Chúng tôi đã có một ngày đặc biệt tồi tệ ở tổ trọng án. Điện thoại reo liên hồi. Tất cả mọi người la hét lẫn nhau. Những bà mẹ nổi đóa, những ông bố tức điên, những nạn nhân giận dữ, những con nghiện cuồng loạn. Hành lang đầy rẫy những kẻ mất trí. Và tôi thì chẳng còn điều tra viên nào trống việc.
Tôi đã từng là trung úy và một trong các đơn vị tôi phụ trách là về tội phạm tình dục. Chúng tôi vừa bắt một lão già bảy-mươi-tuổi về tội tấn công tình dục với đứa cháu trai năm tuổi của lão. Chẳng có ai thẩm vấn lão. Nên tôi làm.
Trước mặt nghi phạm trong phòng thẩm vấn, tôi vào thẳng điểm mấu chốt.
“Tại sao ông sờ soạng cậu bé?”
“Nó tự chạy đến chỗ tôi.”
Điều tiếp theo tôi có thể nhớ được là có ai đó giật mạnh vai và cánh tay tôi rồi la lớn, “Trung úy! Trung úy!”.
Họ kéo tôi khỏi người lão già đang nằm trên sàn đó. Tôi đã bóp cổ lão ta. Mặt lão hóa xanh và gần như phải đi khám sau khi họ kéo tay tôi ra khỏi cổ lão.
“Đưa hắn đến phòng y tế và cút khỏi tầm mắt của tôi”, tôi nói.
Tôi tức lộn ruột. Tôi trở về văn phòng và nghỉ một phút. Rồi tôi gõ trên máy, một-trang-giấy, một-dòng, cho cảnh sát trưởng. Làm ơn hãy chấp nhận đơn thôi việc của tôi. Đó là mùa đông năm 1996.
Ký xong, tôi cảm tưởng như có ai đó đã nhấc bổng chiếc máy bay ra khỏi đôi vai mình.
Tôi không bước ra khỏi đó, tôi trôi đi. Tôi nhẹ hơn cả không khí. Tôi thở phào, thực sự nhẹ nhõm.
Tôi trở về nhà, bước vào cửa, và nói với Kathy: “Anh xong rồi. Anh nghỉ hưu đây.”
Không phải chỉ mình gã đó trong một ngày như thế. Mà là mọi gã. Mọi ngày. Tôi đã phải trải qua tất cả mọi nỗi đau và chịu đựng chúng. Tôi đã phải nghe tất cả những lời nói dối, tất cả những lý lẽ khủng khiếp cùng với tất cả những lời khẳng định vô tội đến nực cười suốt bao năm qua.
Nó tự chạy đến chỗ tôi.
Một người ông khẳng định là mình cưỡng dâm chính cháu trai bởi vì thằng bé đòi hỏi chuyện đó?
Lúc đó tôi nổi khùng lên, nhưng thật ra là từ lâu rồi chứ cũng không phải chỉ lúc đó. Kathy thì mệt mỏi mấy chuyện này lắm rồi, và tôi cũng vậy.
Tôi không thể tách rời cảm xúc ra khỏi công việc thêm nữa. Tôi sợ khoảnh khắc này sẽ đến. Lần đầu tiên trong 23 năm rưỡi làm công việc này, cảm xúc đã lấn át hết phần lý trí trong tôi. Tôi thề là sẽ không để điều này xảy ra lần nữa. Đã đến lúc phải ra đi, đến lúc phải rời khỏi ngành cảnh sát trước khi tôi làm điều gì đó thực sự ngu xuẩn.
Không có tiệc nghỉ hưu dành cho tôi, bởi tôi chẳng muốn. Ngày trước tôi còn ở đó, ngày sau thì không. Đã đến lúc bước sang chương mới. Tôi đã không thể nào nói với phụ huynh ai đó rằng con họ không về nhà thêm nữa. Tôi không thể nào nói chuyện với một bà mẹ đầy đau khổ nào thêm nữa. Tôi không thể nào nhìn xác của người nào đó nằm giữa vũng máu nữa. Tôi đã chạm đến cảnh giới của cảm xúc rồi. Mọi thứ xung quanh tôi đều trở thành tiếng ồn vô nghĩa. Tôi đã chẳng còn chú ý đến thế giới xung quanh, và cả nhân tính của bản thân mình nữa.
ĐẾN LƯỢT KATHY
Kathy đã bảo tôi nghỉ hưu từ rất lâu rồi. Cô ấy sợ rằng tôi sẽ bị giết khi làm nhiệm vụ. Cô ấy đã xem quá nhiều bản tin giật những cái tít kiểu như: “Anh ấy bị bắn ngay mặt tại một trạm dừng giao thông khi chỉ còn hai tuần nữa là nghỉ hưu.”
Cô ấy phát ốm lên vì sợ sẽ có một cuộc điện thoại kiểu vậy. Cô ấy biết rằng vận may của tôi sẽ hết. Cô ấy lo sợ tôi sẽ bị giết, làm điều gì đó ngu ngốc để rồi bị bắn, và không thể cùng cô ấy nghỉ hưu.
Khi tôi lên chức trung úy, tôi có thể cho cấp dưới đi bắt tội phạm trong khi tôi chỉ việc đi họp và ở yên sau bàn làm việc, nhưng tôi đã chẳng thế. Tôi đăng ký đi bắt những kẻ xấu và đó là điều tôi thích làm. Tôi thích rong ruổi trên đường cùng những sĩ quan và điều tra viên của mình. Tôi không muốn yêu cầu họ làm điều mà tôi không sẵn lòng làm. Điều đó cứ mãi khiến Kathy phiền não suốt ngần ấy thời gian.
