kèn tò tese và âm thanh quyến rũ của những bản nhạc khiêu vũ, cuộc tình của Sappha tiến bước vô cùng tốt đẹp. Sự qua lại diễn ra liên tục giữa Bowling Green, phố Nassau và dinh thự Semple; và thật may là Leonard đã không mở bất kỳ cuốn sách luật nào ra đọc, bởi trong những ngày tháng này, mọi thời gian đọc sách và nghiên cứu của anh đều chìm đắm trong ánh sáng và tình yêu từ đôi mắt Sappha. Chắc chắn công việc của anh tại văn phòng Ủy viên Thành phố chỉ là những thứ lặt vặt và thất thường, bởi phần lớn thời gian đã được dành cho các dịch vụ dân sự cần thiết nhằm mang lại sự thoải mái cho các đại đội dân quân đang đồn trú trong thành phố. Về khoản này, anh nắm giữ một thứ vai trò giám sát không chính thức; vì anh luôn sẵn sàng tự mình cung cấp ngay lập tức những tiện ích mà nếu không có anh sẽ bị trì trệ. Nhờ thế, anh luôn được chào đón nồng nhiệt tại mọi phòng trực chiến, và chẳng có chàng trai nào ở New York lại được yêu mến hay kính trọng hơn anh.

Thẩm phán Bloommaert thừa nhận rõ ràng thực tế này, thế nhưng thỉnh thoảng sự ghét bỏ cố hữu lại trồi lên; và kỳ lạ thay, cảm giác này thường bắt nguồn từ chính nguồn sinh khí dào dạt của Leonard, sự vui tính có phần ồn ào và lối trò chuyện đầy tự tin của anh.

“Cậu ta chẳng bao giờ biết khi nào thì mình hết thú vị cả,” một tối nọ ông càu nhàu phàn nàn, “vậy mà cậu và Sappha cứ bám lấy từng lời cậu ta thốt ra như thể đó là chân lý tuyệt vời vậy. Tôi thật kinh ngạc về cô đấy, Carlita.”

“Và em thì kinh ngạc về anh, Gerardus. Sao hai người cứ hễ trò chuyện với nhau lấy một tiếng là lại đụng chạm đến định kiến của nhau thế?”

“Leonard lúc nào cũng chắc như đinh đóng cột rằng mình đúng.”

“Thì hãy chứng minh cho anh ta thấy anh ta sai đi.”

“Cậu ta lập luận chẳng khác nào thổi bong bóng xà phòng; thứ nào cũng trống rỗng như nhau.”

“Em nghĩ cậu ấy rất thú vị. Cậu ấy biết mọi chuyện đang diễn ra, và kể lại cho chúng ta tất cả những gì cậu ấy biết.”

“Dĩ nhiên rồi! Cậu ta chẳng khác nào một tờ báo biết đi, và bài xã luận chính lúc nào cũng là Leonard Murray. Không hiểu sao Sapphira Bloommaert lại có thể chấm cậu ta cơ chứ? Tôi dám cá là cậu ta vẫn tiếp tục giữ mối quan hệ qua lại với ông Burr. Ấy thế mà cậu ta thừa biết quan điểm của tôi về con người đó đấy.”

“Thì anh thấy đấy, Gerardus, dẫu anh có thể can thiệp đôi chút vào chuyện tình cảm của Leonard Murray, anh cũng chẳng thể ra lệnh cho cậu ấy về các mối quan hệ bạn bè của mình được. Giả sử cậu ấy bảo rằng cậu ấy không tán thành tình bạn giữa anh với ông Morris thì sao?”

“Sự xấc xược ấy là điều không thể tưởng tượng nổi, Carlita. Em đang nghĩ gì thế? Những lời nói kiểu đó đủ làm bất kỳ người đàn ông nào nổi cơn thịnh nộ rồi đấy.”

“Rất có thể, nhưng nếu anh nổi cơn thịnh nộ lúc này, Gerardus, thì đừng có đi tìm lại nó nhé; chẳng đáng công tìm kiếm đâu. Anh thực sự muốn chia cắt Sappha và Leonard sau tất cả những gì đã được bàn bạc và đồng thuận rồi sao?”

