Rosalie kêu lên: "Trời đất ơi! Tớ cứ nghĩ mình hiểu rõ Peggy Stewart chứ, nhưng Peggy Stewart mà chúng ta quen ở Columbia Heights, Peggy Stewart chúng ta gặp ở Wilmot, và Peggy Stewart vừa tìm thấy ở đây chẳng khác nào ba con người hoàn toàn khác nhau!"
Polly gật đầu đầy vẻ thông thái: "Và nếu cậu ở đây đủ lâu, cậu sẽ còn biết thêm một Peggy Stewart khác nữa cơ."
Nelly điềm tĩnh nói: "Cậu ấy tuyệt vời ở bất cứ đâu cậu gặp, và càng quen lâu, cậu ấy lại càng tỏ ra kỳ diệu hơn."
Juno hỏi: "Cậu đã quan sát cái sự kỳ diệu kỳ lạ này bao lâu rồi?"
Câu trả lời của Nelly hoàn toàn thành thật nhưng chẳng mấy sáng sủa: "Tớ nghĩ Peggy Stewart đã thu hút sự chú ý của tớ ngay từ khoảnh khắc đầu tiên chúng ta dọn đến Severndale." Juno cho rằng đây là ý né tránh nên liếc nhìn cô bé với vẻ sắc sảo hơn chút ít. Cô không chỉ tò mò muốn biết nhà cửa và cha của Nelly ra sao, mà còn tự hỏi liệu nhóm của họ có được mời đến đó hay không.
Buổi khiêu vũ Giáng sinh, vốn là chốn thiên đường nép sau những bức tường giăng đầy cờ hoa dành cho các vị khách của Đại úy Stewart, nay đã lùi vào dĩ vãng; thế nhưng, vẫn còn rất nhiều niềm vui khác đang chờ đón, và đỉnh cao của năm—buổi khiêu vũ đêm giao thừa—dù ngặt nỗi phải tổ chức vào tối ngày ba mươi tháng mười chứ không phải ngày ba mươi mốt, vẫn được mọi người háo hức mong chờ.
Đoàn khách đã đến Severndale trên một toa tàu riêng vào lúc mười hai giờ rưỡi, và thật khó lòng tìm được một nhóm thanh niên nào "điên cuồng và vui vẻ" hơn thế.
Khi trở lại Hội trường Bancroft sau vụ bà Harold sa thải tóm gọn khỏi "Thiên đường của Middie" vào tối thứ Bảy tuần trước, Ralph, Jean Paul, Durand, Bert, Gordon và Doug đã được lệnh trình diện tại văn phòng. Nếu không nhờ có lời hé lộ tại buổi tiệc trà, hẳn họ đã bước vào với tâm trạng đầy sợ hãi. Nhưng tình cờ thay, sĩ quan trực ban lại có chút ký ức vương vấn về những ngày còn làm học viên hải quân của chính mình, nên đôi mắt lấp lánh cùng nụ cười tươi tắn của ông đã xua tan mọi lo lắng. Lũ trẻ hết lòng sùng bái ông, và dù từng gọi đùa ông là Hercules Hugh, chúng sẵn sàng ngả người làm thảm chùi chân nếu ông hé lộ dù chỉ một chút mong muốn ấy.
Đến khi sáu chàng trai may mắn ấy cuối cùng cũng ngấm được sự thật rằng Đại úy Stewart đã thực sự xin được cho họ bốn mươi tám giờ nghỉ phép, lại còn được cùng nhóm bạn đi về Severndale, thì vài chuyện động trời suýt chút nữa đã xảy ra ngay trong văn phòng của sỹ quan chỉ huy. May thay, những kẻ được sủng ái đã kìm chế lại cho đến khi về tới phòng của Durand ở tầng ba; tại đây, một lối thoát đã kịp thời xuất hiện, và đó là một câu chuyện quá hay không thể không kể lại.
Dĩ nhiên, vào dịp Giáng sinh, vô số thùng quà "đồ ăn thức uống" được gửi đến tấp nập cho các học viên hải quân từ khắp nơi trên nước Mỹ, với chủng phần thường tùy thuộc vào vùng miền gửi chúng đến. New England không bao giờ quên gửi phần bánh thịt băm, gà tây quay cùng những món ngon dọn trên bàn tiệc vùng này vào mùa lễ hội. Miền Nam và miền Tây thì gửi những món đặc sản riêng của họ.