Cô ấy nghĩ rằng tôi không công bằng với cô ấy, và cô ấy đã đúng. Phần tệ nhất là tôi biết thế nhưng tôi lại chẳng quan tâm. Tôi chẳng quan tâm là nó tốt hay xấu với người khác mãi đến cuối cùng khi tôi quan tâm tới cô ấy và tôi và tương lai của chúng tôi. Đã có lúc cả ngày lẫn những đêm làm việc tôi thực sự nghĩ rằng mình đang ở bên rìa cái chết.
Tôi ở trong đám cháy. Người ta đang cố gắng giết tôi. Tôi chẳng có lấy một chút lợi thế về chiến thuật. Tôi không thể nhìn thấy cái gã đang bắn tôi và tất cả những gì tôi có thể làm là hy vọng hắn ta ngừng nổ súng. Tôi đã nghĩ về cái chết của mình trong những lúc như thế.
Mày muốn để Kathy trở thành góa phụ với số tiền trợ cấp cảnh sát và tên mày trên đài tưởng niệm sao?
Tôi không muốn cô ấy phải đối diện với điều đó. Cô ấy đã từng đến nhiều đám tang của cảnh sát với tôi. Tôi đã chôn cất bảy người bạn hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ, hoặc vì nhiệm vụ. Tôi luôn nhìn thấy ánh mắt khiếp đảm trên gương mặt Kathy trong những đám tang đó. Tôi biết cô ấy nghĩ rằng: hy vọng mình sẽ không phải ở trong một đám tang như vậy, một mình
Một đêm nọ tôi trở về nhà sau một ca làm việc năm ngày dài liền. Đã có một vụ bắn nhau bằng súng máy. Tôi nói với cô ấy rằng tôi sẽ theo dõi nghi phạm một đêm và rồi tôi đã không quay lại mãi tới một giờ sáng. Đèn trong nhà vẫn sáng và điều này chẳng bình thường chút nào vào giờ đó.
Kathy chẳng bao giờ thức khuya thế. Tôi phát hiện cô ấy ngồi trong phòng khách với rượu để trước mặt, điều này cũng rất hiếm khi. Cô ấy khóc. Tôi nghĩ có thể là do mẹ cô ấy mới mất, nhưng cô ấy khóc là bởi vì rất giận tôi.
“Kenda, em chẳng thể chờ anh về nhà nữa”, cô ấy nói. “Em không thể sống hai mươi tư giờ một ngày mà cứ mãi nghĩ rằng anh sẽ bị giết. Em luôn luôn phải gạt bỏ suy nghĩ đó và tiếp tục sống. Lũ trẻ thì đi học. Em thì đi làm, về nhà, và sửa ống nước bởi vì anh chẳng ở đây. Suy nghĩ đó cuối cùng cũng không ám ảnh em hai mươi tư giờ một ngày nữa, nhưng đôi lúc khi lũ trẻ đi ngủ và em ngồi một mình trong đêm với ly rượu, suy nghĩ đó lại tràn ngập trong em. Em cứ phải trấn an bản thân mình thành lời rằng: “Mong cho anh ấy không sao. Mong cho đêm nay không phải đêm đó”.
Tôi đã không dành nhiều thời gian ở riêng với Kathy trong suốt những năm nuôi dạy lũ trẻ và những năm cả hai làm việc. Chúng tôi làm việc suốt. Cô ấy luôn mong muốn có thời gian ở bên nhau. Tôi thật ích kỷ khi cứ mải làm việc. Chưa kể tôi đã mang gánh nặng cảm xúc trong công việc về nhà.
Chắc chắn tôi chưa bao giờ rời khỏi nhà mà không nói “Anh yêu em” bởi đó có thể là lần cuối cùng tôi được nhìn thấy cô ấy. Ngày hôm nay tôi vẫn làm thế, nhưng với một ý nghĩa khác. Trong suốt một thời gian dài, nỗi đau tôi mang lại cho gia đình chẳng đáng lưu tâm bằng việc nghiện cảm giác adrenaline tăng cao khi đuổi bắt những kẻ sát nhân. Như bất cứ các loại nghiện khác, đều có cái giá phải trả. Mọi thứ quý giá trong cuộc sống của tôi trở thành thứ yếu. Tôi đã không lắng nghe lời thỉnh cầu từ họ để mà từ bỏ công việc áp lực và đầy thương tổn của mình. Tất cả đều là tiếng ồn vô nghĩa. Tôi đã dập tắt mọi cảm xúc.
May thay, tôi đã rút lui kịp trước khi biến mình thành lũ động vật mà tôi vẫn hằng săn đuổi. Nhưng rồi một chuyện đã xảy ra mà tôi không thể lường trước. Nghỉ hưu gần như giết chết tôi. Ngày hôm sau khi nghỉ việc, tôi thức dậy và kiểu như là, Tôi đã làm được gì?
Sự thật là phải mất một thời gian để làm quen với cuộc sống nghỉ hưu. Tôi bị mất phương hướng. Tôi chẳng biết phải làm gì với chính mình trong mấy ngày đầu. Bấy lâu nay bạn sống trong gánh nặng trách nhiệm với gia đình, gánh nặng tài chính, và gánh nặng công việc. Những gánh nặng đó chính là động lực giúp bạn làm việc, và khi chúng không còn nữa, bạn phải điều chỉnh lại.
Tôi nghĩ về những gì tôi phải làm và rồi tôi nhận thấy, Chà, bọn trẻ đã tốt nghiệp đại học rồi. Tôi thì rời ngành, Những người ở lại sẽ sống sót mà không có tôi. Tất cả những gì tôi phải làm là giữ cho chúng tôi còn sống.