“Tôi đâu có nói thế. Chẳng lẽ một người đàn ông không được phép càu nhàu đôi chút với vợ mình hay sao? Và bộ cô ấy phải đem cân đo đong đếm từng lời càu nhàu giận dỗi đó làm gì? Người ta hay phàn nàn về những chiếc vòng xích mà đời nào họ chịu đập vỡ. Đúng như câu tục ngữ Hà Lan: ‘Hàm răng thường cắn phải lưỡi, nhưng chúng vẫn gắn bó với nhau đấy thôi.’”

“Chồng yêu dấu ạ, rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đấy cả thôi. Leonard đang ở một vị thế rất khó xử. Cậu ấy muốn làm hài lòng mọi người đến mức làm quá đà và lại thành ra gây khó chịu. Cậu ấy yêu Sappha bằng cả trái tim; điều đó đáng được tha thứ cho vô số lỗi lầm.”

“Tôi không nhìn nhận theo hướng đó. Yêu Sapphira chẳng phải là một đặc ân hay một việc gì khó nhằn cả. Em đang nói quàng xiên gì thế?”

“Em đang nói rằng cả hai chúng ta đều cần ngủ. Giờ thì chúng ta kiệt sức cả rồi. Sáng mai mọi thứ trông sẽ khác hẳn thôi.”

Tuy nhiên, những hờn giận nho nhỏ ấy chẳng thể làm lu mờ dòng chảy cuồn cuộn của cuộc sống thời bấy giờ. Có vô số nỗi lo thực sự dành cho những ai thích than vãn; và đối với những ai hướng về sự nhiệt thành, lòng tin, lòng dũng cảm cùng tinh thần hy sinh của thời đại, thì luôn có thừa những cơ hội để ôm ấp hy vọng và niềm vui. Và rồi mùa đông chuyển mình thành mùa xuân, mùa xuân phơi phới sang hè, và tháng Sáu mang theo những đóa hồng cùng tin tức chấn động nhất.

Nó đến với nhà Bloommaert vào một buổi sáng khi họ đang ngồi quanh bàn ăn sáng. Bữa ăn đã kết thúc, nhưng họ vẫn quây quần bàn tán về một bữa tiệc tối mà Annette sắp tổ chức vào ngày hôm đó, cùng thứ tự di chuyển tới đó. Đó là một bữa tiệc đặc biệt, chỉ mời những người thân trong gia đình, được tổ chức để mừng cô con gái nhỏ của Annette vừa tròn sáu tuần tuổi. Phu nhân cũng có mặt, và tỏ ra cực kỳ hào hứng với sự kiện này, bởi đứa trẻ đã được đặt theo tên của bà; và bà mang theo văn bản chuyển nhượng một ngôi nhà trên phố Cedar mà bà định sẽ trao tận tay bé Jonaca nhỏ xíu.

Leonard đã hứa sẽ ghé đón Sappha lúc mười hai giờ, nhưng vị thẩm phán đang khuyên họ nên đi sớm, thì cánh cửa phòng khách bỗng bật mở một cách đầy đột ngột, và Leonard hiện ra trước mắt mọi người với gương mặt ngập tràn những cảm xúc mâu thuẫn lẫn lộn. Ngay khoảnh khắc ấy, ai nấy đều đoán chắc anh mang tin quan trọng, và vị thẩm phán đứng phắt dậy cất giọng sốt ruột:

“Có chuyện gì thế, Leonard?”

“Hai trăm nghìn quân Pháp đã trở thành tù binh chiến tranh. Paris đã rơi vào tay lực lượng đồng minh. Napoleon đã bị đày đi lưu vong. Nhà Bourbon lại một lần nữa ngự trị trên ngai vàng nước Pháp.”

“Chúa ơi! Tất cả những điều này là sự thật chứ, Leonard?”

“Không còn nghi ngờ gì nữa ạ.”

“Vậy tôi phải đi gặp ngay Gouverneur Morris thôi. Hãy nhắn với Annette là tôi sẽ có mặt đúng giờ ăn tối.” Và ông vội vã rời đi với những lời đó, để mặc Leonard ở lại thảo luận về tin tức và bữa tiệc tối cùng ba người phụ nữ đang vô cùng kích động.