Người dì Belle của Durand chưa từng làm cậu thất vọng. Cứ mỗi dịp lễ tết là một chiếc thùng lại được gửi đến Bancroft, đề tên cậu cháu trai vô cùng yêu quý, và nơi đây luôn xem đó là tài sản chung của cả nhóm. Bạn bè của Durand chẳng mảy may do dự khi mở ra thưởng thức, bởi họ chắc chắn rằng người chủ nhân hào phóng của đống "đồ ăn" ấy sẽ vô cùng vui sướng khi được chia sẻ mọi thứ mình có với họ. Nhưng cũng như hầu hết những tâm hồn hào phóng, Durand thường xuyên bị lợi dụng, và năm nay sự lợi dụng ấy đã đẩy lên tận cùng giới hạn. Trong lúc Durand và bạn bè đang ở bên Hội trường Wilmot, thùng quà của cậu đã bị lục sạch. Tuy nhiên, khó có thể nói điều đó do chính bạn bè cậu làm, bởi có mấy tay từng đếm xỉa đến việc "Bubbles là một tay cừ khôi tốt bụng" đã nẫng đi thực tế là mọi thứ có trong thùng. Khi trở về phòng, xác con gà tây bị rỉa sạch trơn như thể vừa bị bầy kền kền xâu xé, nằm trơ trọi ngửa bụng giữa bàn học của cậu. Thật may cho Durand là viên học viên trực ban ở hành lãnh lại chính là một trong những kẻ đột nhập, bằng không cậu đã sớm bị cáo giác vì những chuyện xảy ra sau đó.
Khi đám đông hò hét ầm ĩ ùa vào phòng Durand, họ khựng lại và vài câu chửi thề đã thốt lên bày tỏ thái độ với những kẻ cướp ngày ấy. Nhưng cái đầu của Durand nhảy số rất nhanh. Chớp lấy con gà tây trơ trụi da lông bằng cái cổ dính mỡ, cậu cất tiếng hú dài như thổ dân da đỏ Comanche rồi lao ra hành lang, vung vẩy thứ vũ khí của mình trên đầu như một cây gậy chiến trận. Viên sĩ quan trực ban ở chiếc bàn cuối hành lang nhìn thấy cậu tiến lại và chẳng cần thêm lời nhắc nhở nào để hiểu rằng "thần báo ứng" đang tìm đến mình. Bất chấp kỷ luật hay bất cứ điều gì khác, anh ta chồm khỏi ghế và co giò chạy vòng qua góc hành lang, còn xác con gà tây thì bay vút theo sau với độ chính xác tuyệt đối.
Nếu cứ đứng trong tầm ngắm, anh ta chắc chắn sẽ nhận đủ—thậm chí nhiều hơn—phần gà tây của mình. Oái oăm thay, một sĩ quan phân đội lại chọn đúng khoảnh khắc đó để rẽ vào hành lang, thế là con gà tây bay vèo qua đầu anh, vì đó là một người đàn ông vô cùng lùn. Durand không đứng lại để hỏi han gì thêm. Cậu vẫn chưa cởi mũ hay áo khoác ngoài, một khung cửa sổ đang ở ngay gần bên, và cửa sổ căn phòng bên cạnh thì thừa sức cho một kẻ nhanh nhẹn như Durand chui qua. Chỉ một giây sau, cậu đã biến khỏi căn phòng này và lọt qua phòng kia, để lại cho đám bạn tự đi mà giải thích.
Vì sao sự việc ấy lại không khiến Durand cùng toàn bộ nhóm bạn đánh mất vỏn vẹn bốn mươi tám giờ nghỉ phép quý giá đó, chỉ có những vị thần hộ mệnh riêng của họ mới rõ, nhưng họ đã giữ im lặng một cách đầy khôn ngoan. Những gã trai trong phòng Durand có thể đàng hoàng tuyên bố rằng họ chẳng dính dáng gì đến cú ném phi đạn kỳ quái ấy, đồng thời chứng minh Durand không hề có mặt trong phòng. Họ cảm thấy chẳng cần phải khai quá chi tiết làm gì; và hai mươi phút sau, tất cả đã có mặt ở Thiên đường của Middie. Trước sự bực bội thầm kín của Juno, Guy Bennett và Richard Allyn đã thay thường phục đúng theo đặc quyền của sinh viên năm cuối "đang nghỉ phép", dẫu sự khác biệt giữa từ "nghỉ phép" (leave) và "nghỉ tự do" (liberty) là vô cùng lớn. Stella, dù rất ngưỡng mộ các bộ quân phục, lại tỏ ra bình thản đến mức trêu ngươi. Mấy cô gái chẳng bao giờ hiểu nổi sự thiếu nhiệt tình của Stella đối thế hệ học viên hải quân.