Chúng tôi đã tiết kiệm tiền trong hai mươi năm bằng cách không bao giờ chi tiêu hơn nhu cầu thật. Chúng tôi chi trả học phí cho lũ trẻ - thực sự thì tôi cũng không biết chúng tôi đã làm thế nào nữa. Chúng tôi không có nhiều nợ và tôi thì có một khoản trợ cấp tử tế. Tôi biết chúng tôi có thể ổn định về tài chính nếu chúng tôi duy trì việc chi tiêu vừa phải. Tôi chỉ là không biết liệu tôi có thể chịu nổi không.
Những nạn nhân bị sát hại cứ ám ảnh tôi: Nạn nhân của những vụ án mà tôi không thể phá, nạn nhân của những vụ án mà tôi đã phá. Họ cứ nói chuyện với tôi từ dưới mồ. Tôi đã tự xây nên một cái khiên làm bằng thép chạy vòng quanh tim mình, nhưng những ký ức của tôi thì lại giống như những viên đạn xuyên thép. Chúng cứ bắn ra mãi, đem theo cả mùi, âm thanh, hình ảnh gương mặt từ quá khứ, và rồi khiến cái khiên vỡ tan.
Kathy và tôi xem một bản tin rất hay trên tivi nói về một cựu cảnh sát nữ sau khi nghỉ hưu đã dạy trẻ em cách đọc. Quả là một câu chuyện ấm lòng người và đầy lạc quan.
Tôi bật dậy khỏi chiếc ghế bành của mình, nhìn Kathy, và nói, “Anh phải ra ngoài”. Cô ấy đã học cách để tôi một mình những lúc như thế.
Hai mươi năm trước, tôi có một vụ án mạng liên quan đến một bé trai. Những điều khủng khiếp đã xảy ra với cậu bé. Một trong số những đứa trẻ trên bản tin trông y hệt cậu bé đó. Tôi biết đó không phải cậu, nhưng khi tôi nhìn thấy khuôn mặt ấy, những ký ức lại vụt qua đầu tôi, đưa tôi trở lại với khung cảnh chết chóc trong giây lát.
Những ký ức và cảm giác ấy cứ xuất hiện một cách chẳng mong muốn. Đó là cái giá mà tôi phải trả cho công việc mà tôi đã làm với cường độ cao trong ngần ấy năm trời. Sau khi nghỉ hưu, Kathy và tôi đã định rõ những đêm cụ thể trong tuần để cùng nhau ngồi lại bàn ăn. Cô ấy để tôi trải lòng vào ban đêm. Điều đó giúp được chút ít. Tôi đã cảm thấy khá hơn trong một thời gian.
RỐI LOẠN CĂNG THẲNG SAU SANG CHẤN
Mô tả rõ ràng nhất về rối loạn căng thẳng sau sang chấn (Post-traumatic stress disorder - PTSD) mà tôi có thể nói cho bạn đó là nó giống như thể bạn gặp ác mộng khi bạn đang tỉnh táo. Những người chết của tôi bắt đầu đến thăm tôi cả ngày lẫn đêm. Tôi chẳng thể nào khống chế những ảo ảnh tồi tệ đó trong vài tháng đầu nghỉ hưu. Tôi đã quá bận rộn, quá mệt mỏi và quá tê liệt khi còn làm công việc đó. Những ký ức bị chôn vùi. Và sau đó thì không.
Kathy, cũng là một y tá về tâm thần, đã chẩn đoán tôi mắc chứng PTSD sau khi chứng kiến hàng loạt các hồi tưởng vào ban ngày và những cơn ác mộng vào ban đêm của tôi. Vợ tôi chắc nịch: “Anh mắc chứng PTSD nặng rồi.”
Tôi không có phản bác. Tôi cần giúp đỡ.
Cô ấy tìm cho tôi một bác sĩ tâm thần học hàng đầu, không phải một nhà trị liệu tâm lý, mà là một bác sĩ thực thụ ở Denver, một người được xem là “thuốc đặc trị” của chứng rối loạn căng thẳng sau sang chấn. Bảo hiểm y tế của tôi sẽ không chi trả cho các vấn đề về tâm thần. Sẽ phải mất 400 đô la mỗi giờ để gặp bác sĩ và nó tốn một mớ trong khoản lương hưu của tôi. Tôi đâu phải ngôi sao nhạc rock, tôi chỉ là một nhân viên công vụ.
Dù sao thì tôi cũng đi. Tôi không muốn chọc điên Kathy, điều đó cũng chẳng có gì thú vị cả. Mớ hỗn tạp này quá đỗi thực và nó khiến đầu óc tôi mù mờ.
Tôi đến gặp bác sĩ sau khi tiễn bốn trăm đô la cho hóa đơn trị liệu trả trước. Anh ta có vẻ là một gã dễ thương. Trước hết, anh ta hỏi tôi liệu tôi có mơ những giấc mơ lặp đi lặp lại nào hay không.
“Có năm cái cứ lặp đi lặp lại”, tôi đáp.
“Kể tôi nghe xem nào,” anh ta nói.
Trong hai mươi phút tiếp theo của một giờ đồng hồ giá bốn-trăm-đô-la, tôi kể cho anh ta nghe về những cơn ác mộng đã ám ảnh tôi cả đêm lẫn ngày, cho tới lúc tôi kể xong, anh ta bật khóc.
Không phải tôi, bệnh nhân. Mà là anh ta, bác sĩ.
Tôi dành mười phút tiếp theo xoa dịu bác sĩ của mình vì anh ta đã quá đau buồn bởi những giấc mơ của tôi.