Giờ thì chẳng còn sự chậm trễ vô ích nào nữa, bởi các con phố đã chìm trong trạng thái náo loạn từ trước, tin tức lan đi nhanh như cháy rừng. Họ cũng chẳng thể thoát khỏi bầu không khí sục sôi đang bao trùm qua mỗi bước chân đi qua; ánh nắng vàng rực rỡ chẳng hề thua kém sự hân hoan cuồng nhiệt và lòng căm thù sục sôi đang đối chọi lẫn nhau trên từng chặng đường họ tiến bước. Ngay cả sự tĩnh lặng mờ ảo của khu vườn nhà Semple cùng những căn phòng rộng rãi, mát mẻ trong nhà cũng ngập tràn bầu không khí đối kháng đầy bồn chồn ấy. Các anh chị em họ của Annette, gia đình Verplanck và Van Buren, cùng người dì Joanna de Vries nhanh chóng theo sau họ, nhưng chỉ có những người phụ nữ trong các gia đình là bước vào nhà; còn đàn ông thì vội vã quay trở lại đại lộ Broadway và khu Battery để nghe ngóng và bàn tán về tin tức. Và thật khó để Annette giữ được nụ cười trên gương mặt đang chất chứa nỗi bực bội trong lòng. Nhà Bourbon là cái thá gì mà dám xen vào chuyện của cô chứ? Thật vậy, cô phàn nàn cay đắng với bà ngoại về thái độ kỳ lạ của Achille. Anh đã bỏ mặc cô giữa bữa ăn sáng, bỏ đi ngay khi vừa nghe tin tức, chẳng thèm đếm xỉa gì đến những trách nhiệm gia đình đè nặng lên vai anh trong ngày hôm đó. Và phu nhân chẳng hề tỏ ra đồng cảm chút nào. “Con đã khóc đấy, Annette ạ,” bà nói. “Ta e rằng con có một tính khí bất mãn. Còn bữa tối, chồng con sẽ quay lại thôi.”

“Con không biết đâu, thưa bà ngoại. Khi cái gã thợ làm bánh ngọt đó đẩy tung cửa phòng khách nhà chúng ta và thét lên ‘Achille! Achille! Napoleon bị lưu vong rồi! Nhà Bourbon lại lên ngôi vua nước Pháp kìa!’, Achille liền lao vào vòng tay gã ta và họ hôn nhau. Thưa bà ngoại, họ hôn nhau, rồi kéo nhau đi như thể mất hồn vậy.”

“Nhưng Achille cũng có nói với con mà? Về bữa tiệc tối, anh ấy có nhắc đến; ta biết rõ điều đó.”

“Anh ấy bảo sẽ quay lại kịp bữa tối; nhưng anh ấy sẽ quên mất thôi — anh ấy lúc đó hoàn toàn không còn tỉnh táo nữa—”

“Thôi nào, thôi nào, đừng để Joanna de Vries nhìn thấy con đang bực dọc vì bất cứ chuyện gì. Con mụ ta sẽ có lắm điều để bàn tán lắm đấy. Kìa Phu nhân Rutgers đến kìa! Chúng ta ra chào họ thôi nào?”

Thế là Annette bước ra chào đón khách khứa, và với độ trễ dài ngắn khác nhau, dòng người tụ họp dần đông đủ. Ai nấy đều có thêm những chuyện kỳ lạ để góp vào bầu không khí náo nhiệt chung, nhưng chỉ có mấy người phụ nữ là rôm rả trò chuyện và hờn dỗi cãi vã cho đến tận gần hai giờ chiều. Sau đó vị thẩm phán và Leonard cùng bước vào, và chẳng mấy chốc được nối gót bởi các cậu nhà Verplanck, Ủy viên Van Buren cùng hai người con trai, và Cornelius Bogart, người anh họ mà Annette yêu quý nhất.