Và thế là buổi tối ngập tràn niềm vui của bữa tiệc khiêu vũ Giáng sinh đã trôi qua như thế, để rồi bất ngờ lớn nhất đang chờ đón họ tít trên Vịnh Round ngay khi chuyến tàu điện cập bến.
Hầu như mọi cỗ xe ngựa tại Severndale đều đã được huy động để chở khách từ nhà ga về, và hai cậu chàng Happy, Wheedles cũng cưỡi hai chú ngựa Shashai, Star—do Jess đưa về nhà nghỉ lễ—ra đón.
Họ đã không thể rời tàu sớm như Shorty nên đành đi chuyến sau và đến thẳng Severndale. Sự chào đón dành cho họ từ Peggy và Polly thật nồng hậu xứng tầm hoàng gia. Khi nhóm bạn tới Severndale, một bất ngờ khác lại chào đón họ: một chú chó sục Bun-gê Boston vô cùng béo tốt và dạn dĩ đang lật đật chạy ù xuống bậc thềm để chào mừng. Đối với tất cả mọi người trừ Polly, chú ta chẳng khác gì một kẻ xa lạ. Polly khựng lại đúng một giây, rồi reo lên khi ôm chầm lấy con vật nhỏ vào lòng, bất chấp chiếc áo khoác dạ hội đang mặc:
"Ôi, Rhody! Rhody! Ai đưa mày đến đây thế này?"
Như để trả lời câu hỏi ấy, Rhody đảo tròn đôi mắt lồi lên nhìn Wheedles.
Không gian quá ư chật hẹp để có thể kể hết về ngày Chủ nhật hạnh phúc và ngày Giáng sinh còn hạnh phúc hơn thế. Đến năm giờ chiều, Durand, Ralph, Jean Paul, Bert, Gordon và Doug buộc lòng phải nói lời tạm biệt các nữ chủ nhân để trở về Annapolis. Dẫu vậy, mỗi ngày trong tuần lễ Giáng sinh đều có buổi khiêu vũ thân mật vào buổi chiều tại phòng hội thảo—nơi bà Harold dẫn đoàn khách của mình tới tham dự—trong khi buổi sáng dành cho việc học tập của các học viên hải quân, và cho mọi trò chơi khăm nghịch ngợm ngoài Severndale của Happy, Wheedles cùng Shortie, những kẻ dường như đã tìm lại được thời sinh viên vô lo vô nghĩ, thích đùa giỡn của mình.
Thế mà, chỉ qua bảy tháng làm học viên đã mãn khóa, lũ con trai ấy đã thay đổi biết bao. Dù vẫn đầy ắp những trò vui nhộn và tinh quái, trêu chọc Peggy và Polly không thương tiếc, dành nhiều cử chỉ ân cần nhỏ nhặt cho Nelly—người mà tất cả đều đã yêu quý từ những ngày xưa cũ—đồng thời đóng vai những gã đàn ông hào hoa lịch thiệp với các cô nàng khác, vẫn có một sự khác biệt rõ rệt so với một Wheedles ba hoa bận rộn, một Happy đầu gấu ngổ ngáo, hay một Shortie lập dị kỳ quặc của những ngày ở Bancroft.
Nhưng sự quan tâm của Shortie rõ ràng chỉ dồn hết vào một tiểu thư tóc vàng, và họ đã cùng nhau thực hiện biết bao chuyến cưỡi ngựa dài qua vùng đồng quê xinh đẹp quanh Severndale. Đại hội Stewart quan sát mọi diễn biến với một nụ cười đầy từng trải. Gail và Shortie là những đứa cháu được ông cưng chiều nhất mực.