Suốt lúc đó, tôi nghĩ mãi, Cảnh tượng quái quỷ gì thế này?
Tôi cũng nghĩ, Phải gặp ai để lấy lại bốn trăm đô la chết tiệt của mình bây giờ?
Khi tôi trở về nhà, Kathy hỏi tình hình thế nào rồi.
“Đừng bao giờ bảo anh phải làm điều đó một lần nào nữa”, tôi đáp.
NĂM CƠN ÁC MỘNG CỦA TÔI
Hãy xem thử những cơn ác mộng của tôi có làm bạn khóc không nhé. Cái đầu tiên thật ghê tởm, cho nên là hãy dũng cảm lên, hoặc thay vào đó bạn nên đi đọc tạp chí gì đó đi, People chẳng hạn.
Cơn ác mộng thứ nhất: Tôi đứng trên bờ sông và những xác chết thì trôi qua trước mặt. Đó là một dòng sông chết chóc và những tử thi lềnh bềnh đang trong những giai đoạn phân hủy khác nhau. Họ vẫy tay với tôi “Chào Joe!”. Con sông đó chứa đầy những xác chết.
Trong mơ, tôi quay đi và rời khỏi bờ sông, nhưng lại có một bức tường cao tới ba trăm mét đứng chắn. Tôi không thể rời đi. Tôi phải ở lại. Không có lối thoát. Bởi vậy tôi ở lại, nhìn người chết trôi dạt qua cho tới khi bừng tỉnh hoặc nỗ lực thoát ra khỏi giấc mơ đó.
Cơn ác mộng thứ hai: Tôi bước vào trong một căn hộ và thấy một người phụ nữ chết bởi nhiều vết đạn bắn. Hai phát ngay mặt và ba phát ngay ngực. Cô ta chưa phân hủy, cô ta mới bị giết. Một phần khuôn mặt đã biến mất.
Tôi ở đó với các điều tra viên và cô ta ngồi bật dậy trên giường, nhìn thẳng vào tôi, nói, “Ông là Điều tra viên Kenda, đúng chứ? Ông phải tìm ra người đã làm thế này với tôi”. Tất cả mọi người hét lên bỏ chạy. Tôi cố lắm, nhưng chân tôi chẳng cử động nổi. Cô ta ngừng nói và nằm xuống. Tất cả mọi người lại trở vào.
“Cô ta dừng nói chuyện với tôi rồi”, tôi giải thích.
“Anh đang nói gì thế?”, các điều tra viên khác hỏi lại,
Vâng, tôi biết các bạn độc giả đang nghĩ gì, và các bạn đúng đấy: Tôi bị điên.
Cơn ác mộng thứ ba: chuyện này liên quan đến đứa bé bị sát hại bởi chính người cha đã tự vẫn của mình. Con trai tôi cũng có mấy bộ pyjama tương tự và chúng trạc tuổi nhau, bởi vậy vụ án làm tôi khá phiền não lúc đó. Hiển nhiên, nó ở lại với tôi.
Trong cơn ác mộng này, tôi thấy mình ở trong một phòng họp.
Căn phòng được sơn trắng xóa. Mọi thứ trong phòng đều màu trắng: ghế, bàn, tường và cả trần nhà. Trắng tới nỗi bạn chẳng thể thấy được điểm giao giữa chân tường và sàn nhà. Có một cái bàn họp to đùng và tầm ba mươi nạn nhân từ các vụ án của tôi ngồi quanh. Họ ở trong các giai đoạn phân hủy khác nhau, mặc đồ rách rưới và giòi bọ bò lổm nhổm trên người. Họ đều nói chuyện với tôi và đều hỏi tôi các câu hỏi.
Sao ông không tìm ra kẻ đã khiến tôi ra nông nỗi này? Sao ông lại để kẻ giết tôi chạy thoát?
Nạn nhân cuối cùng lên tiếng là đứa trẻ năm tuổi trong bộ pyjama chuột Mickey. Thằng bé nhìn tôi với con mắt còn lại và nói, “Sao chú để cha làm đau cháu?”.
Tôi thường tỉnh dậy sau đó. Tôi phải đi bộ lòng vòng một lát để quên nó đi. Đó là màn tra tấn khủng khiếp, chỉ vì tôi đã làm công việc của mình.
Cơn ác mộng thứ tư: Tôi đang khám xét một cái tủ lạnh thì ngăn đựng hoa quả tự động trượt ra để lộ đầu của một người phụ nữ bị chồng mình giết và chặt đầu trong cơn điên cuồng. Đôi mắt mở to, đờ đẫn của cô ta nhìn chằm chằm vào tôi, buộc tôi phải sống lại một trong những cảnh tượng kinh hoàng nhất sự nghiệp của mình.
Cơn ác mộng thứ năm: Tôi ở trong nhà xác và nhìn lên bức tường chứa các ngăn đựng xác, và tôi nghe thấy tiếng gõ cửa nhè nhẹ. NÓ không đến từ một ngăn chứa cụ thể nào; tiếng gõ xuất phát từ phía trong mỗi ngăn.
Tôi nghe những tiếng nói không rõ ràng phát ra từ bên trong mấy ngăn chứa. Họ đang kêu gào giúp đỡ. Khiếp đảm, tôi nhìn quanh nhà xác và thấy xác chết khắp nơi, nhảy từ bàn khám nghiệm này sang bàn khám nghiệm khác.
Sau đó tôi tỉnh dậy.
Bạn sẽ tỉnh dậy chứ?
Những cơn ác mộng luôn giống nhau, dù cho viễn cảnh có thể thay đổi đôi chút. Tôi còn có những cơn ác mộng khác nữa mặc dù ít thường xuyên hơn, nhưng cũng chẳng khá khẩm hơn. Một trong số đó là về cô gái mà chúng tôi tìm thấy xác trong Khu vườn của các vị Thần (là một cái công viên).