Thế nhưng đến hai giờ mà Achille vẫn chưa tăm hơi đâu, trong khi bữa ăn đã được dọn sẵn và mọi người đang chờ đợi — đám đàn ông thì cực kỳ sốt ruột, bởi vào giờ cao điểm trên thương trường họ đã ăn qua quýt bữa trưa quen thuộc gồm một miếng cá tuyết muối sống và một ly rượu punch, và họ thừa biết quán ăn bình dân tại Quán Cà phê Tontine trên phố Wall vào lúc ba giờ sẽ dọn một bữa tối hợp khẩu vị hơn nhiều, xét theo tin tức trong ngày cùng sự xáo trộn và kích động mà nó gây ra. Đặt trong những điều kiện đó, Annette chẳng có món gì hấp dẫn để thỉnh mời cả. Những người phụ nữ, dù xinh đẹp hay không, đều là những người họ hàng thân thích trong dòng tộc; và họ hàng thì phải chấp nhận những gì sẵn có; chẳng có quyền lựa chọn như bạn bè. Trong chúng ta, ai mà chẳng có những người họ hàng chẳng bao giờ lọt nổi vào danh sách bạn bè cơ chứ?

Thế là có một khoảng thời gian chờ đợi đầy khó chịu, và vì Achille vẫn biệt tích, Phu nhân Bloommaert đề nghị cứ dọn tiệc mà không cần sự hiện diện của anh. “Để một kẻ lề mề,” bà nói, “bắt hai mươi tám con người phải chờ đợi là điều không đúng, Annette ạ. Phải dọn tiệc ngay lúc này thôi.”

Annette đồng ý với điều đó, nhưng thật khó để cô có thể mỉm cười và kìm nén những giọt nước mắt chực trào. Tuy nhiên, đúng lúc Thẩm phán Bloommaert chuẩn bị bước lên thay thế vị trí của Achille thì kẻ lề mề ấy đã xuất hiện. Và anh ta đang chìm đắm trong một tâm trạng rạng rỡ đến mức phớt lờ sự chậm trễ của mình như một chuyện cỏn con. “Anh đến muộn một chút — anh đã quên mất — nhưng thật kỳ lạ là cuối cùng anh vẫn nhớ ra được. Tin tức gì chứ! Tin tức thật vinh quang làm sao! Ồ, đó quả là một buổi sáng tuyệt vời!”

Trong cuộc trò chuyện tiếp theo, anh ta khoe rằng người bạn thân Monsieur de Singeron đã sang nhượng lại công việc kinh doanh cho một gia đình nghèo người Pháp. “Anh ấy sắp về nước rồi! Anh ấy vui mừng đến phát điên lên được!” anh ta tiếp lời. “Anh ấy sẽ được phục hồi quân hàm và nắm lại quyền chỉ huy trong lực lượng cận vệ hoàng gia! À! Thật đáng sống để được chứng kiến ngày hôm nay. Nó bù đắp, bù đắp cho tất cả!” Và Achille, kẻ chẳng thiết ăn uống gì nữa, cứ ngồi đó cười với tất cả mọi người. Anh ta chắc mẩm rằng mọi người có lý trí đều sẽ cảm thấy giống như mình.

“Tôi đoán,” Thẩm phán Bloommaert lên tiếng, “hầu hết những người Pháp lưu vong sẽ quay trở về quê hương của họ ngay khi có thể.”

“Họ sẽ chẳng chần chừ một phút nào đâu,” Achille đáp. “Đó là một cảnh tượng tuyệt vời khi ngắm nhìn họ trên tàu và dọc bờ sông. Họ đã từng bất hạnh, hoang mang, cho đến tận khi tận mắt chứng kiến chiến thuyền mang tin vui đến và hiểu được ý của vị thuyền trưởng. Ông ấy đã cho phép đám đông bước lên boong tàu. Ông ấy giương cao ngọn cờ hoa bách hợp của nước Pháp bay phấp phới trên đầu họ. Ông ấy trò chuyện với họ bằng chính thứ tiếng mẹ đẻ của họ. Ồ, các bạn của tôi ơi, các bạn sẽ đồng cảm với những kẻ lưu vong bất hạnh này; các bạn sẽ không lấy làm lạ khi họ quỳ xuống và rơi những giọt nước mắt sung sướng!”