Happy và Wheedles phải bận rộn làm nhiệm vụ thay cho nhiều người trong suốt các buổi sáng, nhưng những chàng hộ vệ riêng của các cô gái thì luôn có mặt đúng từng phút khi chiếc xuồng máy từ Severndale cập phao ở Đại lộ Maryland vào lúc ba giờ rạp lăm mỗi chiều. Các cô chẳng có lý do gì để phàn nàn về việc thiếu sự quan tâm chăm sóc, bởi ngoài những người đã được mời tới Severndale, rất nhiều người khác cũng sốt sắng muốn được khiêu vũ cùng cô nàng du mục nhỏ nhắn Rosalie, cô nàng cao ráo uy quyền Stella, Natalie duyên dáng, Marjorie thẹn thùng hay Juno kiêu kỳ—người mà thái độ trịch thượng được xem như một trò hề lớn.
Trong tuần lễ ở Annapolis, Helen và Lily Pearl đã có những bước tiến dài ngoạn mục theo một hướng nào đó. "Ông nội Foxy" đã tình cờ gặp một góa phụ đon đả, lịch thiệp chọn Wilmot làm nơi chốn sinh cơ. Việc mái tóc của người phụ nữ ấy mang một sắc màu hiếm khi do tự nhiên tạo ra, và làn da của bà cũng kỳ lạ chẳng kém gì đống búi tóc xoăn vô số kể của bà, thì Foxy Grandpa lại quá cùn về thị giác lẫn tâm trí để có thể nhận ra. Ông đã trải qua cả cuộc đời có phần lạc lõng trước những con người rực rỡ và thú vị hơn, nên khi tìm được một kẻ nịnh hót mình, cứ lượn lờ xung quanh với vẻ e thẹn của một thiếu nữ mười tám tuổi—dẫu con số ấy nhân ba lên vẫn chưa đủ để tính hết số dặm đường đời của bà—thì điều đó đã khiến cụ ông say đắm như uống phải rượu mạnh, để rồi biến thành nô bộc của bà Ring trước sự thích thú tột cùng của mọi người ở Wilmot.
Và bà Ring nhanh chóng nhận Helen và Lily Pearl dưới quyền bảo trợ của mình, giới thiệu người con trai—vốn là một học viên hải quân—với họ, rồi anh ta lại giới thiệu người bạn cùng phòng của mình, thế là một nhóm sáu người vô cùng duyên dáng đã nhanh chóng được thành lập. Tội nghiệp bà đoàn trưởng Vincent, có lẽ bà sắp phải trải qua vài phen hú vía là hậu quả của kỳ nghỉ Giáng sinh đó, bởi Paul Ring và Charles Purdy quả là một cặp đôi khờ khạo hiếm có dễ bị xiêu lòng, nếu không muốn nói là tệ hơn thế.
Và cứ thế, tuần lễ tại Severndale của nhóm bà Harold trôi qua, Peggy một lần nữa lại hóa thân thành nữ quản gia nhỏ bé dịu dàng, đầy tự tin và tiếp đón khách khứa như một nữ hoàng nhỏ, trở thành một kỳ quan thực sự trong mắt các cô gái khác. Polly hạnh phúc như một chú dế, và tất cả những người còn lại cũng vui sướng chẳng kém. Những người lớn tuổi khóc oà vì hạnh phúc trong cuộc đoàn tụ hiếm có này, và Đại hội Stewart mỗi ngày một thêm gắn bó với "cơn lốc Howland" theo cách gọi của ông. Ba cô gái công khai sùng bái ông, còn người mẹ nhỏ nhắn, điềm đạm và duyên dáng Howland thì mỉm cười rạng rỡ với tất cả mọi người, hoàn toàn không đoán được rằng vị Đại úy tốt bụng đã bao lần đắm đuối nhìn bà khi bà chẳng hề hay biết, hay cách ông đang dần trân trọng người mẹ của ba thiếu nữ mà ông ca ngợi là những "viên ngọc tinh khiết nhất".
Nhưng chuyện đó hãy để tương lai trả lời. Giờ đây lại là sáng thứ Bảy và một bữa tiệc khiêu vũ lớn nữa đang đến gần mà tất cả mọi người đều sẽ tham dự.