Đó là mùa hè, nóng và nhớp nháp. Cô ấy đã chết được ba tuần. Chúng tôi chỉ mới vừa tìm thấy thi thể cô ấy và khi khám nghiệm thì có cả đống bọ cánh cứng chui ra từ ống tai.
Trong mơ, con bọ cánh cứng đứng bằng chân sau, chống nạnh và nói, “Chúng tôi tìm thấy và giữ gìn cô ấy!”.
Phải đấy, một con bọ cánh cứng biết nói. Cứ tiếp tục nói đi. Kenda điên rồi.
Chẳng nhà biên kịch nào có thể nghĩ ra thứ đáng sợ như những giấc mơ của tôi, bởi vì chúng bắt nguồn từ hiện thực. Không có bộ phim hay chương trình truyền hình nào có thể tống những thứ khủng khiếp như thế vào đầu bạn. Tôi thấy điều đó trong những giấc mơ, từng chi tiết, và tôi còn ngửi thấy nó nữa. Một thi thể mới bị giết xong có mùi máu tanh như mùi mấy đồng xu, và nếu người chết đã uống rượu, bạn có thể ngửi được cả mùi cồn nữa, chứ đừng nói đến mùi thối rữa khi phân hủy. Những giấc mơ tấn công mọi giác quan của tôi cũng như tâm trí tôi.
Những giấc mơ của tôi chẳng hề giảm đi sau ngần ấy năm. Không hề.
Hai tháng sau khi gặp bác sĩ tâm thần quá đỗi mẫn cảm đó, tôi chơi gôn với cựu cảnh sát trưởng của thành phố Colorado Springs, người đã từng là điều tra viên án giết người ở Los Angeles. Ông ấy nhìn thấy cũng nhiều như tôi vậy, cũng có lẽ là hơn thế nữa.
Tôi tôn trọng ông ấy, dẫu cho ông ta cứ khăng khăng gọi tôi là “Joey DaKen”.
Trong lúc chúng tôi đang lái xe gôn, ông ấy hỏi, “Joey DaKen, giấc ngủ thế nào, bây giờ cậu nghỉ hưu rồi đúng chứ?”
“Tôi không ngủ,” tôi nói.
“Cậu biết đầy, Joey, tất cả những thứ đó, chúng chẳng bao giờ biến đi đâu.”
Khoảnh khắc đó, tôi đã hiểu ra.
Một cựu binh đối diện với chính những cơn ác mộng của ông ấy nói với tôi rằng, “Đừng chống lại nó. Tìm cách sống với nó đi.”
Và tôi đã làm thế. Cũng giống như nhiều người đàn ông và phụ nữ khác, những người sống trong nỗi khiếp đảm tương tự, hoặc tệ hơn, tôi đã làm được. Khi tôi nói chuyện với những người cựu chiến binh khác trong quân đội, những người đã tham gia chiến tranh, họ cũng nói điều tương tự: Hãy học cách thỏa hiệp với nó. Cậu sẽ không quên được nó. Cậu chỉ là học cách tiếp tục sóng thôi.
Điểm khác biệt duy nhất giữa trải nghiệm chiến tranh kinh khủng của họ và trải nghiệm sự nghiệp của tôi là tôi đã có hai mươi ba năm rưỡi trải nghiệm những cơn ác mộng của mình. Trải nghiệm của tôi như bản khiêu vũ chậm. Ví dụ, nhiều năm trước tôi được yêu cầu phải làm chứng trước tòa với vai trò một chuyên gia và điều này đòi hỏi tôi phải nói với tòa rằng tôi đã tham gia bao nhiêu vụ khám nghiệm tử thi như một nhân chứng chuyên nghiệp. Văn phòng điều tra ở Colorado Springs đã đếm giùm tôi.
528 vụ. Đó là số vụ khám nghiệm tử thi mà tôi tham gia, một cách chính thức.
Số tử thi khá cao đối với một người đàn ông, bạn có đồng ý không?
THOÁT KHỎI BÓNG TỐI VÀ BƯỚC RA ÁNH SÁNG
Hai năm sau khi nghỉ hưu, tôi đang ngồi ở nhà bếp, suy tính về công việc của mình, khi đó vợ tôi nhìn tôi mỉm cười thánh thiện.
“Chào anh”, cô ấy nói, vô cùng dễ thương.
Bị bối rối, tôi nhắc cô ấy nhớ rằng tôi đã ngồi yên đây, đọc báo và ăn sáng trong khoảng tầm hai giờ đồng hồ trước khi cô ấy chào tôi rồi.
“Em biết”, cô ấy trả lời, “nhưng đột nhiên em nhớ ra là anh đã trở lại. Người đàn ông mà em kết hôn đã trở lại.”
Tôi nghĩ điều này thật quá tốt. Một khoảnh khắc. Có thể là một cột mốc.
Hai năm với cuộc sống là một thường dân, và bằng phương pháp của Kathy, sự văn minh, tình người đã được khôi phục lại trong tính cách của tôi. Hẳn chúng ta đều mang theo hành lý và hành lý của tôi trong chừng ấy năm chắc chắn nặng bằng cả chiếc xe buýt. Đó là tàn dư mà công việc để lại cho tôi, và có thể là cho tất cả những người làm việc trong ngành của tôi. Tất cả chúng ta đều học cách thỏa hiệp với nó theo cách riêng của mình.