Quả thật, Achille đã quá đỗi thăng hoa với những xúc cảm của riêng mình nên chẳng màng nhận ra bầu không khí bất đồng đang ngự trị giữa những vị khách. Đúng là sự đồng cảm của vị thẩm phán là điều hiển nhiên, cùng với gia đình Verplanck, nhưng dòng họ De Vries và Van Buren lại đang kịch liệt phản đối bất cứ điều gì, hay bất kỳ ai mà phe Liên bang ủng hộ. Thế nên bầu không khí trong căn phòng chẳng hề cổ vũ cho niềm vui sum họp gia đình chút nào; và bữa tiệc tối thực chất là một thất bại. Đàn ông trong buổi tiệc đều nôn nóng muốn quay lại câu lạc bộ hoặc những chốn tụ tập của họ; còn phụ nữ, bị bỏ lại với nhau, chẳng mấy chốc cũng cạn kiệt niềm thích thú dành cho bé Jonaca nhỏ xíu để rồi nhớ về những ngôi nhà và công việc gia đình của chính họ. Và khi ngày dần tàn, những tán cây rậm rạp bao quanh dinh thự Semple phủ đầy bóng râm vào căn phòng, và Annette — phần nào hoang mang trước thái độ của Achille — chẳng thể vực dậy nổi tinh thần đang sa sút của mình để làm tròn vai trò người chủ nhà. Thế rồi Joanna de Vries khơi mào cho một cuộc rút lui sớm. Cô nhắc đến những con phố náo nhiệt, và tuổi cao sức yếu cùng sự cô đơn của người cha, thế là ngay lập tức ai nấy đều sực nhớ ra những nhiệm vụ quan trọng không kém. Và vì phu nhân dự định ở lại với Annette, bà Bloommaert cùng Sappha cũng xin phép ra về.

Đó là một buổi tối mùa hè tuyệt đẹp, và các con phố, dẫu không đông đúc hay náo loạn, lại tràn trề nhựa sống. Những cư dân người Pháp may mắn đã thắp sáng rực rỡ những ngôi nhà của họ, và từ những ô cửa sổ mở toang vọng ra những âm thanh vui tươi của khúc ca hoan hỉ. Các nhà diễn thuyết theo phái Liên bang đang say sưa hùng biện trước những nhóm người nhỏ tụ tập ở góc phố, trong khi các nhà diễn thuyết theo phái Dân chủ thì phản bác mọi điều họ nói ở ngay khu phố kế tiếp. Tiếng vỗ tay, tiếng cười nói, tiếng chế giễu, sự nhiệt huyết đủ mọi sắc thái rung động bầu không khí ấm áp, và niềm vui cùng nỗi đau của cuộc đời tấn công vào trái tim hay trí tưởng tượng trên từng bước đi.

Trên quảng trường Bowling Green có một đám đông vô cùng tề chỉnh đang chăm chú lắng nghe Gouverneur Morris, người đang cất lời với sự đồng điệu cuồng nhiệt đến mức khiến người ta ngạc nhiên khi không thấy Achille đứng ngay bên tay phải ông.

“Ông Morris là nhà hùng biện hùng hồn nhất của thời đại này,” Leonard nói; “chúng ta hãy dừng lại lắng nghe lời ông ấy một lát.” Và khi họ làm theo, họ được nghe những lời tiên tri phôi thai của bài diễn văn “nhà Bourbon” nổi tiếng mà ông sẽ đọc vài ngày sau đó tại nhà thờ của Tiến sĩ Romeyn trên phố Cedar:

“Nhà Bourbon đã được phục hồi. Hỡi nước Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, châu Âu, hãy hoan hỉ lên! Các quốc gia châu Âu, các ngươi lại là anh em một nhà lần nữa rồi! Đại gia đình các quốc gia đã sum họp trọn vẹn. Hãy ôm lấy nhau, hãy hoan hỉ lên! Và cả ngươi nữa, hỡi quê hương từng chịu nhiều oan khuất của ta! Hỡi đất nước thân yêu bị lăng nhục, tự sát hại chính mình! Dù đang rớm máu, hãy hoan hỉ lên! Nhà Bourbon đã được phục hồi. Đau khổ đằng đẵng đã chấm dứt. Nhà Bourbon đã được phục hồi!”

“Chúng ta về nhà thôi, Leonard,” bà Bloommaert nói. “Tôi chưa từng nghe ai ca tụng nhà Bourbon nhiều đến thế trước đây bao giờ. Cha tôi chưa từng tán thành họ. Nếu Napoleon đã tiêu đời rồi, sao người Pháp không kiên quyết lập ra một nước cộng hòa? Họ đã có Lafayette — và những người khác cơ mà.”