Lần này Shortie đi cùng Gail, Wheedles mời Stella, Happy chăm sóc Juno, Polly đi cùng Ralph, Peggy sánh bước bên Durand, Rosalie chắc sẽ khóc cạn nước mắt nếu bất kỳ ai ngoài Jean Paul làm bạn nhảy vui vẻ của mình, Natalie là trách nhiệm của Bert, Marjorie và anh chàng cao kều Doug đã trở thành đôi bạn thân thiết, và dĩ nhiên, Gordon Powers đã chắc suất tháp tùng Nelly.
Vì đây sẽ là sự kiện hoành tráng nhất trong mùa lễ hội, mọi người đã quyết định đi xe ngựa vào Annapolis ngay sau bữa trưa, ghé xem một suất diễn kịch matinee tại cái nhà hát nhỏ xíu ngộ nghĩnh duy nhất mà thị trấn tự hào sở hữu—nơi bà Harold đã đặt ba lô ghế để bao trọn "cả đám"—rồi sau đó đến Wilmot ăn tối và thay trang phục. Mammy, Harrison và Jerome đã được tin tưởng giao trọng trách vận chuyển những chiếc vali đựng xiêm y dạ hội.
Mọi chuyện diễn ra vui vẻ như tiếng chuông cưới. Khi suất diễn matinee kết thúc, lũ con trai bị tống cổ ra hướng phải, còn các cô gái thì hớt hải chạy về phòng sửa soạn trang phục, bởi bữa tối lúc sáu giờ rưỡi đã được đặt sẵn và tất cả mọi người đều sẽ có mặt.
Vì các cô gái, ngoại trừ Stella và Gail, đều chưa đủ mười bảy tuổi và vẫn chưa chính thức ra mắt giới thượng lưu rộng lớn, nên váy áo của họ đều ngắn, chạm ngang tầm khiêu vũ, ngoại trừ Juno. Juno khá tự tung tự tác trong chuyện xiêm y. Cha cô cung cấp cho cô tất cả số tiền tiêu vặt mà cô đòi hỏi, và các khoản tín dụng tại một số cửa hàng lớn ở New York cùng một thợ may thời trang danh tiếng đã hoàn thiện sự tự do của cô. Sẽ chẳng còn lại mấy thứ cho Juno khi cô thực sự bước chân vào giới thượng lưu.
Chẳng có thời gian để bình luận hay chỉnh sửa khi các cô gái bước ra từ phòng mình để cùng những người lớn tiến vào phòng ăn, nhưng vừa nhìn thấy chiếc váy của Juno, sắc mặt bà Harold liền trầm xuống, và trong một khoảnh khắc, hàm răng cô bậm chặt lấy môi dưới như đang cố kìm nén lời nói. Juno và Rosalie ở chung một phòng, nhưng Rosalie hoàn toàn không hay biết gì về món đồ nằm trong vali của Juno cho đến tận lúc thay đồ. Khi đó, đôi mắt đen láy của cô bé suýt trợn tròn ra khỏi tròng, bởi quả thực chiếc váy của Juno là một thiết kế gây sốc đối với một nữ sinh.
Khỏi phải nói thêm rằng chiếc váy lẽ ra phải được mang đến Annapolis đã bị thay thế bằng bộ cánh hiện tại này vào phút chót, và bà Vincent thậm chí còn chẳng biết rằng Juno sở hữu một chiếc váy như thứ cô đang mặc trên người.
Đó là một bộ cánh bằng lụa satin charmeuse màu trắng ngọc trai tuyệt đẹp, khoét cổ sâu ở phía trước và khoét chữ V ở sau lưng, minh chứng rõ mồn một rằng người mặc không hề mắc chứng gù cột sống. Các đường viền trang trí bằng ren và pha lê tinh xảo cầu kỳ đủ sức dành cho một cô dâu, còn phần chân váy là kiểu đuôi cá bó sát, thướt tha kiểu đuôi hải ly khiến cho việc đi lại uyển chuyển chẳng khác nào dáng đi của một con ngựa bị trói giò, và việc khiêu vũ là điều bất khả thi nếu không nhấc bách váy lên. Đó là một phong cách cực kỳ tân thời, vượt xa cả lối thời trang Paris xứ Phăng-xê. Khi Juno chuẩn bị ních vào chiếc váy đó, ngay cả Rosalie—vốn vô cùng duyên dáng trong bộ đồ voan hồng—cũng phải thốt lên:
"Ôi trời, Juno Gibson, thật may cho cậu là bà Vincent không có ở đây đấy. Cậu mà mặc chiếc váy này thì đừng hòng mơ tới chuyện đi khiêu vũ."