Hành trình của tôi để trở lại ánh sáng văn minh loài người chẳng hề dễ dàng chút nào. Con đường tôi đi đầy chông chênh và khởi đầu đặc biệt khó khăn. Có những trạm dừng kỳ lạ, và tất nhiên trạm kỳ lạ nhất - và chẳng giống ai nhất - là trạm dừng dẫn tôi đến cuộc đời hình sự lần hai: tham gia sản xuất chương trình Homicide Hunter - Thợ săn kẻ giết người (cái tên mà tôi phải cố làm quen) trên kênh truyền hình Investigation Discovery.
Nhưng cuộc phiêu lưu bất khả đó đã không bắt đầu ngay sau khi nghỉ hưu mà phải mãi đến mười ba năm sau khi tôi rời khỏi Sở cảnh sát thành phố Colorado Springs. Trạm dừng đầu tiên của tôi sẽ làm bạn ngạc nhiên nhiều như nó làm tôi ngạc nhiên vậy.
Tôi trở thành một nhân viên bán xe hơi, có lẽ là nhân viên bán xe ít nhiệt tình nhất trong lịch sử ngành công nghiệp ô tô. Đó là một sự nghiệp ngắn ngủi và không hiệu quả. Như đã nói, tôi không nghỉ hưu một cách êm đềm. Tôi rất đa nghi. Tôi không tin tưởng ai hết. Tính khí tôi chuyển từ kém thân thiện sang gắt gỏng. Điều này chẳng giúp ích gì tôi trong công việc đầu tiên sau khi nghỉ hưu này. Tôi bắt đầu công việc này một tuần sau khi rời khỏi Sở, và bắt đầu vào thời điểm đó rõ ràng là có vẻ hơi sớm.
Một người bạn tốt của tôi sở hữu một đại lý bán xe hơi. Tôi thì luôn yêu xe cộ. Tôi thích mua chúng, muốn trao đổi chúng, muốn lái chúng, muốn dùng chúng làm việc. Có lẽ tôi đã có khoảng hơn năm mươi chiếc xe trong những năm qua. Bởi thế mà tôi để gã bạn thuyết phục mình về làm việc cho hắn. Tôi đã hứa là sẽ cố gắng làm trong một năm.
Liệu bạn có mua xe từ một gã cựu điều tra viên án mạng gắt gỏng không? Thực sự thì tôi chẳng hề thân thiện với khách hàng. Tôi thường là bên mua chứ chưa từng là bên bán. Tôi đã từng được làm chủ, và sau đó thì không. Bạn có thể hình dung chuyến đi đến đâu rồi đấy.
Đúng mười hai tháng sau khi nhận việc, tôi đứng lên giữa đám nhân viên trong cuộc họp bán hàng và tuyên bố từ chức.
“Tôi sẽ không ở lại nữa. Tôi đến từ một môi trường mà làm điều đúng đắn là tất cả. Và rồi tôi đến đây, nơi mà kiếm tiền mới là tất cả. Tôi không nói rằng các bạn xấu xa, nhưng nếu tôi còn tiếp tục làm việc cùng các bạn, thì tôi cũng sẽ trở nên giống các bạn. Tôi không thích các bạn và tôi cũng không muốn trở thành như thế.”
Tôi chúc họ có một buổi chiều tốt lành và tôi trở về nhà, chẳng làm gì trong vài tháng ngoài việc khiến Kathy tức điên.
Một lần nữa, cô ấy nói hoặc là tôi kiếm việc khác hoặc là cô ấy sẽ giết tôi.
“Điều đó sẽ tốn rất nhiều thủ tục giấy tờ lắm đấy nhé”, tôi nói.
CHUYẾN XE BUÝT VUI VẺ
Vài ngày sau, cô ấy tìm được việc cho cả hai chúng tôi. Cô ấy đăng ký cho tôi làm tài xế xe buýt trường học bán thời gian. Kathy thì đăng ký làm “phụ tá có kinh nghiệm” để hỗ trợ các tài xế giữ ổn định và trật tự trên chuyến xe.
Tôi được chỉ định chạy xe buýt ngắn, chuyên chở những đứa trẻ có nhu cầu đặc biệt. Còn cô ấy được chỉ định điều phối những kẻ mà chúng tôi gọi là “người đày ải” - những đứa trẻ lớn tuổi bị đuổi khỏi trường học thường và chuyển đến một trường thay thế.
Tôi là một tài xế xe buýt thân thiện. Còn cô ấy là một giám sát kém thân thiện kiêm trợ lý tài xế. Chúng tôi yêu công việc này. Liệu pháp trị liệu tâm lý tuyệt vời của tôi. Lần đầu tiên trong cuộc đời mình, khi tôi xuất hiện trước cửa nhà người dân và các trạm dừng, ai nấy cũng vui mừng. Điều này cực kỳ hiếm thấy trong sự nghiệp cảnh sát của tôi.
Có lẽ bạn sẽ thấy ngạc nhiên khi thấy tôi nhanh chóng trở thành fan hâm mộ kênh truyền hình Disney. Chúng tôi mở kênh này trên xe. Chúng tôi hát trên đường đến trường, hầu hết những bài hát là từ phim Nàng tiên cá và Vua sư tử. Tôi gọi đó là chuyến xe buýt vui vẻ vì mọi người trên xe cực kỳ vui vẻ. Tính cả tôi.
Đó quả là một công việc tuyệt vời. Tôi yêu lũ nhóc và chúng cũng yêu tôi. Hạnh phúc tràn đầy. Tôi không chỉ đưa đón chúng, tôi còn tạo nên (và cố tạo nên) sự khác biệt tích cực trong cuộc sống của chúng.