Leonard chỉ đáp gọn lỏn, “Vâng.” Anh không muốn khơi mào chủ đề về sự bất lực của nước Pháp, cũng chẳng muốn chỉ ra việc ngớ ngẩn đến vô lý thế nào nếu các vị vua đồng minh châu Âu lại đi dựng lên một nước cộng hòa ngay giữa lòng họ. Anh cảm thấy mệt mỏi với đề tài này, và cảm giác thất bại của buổi tối đã tác động đến anh. Đó là một ngày đầy những điều chán nản, việc kéo dài nó thêm thì có ích gì chứ? Sappha và Leonard suýt chút nữa đã phạm sai lầm khi cố kéo dài nó, nhưng bà Bloommaert thì khôn ngoan hơn thế. Ngay tại bậc thềm cửa, bà kiên quyết cho Leonard cáo lui, dẫu anh chẳng thể che giấu hoàn toàn thực tế rằng bản thân sẵn sàng tuân lệnh bà. Nhưng Sappha, người hằng hy vọng sẽ xua tan cảm giác nhàm chán và uể oải này khi họ ở bên nhau, lại cảm thấy bực bội vì mất đi cơ hội của mình.

“Mẹ chẳng tử tế chút nào khi đuổi Leonard đi ngay khi chúng ta vừa xong việc với anh ấy cả. Anh ấy cũng mệt mỏi lắm chứ bộ,” cô nói.

“Mệt mỏi! Ta nghĩ là cậu ta mệt thật đấy,” bà Bloommaert đáp; “hôm nay cậu ta chắc phải kiệt sức vì phụ nữ rồi. Một đám đông các bà các cô như Annette gom lại cơ mà.”

“Mấy người phụ nữ chẳng khó chịu hơn đám đàn ông đâu, mẹ ạ,” Sappha cãi. “Và con tin chắc Leonard đã đi thẳng đến các phòng trực chiến của lực lượng dân quân rồi — ở đó chẳng có ai ngoài đàn ông cả, thế nên anh ấy mới được nghỉ ngơi.”

“Ta chỉ mong cậu ta không đến phòng trực chiến nào hết. Đêm nay ai nấy cũng sẽ cãi nhau sứt đầu mẻ trán với hàng xóm cho mà xem.”

Leonard thực ra đã đến phòng trực chiến của lực lượng Jersey Blues, nhưng chuyến ghé thăm này hoàn toàn đi ngược lại mong muốn của anh. Anh mệt mỏi y như những gì bà Bloommaert đã phỏng đoán — mệt mỏi vì nhà Bourbon và những cuộc tranh cãi vặt vãnh nảy lửa xung quanh họ; mệt mỏi vì đàn ông, và cả phụ nữ nữa; mệt mỏi vì mọi loại bạn bè giao thiệp; mệt mỏi vì tiếng ồn ào và sự căng thẳng của thành phố náo loạn; mệt mỏi đến tận cùng với chính cuộc sống này. Dẫu cho năng lượng thần kinh của anh có dồi dào và mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, nó cũng đã cạn kiệt; cảm xúc đã vắt kiệt nó, và sự thất vọng cũng mang tính tàn phá chẳng kém. Khi rời khỏi nhà Bloommaert, anh đã tự nhủ sẽ đi thẳng về phòng của mình tại Khách sạn Thành phố để tìm lại nguồn sức mạnh và hy vọng thông qua sự cô độc và giấc ngủ. Nhưng ngay trên bậc thềm khách sạn, một người quen cũ đã chặn anh lại, và Leonard ngần ngại hỏi “anh ta đến tìm mình đấy phỏng?”

“Vâng,” người đàn ông đáp. “Tôi đang gặp rắc rối, anh Murray ạ, và tôi chẳng nghĩ ra được ai ngoài anh có thể cho tôi vài lời khuyên. Đó là về cô Martin. Anh còn nhớ cô Sarah Martin xinh xắn chứ? Chúng tôi đã đính hôn, nhưng cô ấy vừa hủy hôn rồi. Tôi buồn lắm. Tôi chẳng biết phải làm sao nữa. Tôi nghĩ anh có thể chỉ cho tôi lối thoát.”