"Thôi nào, bà ấy có ở đây đâu, nên cứ bình tĩnh đi cưng."
Nhưng cao trào chỉ đến khi họ đang bước qua sảnh tiếp tân của Wilmot trên đường từ phòng ăn đi lên. Bà Harold đi ngay phía sau bầy gà con của mình, đi cùng cô là Peggy. Cô bé hoàn toàn ý thức được sự căng thẳng đang bao trùm, bởi một Peggy nhỏ bé nết na đã quá gần gũi với Polly và bà Harold để kịp tích lũy cho mình kha khá kiến thức đời sống hợp lý cùng một vài tư tưởng rất đỗi tỉnh táo.
Khi họ chuẩn bị bước lên cầu thang, Juno với vẻ thờ ơ giả tạo liền nhấc tà váy lên, vô tình để lộ ra nét kỳ quặc mới nhất trong trang phục phụ nữ thời nay. Cô đi giày bạc, mặc quần tất lụa đen và hoàn toàn vứt xơ xác mấy chiếc váy lót. Sân khấu và Khách sạn Astor đã thúc đẩy hiểu biết của Juno về "thời trang đúng chuẩn" tiến nhanh như ngựa phi.
Vài cô gái khẽ hít một hơi kinh ngạc, và những nụ cười đầy vẻ buồn cười thoáng hiện trên khuôn mặt những người đứng gần đó. Bà Harold đỏ bừng tận trán.
Khi họ đến hành lang phòng bà, cô nói với Juno:
"Cô bé ơi, cháu có thể vào phòng ta một lát được không?"
"Vâng, nếu cô muốn, thưa bà Harold," câu trả lời vang lên với giọng điệu ngầm ra hiệu rằng Juno vừa lập tức khoác lên mình thứ áo giáp đầy vẻ cự tuyệt.
Ngồi xuống chiếc ghế thấp, bà Harold kéo một chiếc đôn lại gần phía mình và ra hiệu cho Juno ngồi lên đó. Chỗ ngồi ấy lẽ ra có thể được đón nhận với thái độ dễ chịu hơn thế. Bà Harold nâng gương mặt xinh đẹp mà bướng bỉnh ấy trong cả hai tay, đặt môi lên vương miện trán đang cau lại và nhỏ nhẹ nói:
"Cục cưng à, hãy giãn những nếp nhăn đó ra nào, và hãy nhớ rằng những điều cô sắp nói với cháu đều xuất phát từ việc bạn bè của Peggy và Polly cũng là bạn của cô, và cô yêu thương chúng. Phải, và cô cũng mong chúng học cách yêu quý cô nếu có thể. Chẳng có gì quý giá với cô hơn những đứa trẻ của cô, và cô khao khát được nhìn thấy tất cả những gì tốt đẹp, tinh túy nhất phát triển trong chúng. Cháu đến với cô với tư cách là một vị khách, con yêu ạ, nhưng cháu đồng thời cũng đến như một đứa con nuôi tạm thời dưới quyền cô, và vì thế, cháu có quyền đòi hỏi sự quan tâm đầy trìu mến của cô đối với hạnh phúc của cháu. Mẹ và con gái là những danh xưng vô cùng trân quý."
Có một khoảng lặng ngắn, trong đó Juno hất chiếc đầu xinh đẹp của mình một cách thiếu kiên nhẫn và cất lời bằng giọng điệu mỉa mai đến cay đắng:
"Vậy sao? Cháu e rằng mình chẳng được chuẩn bị tốt lắm để đánh giá điều đó."
Bà Harold nhìn sâu vào cô bé, một tia sáng bắt đầu lóe lên trong đầu dù cô vốn biết rất ít về quá khứ của Juno.