Tôi có một đứa trẻ tự kỷ nặng trên xe, chúng tôi gọi nó là Douglas, nhưng đó không phải là tên thằng bé. Thằng bé chỉ muốn nói chuyện với duy nhất chiếc kính phản quang trên hộp thư ngay hàng rào trên đường đi. Thằng bé nói những điều vô nghĩa với cái kính. Nhưng tôi dạy nó đập tay với tôi. Tôi giao tiếp với nó. Có gì đó thân thiết. Chúng tôi tập đập tay với nhau nhiều ngày trên xe buýt.
Hôm nọ khi tôi đưa Douglas về nhà, mẹ thằng bé đang đợi. Tôi bảo tôi và thằng bé có thể cho cô ấy xem vài thứ. Tôi nói với thằng bé, “Đập tay nào, chàng trai!”
Douglas nhảy lên và đập bốp vào tay tôi. Mẹ thằng bé bật khóc.
Có lẽ tôi cũng thế, một chút.
VÀI HÀNH VI TỘI PHẠM VỤN VẶT
Kathy và tôi đã không nâng niu lũ trẻ của chúng tôi. Chúng tôi luyện tập yêu thương chúng theo cách thật cứng rắn, nhưng vẫn luôn nhấn mạnh đó là tình yêu, tôi nghĩ vậy. Cái này có lẽ tôi nên để lũ trẻ xác nhận. Trong chừng mực nào đó, trải nghiệm lái xe buýt đã cho chúng tôi mở mang tầm mắt về hàng loạt chiến lược dạy trẻ. Một số cách nuôi dạy, cư xử với con cực kỳ ấn tượng và thậm chí là đầy cảm hứng. Số khác khiến bạn chỉ muốn tát các ông bố bà mẹ một phát và hỏi thử xem họ đang nghĩ cái quái gì thế. Tương tự thế với cách nhà trường đối xử với học sinh của họ.
Tôi có một đứa trẻ chẳng có vấn đề gì về sức khỏe trên xe buýt của mình. Thằng bé không bị bệnh, chỉ là một chú nhóc bị nhà trường coi là có dấu hiệu của chứng giảm chú ý (ADD), một chút ngoài tầm kiểm soát. Một hôm tôi đến đón lũ trẻ, tôi thấy một cô giáo nắm cổ tay thằng bé. Cô ta túm chặt thằng bé.
Thằng bé thì lườm tôi như thể tôi là kẻ xấu.
“Anh đang giữ kẹo của thằng bé à?”, cô giáo hỏi.
Một số trẻ phải uống thuốc, chúng gọi đó là “kẹo”. Bởi vậy tôi không chắc về điều mà cô ta đang nói đến. Tôi bảo cô ta rằng tôi không có bất kỳ thông tin về đơn thuốc nào cho trường hợp này cả.
“Không”, cô giáo nói. “Kẹo thôi, kẹo thật ấy.”
“Sao tôi lại phải cho kẹo thằng bé?”, tôi hỏi lại.
Sau tất cả thì tôi cũng chỉ là ông tài xế xe buýt ngốc nghếch.
“Tôi bảo với thằng bé nếu nó ngoan trên xe buýt, anh sẽ cho nó kẹo”, cô giáo nói.
“Cô nói thế à? Cô có đi học không đấy?”, tôi nói.
Tôi không nghĩ là một Giáo viên lại trông mong Tài xế Xe buýt phải sắc sảo. Cô ta nhìn tôi chăm chăm. Nó có thể có tác dụng với học sinh từ lớp một lên lớp năm, chứ không phải tôi.
“Lại đây nào, con trai”, tôi nói với thằng bé. “Cháu có thể ngồi cạnh bên chú. Không có kẹo trên xe buýt đâu. Nhưng nếu cháu ngoan, nghe lời chú và cư xử tử tế, chú sẽ không ký đầu cháu. Cháu hiểu chứ?”
“Vâng ạ”, thằng bé đáp.
Tôi bảo thằng bé rằng có những người giống như cô giáo sẽ dụ dỗ mua chuộc, nhưng cũng có những người như tôi, biết thằng bé đủ thông minh để tuân theo đúng luật khi nó muốn. Tôi giải thích với thằng bé rằng tốt nhất là để nó tự kiểm soát bản thân thay vì để tôi kiểm soát nó.
Thằng nhỏ gật đầu đồng ý.
“Được rồi, ngồi xuống nào.”
Từ hôm đó, thằng bé gọi tôi là Ngài Joe. Nó ngồi xuống và xử sự một cách hoàn hảo. Chúng tôi trở thành bạn bè vì tôi định rõ vai trò giữa chúng tôi. Nó, trẻ em. Tôi, tài xế xe buýt. Tôi không chấp nhận mấy điều vớ vẩn và thằng bé biết ơn vì được xác định ranh giới với ông tài xế già.
Ai cũng ngạc nhiên. Tôi chắc rằng các báo cáo học thuật cũng viết về sự hồi phục kỳ diệu của thằng bé, mà không nhắc gì đến tôi, tất nhiên.
Một đứa trẻ khác ở trong ca khó hơn. Thằng bé lớn tuổi hơn, đang chuẩn bị qua tuổi thơ ấu và bước vào thời niên thiếu. Cậu ta đứng ngoài xe buýt của tôi, chuẩn bị lên xe trong khi vẫn đang hút thuốc.
“Vứt ngay đi”, tôi nói.
“Ông sẽ phải ép tôi”, cậu nhóc đáp.
“Cháu là tấm chắn đạn à?”, tôi nói.
“Không.”
“Vậy thì tốt hơn là nên dập điếu thuốc chết tiệt đó đi.”