“Tôi đang định về phòng đây. Lên lầu với tôi đi, McKenzie.”

“Tôi không lên được. Tôi phải có mặt ở phòng trực chiến trong nửa tiếng nữa. Anh không thể đi cùng tôi sao? Chúng ta có thể nói chuyện ở trển thừa sức mà.”

Thế là Leonard đành đi cùng McKenzie, và sau khi hoàn tất những thủ tục xã giao nhỏ nhặt với những người có mặt ở phòng trực chiến, Leonard và McKenzie kéo ghế ra ngồi bên khung cửa sổ mở toang để bắt đầu cuộc trò chuyện. Và chẳng mấy chốc, Leonard đã rũ bỏ được vẻ uể oải để thực sự đắc tâm quan tâm đến rắc rối của bạn mình. Bỗng nhiên, một giọng nói oang oang và mang âm điệu ra lệnh vang lên bên tai anh. Đó là giọng của một gã từng là thành viên trong đại đội do Leonard thành lập, kẻ trong suốt thời gian tại ngũ luôn là nguồn gốc của sự phiền toái và tranh chấp — một kẻ có xuất thân thấp kém cùng bản tính tiểu nhân, đố kỵ, chẳng có nổi một nền giáo dục đàng hoàng hay phép tắc xã giao, và trên thực tế, gã ta còn ra điều khinh miệt cả hai thứ đó. Tuổi trẻ, vẻ đẹp, văn hóa tao nhã và phong thái lịch thiệp của Leonard, cộng thêm sự giàu có và độ nổi tiếng bậc nhất của anh, đã lập tức khơi dậy sự đố kỵ trong lòng Horace Gilson; và sự đố kỵ trong bầu không khí thân mật ngột ngạt của một pháo đài quân sự chẳng mấy chốc đã lớn thành một mối thù hằn gần như không thể kìm ném. Và trong bản chất của Gilson, thù hằn tìm thấy mảnh đất màu mỡ để sinh sôi; gã hoàn toàn trơ lì trước những phẩm chất cao đẹp hơn của nhân loại, và tự huyễn hoặc bản thân — cùng những kẻ cùng hội cùng thuyền với gã — rằng sự khoan dung lịch thiệp của Leonard không phải là tác phong đường hoàng của một sĩ quan dành cho cấp dưới, mà là sự hèn nhát của một tâm hồn yếu đuối và ẻo lả. Thật vậy, ba tháng tại ngũ của Leonard đã biến thành một chuỗi cực hình kéo dài từng giờ bởi những lời chế giễu và khinh miệt được che đậy hời hợt của Horace Gilson. Trong số tất cả mọi người trên thế giới rộng lớn này, gã chính là kẻ mà Leonard chẳng hề muốn chạm mặt nhất. Anh dịch ghế xích lại gần McKenzie hơn một chút và hướng thẳng mặt ra khung cửa sổ mở. McKenzie tiếp tục trò chuyện, chẳng màng đến sự xuất hiện của Gilson, nhưng Leonard vẫn nghe rõ mồn một trên cả những lời gã nói là tiếng châm chọc mỉa mai cùng điệu cười khẩy nhạo báng của kẻ mà anh vừa khinh bỉ vừa ghét cay ghét đắng. Mọi người và mọi thứ dường như đều chực chờ khêu gợi sự khinh miệt của gã, và chẳng lâu sau, gã hướng sự chú ý của mình về phía hai người đang ngồi tách biệt bên cửa sổ.

“Bí mật! Bí mật cơ đấy!” gã hô lên với vẻ thân mật giả tạo, sướt mướt. “Ở phòng trực chiến này cấm có bí mật giấu diếm gì hết. Khai tên mấy cô ả ra xem nào — nếu chúng mày không cảm thấy xấu hổ vì chúng.”

Leonard dửng dưng nhìn ra ngoài cửa sổ; đó là chuyện của McKenzie, chẳng liên quan gì đến anh. Còn McKenzie, đưa tay chạm lên khẩu súng lục theo phản xạ gần như máy móc, chỉ liếc nhìn gã du côn rồi đáp ngắn gọn: “Anh tốt nhất nên lo chuyện của mình đi, thưa anh.”