"Trái tim bé bỏng của cô ơi, hãy tha thứ cho cô nếu cô đã làm tổn thương cháu. Đó là điều vô tình. Cháu biết đấy, cô chẳng hề hay biết gì về những trải nghiệm trước đây của cháu. Đối với cô, cháu chỉ đơn giản là bạn của Polly. Có lẽ một ngày nào đó, nếu cháu có thể học cách yêu thương và tin tưởng cô, cháu sẽ để cô hiểu tại sao cô lại vô tình gây tổn thương. Chuyện đó hãy để dành cho thời điểm khác. Ngay lúc này, chúng ta chỉ có vài khoảnh khắc ngắn ngủi để 'lại gần nhau hơn'—như cách mấy đứa con trai của cô hay nói—và cô chuẩn bị đưa ra một yêu cầu có thể khiến cháu không vừa lòng. Cô bé của cô ơi, cháu có chấp nhận vài gợi ý liên quan đến trang phục của mình không?"
"Cháu dám cá là cô nghĩ nó quá già dặn so với tuổi của cháu. Cháu biết mình chẳng được phép mặc váy khoét cổ sâu hay váy đuôi dài cơ mà."
Bà Harold mỉm cười: "Cô sợ rằng mình sẽ bị cám dỗ để nói rằng chiếc váy này đã được gửi đến cho cháu trước khi nó kịp 'trưởng thành' đấy. Và chắc chắn là một số phụ kiện đi kèm của nó đã bị bỏ sót hoặc lãng quên hoàn toàn rồi."
"Xì, ngày nay có ai mà chẳng mặc quần tất bên dưới váy dạ hội chứ. Mặc vào mà để mấy lớp vải bún nhúm nhó bên dưới thì trông ra thể thống gì? Còn về phần cổ áo, nó chẳng hề thấp hơn những gì người ta hay mặc khi đi xem opera ở nhà đâu. Cháu biết tá người mặc những chiếc váy được may y chang thế này, và Madam Marie sẽ tứcộc mạng lên nếu cháu không tuân theo lời khuyên của bà ấy—cô biết không, bà ấy sẽ chẳng bao giờ thèm may vá gì cho cháu nữa đâu."
Bà Harold đặt tay lên bàn tay Juno: "Vậy thì cô nài nỉ cháu, hãy cứ mạnh dạn xúc phạm tư tưởng của quý bà ấy đi, bởi vì—chẳng có nhà thiết kế thời trang nào trên đời này có quyền đẩy một thiếu nữ tinh tế, nết na vào một hoàn cảnh sai trái, hay hạ thấp các chuẩn mực và lý tưởng nữ tính của con bé cả. Không chỉ chuẩn mực của riêng con bé đâu cháu yêu, mà rộng lớn hơn nhiều, đó còn là lý tưởng của những chàng trai và những người đàn ông mà con bé tiếp xúc. Cháu còn quá trẻ để có thể trân trọng hết điều này; cháu khó lòng mà lý giải nổi một số lời bàn tán chắc chắn sẽ vang lên trên sàn nhảy từ những kẻ có phần thiếu thốn sự nhạy cảm tinh tế; cháu cũng chẳng thể đo đếm được sức ảnh hưởng mà một thiếu nữ thực sự nết na—ý cô không phải là kiểu giả vờ ra vẻ đoan trang một cách ngu ngốc, bởi hiểu biết nông cạn về thực tế cuộc sống là một điều nguy hiểm—có thể tác động lên những chàng trai mà cháu gặp."
Bà Harold tiếp tục, nắm lấy những ngón tay thon dài, được cắt tỉa hoàn hảo của Juno: "Cháu có một bàn tay đẹp lắm, cô bé ạ. Nó hoàn hảo không tì vết. Hãy làm cho nó mạnh mẽ cũng như hoàn hảo vậy, vì hãy nhớ rằng—không có gì mang sức mạnh tượng trưng lớn hơn thế. Cháu đang nắm giữ trong bàn tay xinh xắn này nhiều quyền lực hơn cả những gì đặc quyền bình đẳng có thể ban tặng cho cháu. Hãy xem xét ngay lúc này để giúp thế giới trở nên trong sạch hơn—những người chị em của cháu—những người đòi quyền bầu cử đang dùng nhu cầu thiết tha này làm lập luận đanh thép nhất của họ—bằng cách tránh trong lời nói hay hành động bất cứ điều gì có thể phế truất vị thế của cháu trong sự kính trọng của phái mạnh, dù là trẻ tuổi hay trưởng thành, bởi cháu sẽ chẳng bao giờ biết được sức ảnh hưởng ấy vươn xa đến nhường nào đâu. Cháu nghĩ cô đang vơ đũa cả nắm trong tuyên bố của mình ư? Rằng cháu chưa từng và không bao giờ có thể làm điều gì gợi sự chỉ trích ư? Trái tim bé bỏng ạ, cô biết cháu không cố ý, nhưng chính cái thực tế là cháu ngây thơ trước sức ảnh hưởng mà... giả sử như một chiếc váy cháu đang mặc đây chẳng hạn... có thể gây ra, mới là mầm mống tạo nên tác hại. Nếu hiểu thấu đáo, chắc chắn cháu thà mặc áo tơi đi dự tiệc khiêu vũ tối nay còn hơn."