“Tôi có nói chuyện với anh đâu, McKenzie,” Gilson đáp trả. “Tôi đang nhắm tới Đại úy Murray, vị thần Adonis lừng danh đào hoa sát gái của New York cơ mà! Nào thưa ngài đại úy, những chiến tích mới nhất của ngài đâu rồi?”

“Anh Gilson,” Leonard điềm tĩnh đáp, “tôi và bạn tôi đang bàn bạc chuyện riêng tư. Khi nào chúng tôi cần sự hiện diện của anh, chúng tôi sẽ cho anh biết. Còn bây giờ, chúng tôi muốn được yên thân.”

“Nào đại úy, đừng có giở cái giọng ta đây ấy ra với tôi nữa. Anh từ chức dân quân lâu rồi còn gì — ba tháng là đủ quét sạch lòng yêu nước của anh rồi đấy,” Gilson xấc xược vặn vác.

McKenzie nổi giận đùng đùng đứng phắt dậy. “Mẹ kiếp cái thói xấc xược của mày, Gilson! Tao sẽ cho mày một—”

“Bình tĩnh nào, Mac,” Leonard cất tiếng ngắt lời. “Gã ngốc này đang say rượu — mày đâu thể đi quất roi một kẻ say xỉn được.” Rồi anh nắm chặt lấy cánh tay McKenzie và cả hai cùng đứng dậy định rời khỏi phòng.

“Say rượu ư?” Gilson gầm lên trong cơn thịnh nộ. “Say rượu cái con khỉ! Hai tụi mày khôn hồn thì cút xéo đi cho khuất mắt tao, vì tao sẽ thanh toán sòng phẳng mọi món nợ với tụi mày — cả mày nữa, Murray, cùng mấy đồng đô-la bẩn thỉu của mày nữa! Cút đi mà xem liệu mày có mua nổi một chút gan dạ chó má bình dân nào bằng đống tiền đó không.”

“Để tôi đấm cho gã du côn ba hoa này một trận tơi bời đi, Murray.”

“Gã không đáng để làm thế đâu.”

Đến lúc này những người có mặt trong phòng đều đã đứng cả dậy, người thì giục Murray rời khỏi phòng, kẻ thì cố gắng khuyên can Gilson, kẻ càng lúc càng ra điều thách thức khi những đối tượng bị gã lăng mạ đã khuất tầm nghe.

Đó là một cái kết thảm hại cho một ngày đầy khó chịu, và Leonard cứ trằn trọc suốt nửa đêm hè để bực dọc và cáu gắt về sự cố vừa rồi. Anh vốn chẳng phải là kẻ ưa gây gổ, và việc cãi vã với Horace Gilson lại là một chuyện quá thấp hèn và đáng khinh để mà bận tâm suy nghĩ. Sao tự dưng McKenzie lại đem rắc rối của mình đến tìm anh cơ chứ? Anh cảm thấy sự bất công của chuyến ghé thăm đó. Giá như anh chậm chân hơn vài phút, anh đã lỡ mất gã đàn ông đó cùng nỗi bực dọc nảy sinh từ sự đồng cảm của mình rồi. Anh thẫn thờ nhìn ra khung cửa sổ hướng về phía dinh thự Bloommaert và nhớ đến Sappha, nhưng rồi nhanh chóng trục xuất cô ra khỏi tâm trí, bởi anh không thể nào xua đi cảnh tượng vừa rồi ở phòng trực chiến; và thật là một tội ác khi để cả hai cùng xuất hiện trong tâm thức vào cùng một thời điểm.

Tuy nhiên, sau vài giờ thao thức đến phát bực, anh cũng chìm vào giấc ngủ nhờ cơn kiệt sức thuần túy, và khi tỉnh dậy vào gần trưa ngày hôm sau, Tự nhiên đã hoàn thành xong công cuộc hồi sinh của mình. Các Thế Lực Vô Hình đã đưa linh hồn anh vào chiếc nôi bình yên, quét sạch mọi đống đổ nát ngổn ngang của một ngày không may mắn, và lấp đầy tinh thần đang kiệt quệ của anh bằng sức mạnh kỳ diệu của Niềm Tin và Hy Vọng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.