Trong khoảnh khắc, Juno không nói gì. Cỗ chiến thuyền nhỏ bé mang hình hài con người ấy đang chiến đấu với những dòng hải lưu xung quanh co và dường như chẳng có bóng dáng người hoa tiêu nào xuất hiện trong tầm mắt. Rồi cô đột ngột quay người, vòng tay ôm lấy bà Harold, vùi đầu vào bờ vai từng an ủi bao tâm hồn và bắt đầu nức nở nho nhỏ.
Bà Harold ôm lấy cô bé: "Cô bé của cô! Đứa con gái bé bỏng thân yêu của cô ơi, đừng suy nghĩ sâu sắc quá mà đau lòng. Cô đâu có ý định làm tổn thương cháu phũ phàng đến thế. Tha lỗi cho cô nhé, con yêu."
Juno nghẹn ngào: "Cô không làm cháu bị thương đâu. Không phải vì chuyện đó. Mà là vì cháu... cháu... chẳng biết mình đang ở đâu nữa. Chưa có ai từng nói chuyện với cháu thế này cả. Cháu toàn bị mắng mỏ, lên lớp rồi quát tháo um sùm, nhưng chẳng ai thèm quan tâm đủ để làm cho cháu hiểu. Xin cô hãy chỉ cho cháu với. Xin hãy bảo ban cháu. Nó cứ như một cánh cửa mở ra thế giới hoàn toàn khác vậy."
"Trước tiên hãy để cô lau đi những giọt nước mắt mà cô chính là nguyên nhân mang đến cho đôi mắt cháu đã nào—nếu mấy đứa con trai của cô mà nhìn thấy dấu vết của chúng, chắc cô bị tra khảo mất thôi. Sau đó chúng ta sẽ khắc phục những gì có thể gây ra tác hại."
Vừa nói, bà Harold vừa lấy một nhúm bông gòn thấm nước hoa hồng để lau đôi mắt nâu mềm mại, xinh đẹp của Juno. Cô bé ngước lên mỉm cười với cô, đoạn lại rúc vào người cô lần nữa.
Bà Harold hôn lên đôi má mịn màng như nhung: "Đứa con nuôi bé bỏng mới của ta."
Quả đúng là: "Đó là vẻ đẹp kết hợp hài hòa giữa sắc đỏ và trắng,
Mà bàn tay khéo léo ngọt ngào của chính Tự nhiên đã vẽ nên."
Hãy cứ giữ nguyên thế nhé—nó chẳng cần thêm sự trợ giúp nào đâu—chúng ta sẽ dần hiểu nhau hơn. Cháu sẽ lại đến chứ—vâng, thường xuyên nhé—và bất cứ khi nào cô có thể giúp đỡ, cứ tin tưởng ở cô—luôn luôn nhé? Và giờ thì cô sẽ đóng vai người hầu phòng đây.
Mười phút sau, khi Juno bước vào phòng khách, một mảnh ren Venice tinh xảo đã che lấp phần chữ V sau lưng áo; lớp vải maline trắng mềm mại nhất viền quanh phần cổ áo phía trước, và khi cô nhấc tà váy lên, một chiếc váy lót bằng ren mà bất kỳ cô gái nào cũng phải thốt lên là "ngọt ngào không chịu nổi" bồng bềnh tựa bọt biển quanh đôi mắt cá chân thon thả của cô.
Chẳng có bình luận nào được đưa ra và tất cả cùng lên đường tới buổi khiêu vũ. Và liệu thí nghiệm đó có phải là một cột mốc rực rỡ hay không? Chà!