Nó ném điếu thuốc xuống, dẫm lên, rồi bước lên xe buýt, tức xì khói. Tôi để ý nó, phòng trường hợp nó lên kế hoạch phá rối trên xe buýt của tôi. Anh chàng ngồi xuống với khuôn mặt chua chát, nhìn tôi chằm chằm.
“Này, nhóc”, tôi nói nhẹ nhàng. “Nhà tù cũng không tệ lắm. Nếu có phải quay lại thì tôi cũng không phiền đâu.”
Mặt anh chàng tái nhợt.
“Cháu có bao giờ phải chiến đấu để giữ mạng chưa nhóc? Có lẽ là chưa, nhưng nếu cháu đứng dậy khỏi ghế của mình dù chỉ một lần, thì sẽ biết mùi ngay và cháu sẽ không thích lắm đâu.”
“Vâng, thưa ông”, cậu chàng nói.
Tôi không phải nói thêm lời nào khác với cậu ta. Chúng tôi đã hiểu ý nhau rồi.
Tôi không để cho bọn nhóc muốn làm gì thì làm. Ngoại trừ Emmitt. Thằng bé có cái gì đó hơi lạ. Tôi nghĩ cái lạ đó là nó ngắm bắn tốt. Tôi thực sự ngưỡng mộ khả năng ngắm bắn của nó. Cậu bé đó sáu tuổi, cũng có chút vấn đề, nhưng hay ho cái là đứa trẻ này có thể chinh phục bất kỳ mục tiêu nào bằng quả tên lửa yêu thích của mình - chính là chiếc giày tennis nhỏ. Thằng nhóc ngồi ở phía sau xe buýt, nhắm vào tôi, và làm văng chiếc mũ của tôi ra mỗi ngày.
Rồi nó cười và cười.
Tôi cũng vậy.
Emmitt không bao giờ trượt. Tôi thích điều đó.
Tôi có biết một đứa trẻ thú vị khác, một trong những đứa lớn tuổi đi trên xe buýt của tôi. Cậu chàng tuổi tầm mười lăm hoặc hơn. Tôi đã suy nghĩ trong một khoảng thời gian dài và vẫn không thể hiểu tại sao cậu ta lại đi xe buýt của tôi. Cậu chàng rất sáng sủa và hoạt bát. Ngày đầu tiên đi học, cậu nói: “Chú Joe, cháu biết chú là tài xế của cháu năm nay. Cháu rất vui mừng khi được đi xe buýt này và cháu muốn chú biết rằng lũ trẻ trên xe buýt có nhiều vấn đề và cháu rất sẵn lòng hỗ trợ chú nếu có thể.”
Tôi cám ơn và cậu ấy ngồi xuống. Anh chàng cứ như là một ông luật sư 35 tuổi ấy. Nó rất có ích. Nó giúp giữ những đứa nhỏ ngồi yên đúng chỗ.
Nó nói chuyện với lũ trẻ và giữ mọi thứ nhẹ nhàng trật tự. Tôi tự hỏi có chuyện gì xảy ra với nó không. Nó chẳng có vẻ gì là quậy phá hết.
Và rồi một ngày tôi phải dừng xe theo hiệu lệnh khi đi ngang qua một công trường. Người trợ lý nhỏ tuổi của tôi ra khỏi chỗ. Đây là lần đầu tiên tôi thấy nó lo lắng.
“Có phải chúng ta sẽ đi học trễ không?”
“Có thể trễ một chút”, tôi nói.
Nó quay lại chỗ ngồi của mình, nhặt chiếc balô và ném vào tôi. Sau đó, nó hét lên và ném mấy chiếc balô khác vào kính chắn gió. Tôi đến chỗ nó, vòng tay ôm nó và bảo rằng mọi thứ sẽ ổn thôi. Khi tôi cảm thấy nó đã bình tĩnh lại, tôi hỏi là tôi có thể buông ra được chưa. Anh chàng nói có, xin lỗi, và lặng lẽ về chỗ ngồi xuống. Tôi đã cố gắng không bao giờ bị trễ nữa, và nó vẫn ổn.
Giống như rất nhiều người trong chúng ta, cậu bé không thích thói quen của mình bị gián đoạn.
Tôi có thể đồng cảm được với điều đó.
TRỞ LẠI HIỆN TRƯỜNG CỦA NHỮNG TỘI ÁC
Lái xe buýt là một niềm vui. Được nghỉ hè và nghỉ lễ. Tiền lương ít nhưng tôi không quan tâm. Tôi có lương hưu còn lũ con tôi đã dọn ra khỏi nhà và tự lập được rồi. Tôi cảm thấy như tôi đang tạo ra một sự khác biệt tích cực. Các bậc phụ huynh biết rằng con cái của họ được an toàn ở chỗ tôi.
Trong chín năm trời, Kathy và tôi sống một cuộc sống yên bình. Chúng tôi làm việc một chút, chơi một chút, và cố gắng hết sức có thể để quên đi những kỷ niệm đau đớn. Tôi không muốn nhớ lại và nhắc lại những gì đen tối nhất trong chuỗi ngày làm cảnh sát, ít nhất là tôi đã nghĩ như vậy.
Sau đó, Kathy đã bắt tôi trả lời một nhà sản xuất, anh ta có ý tưởng điên rồ về việc thực hiện một chương trình truyền hình thực tế về những trải nghiệm của một điều tra viên tham gia giải quyết những vụ án giết người. Tôi phớt lờ cái anh nhà sản xuất đó cho đến khi vợ tôi giận tôi.
Rồi chúng tôi nói chuyện. Sau đó, tôi đã nói chuyện với máy quay để chạy thử, mọi thứ khá thuận lợi và tôi đã bắt đầu tham gia truyền hình từ lúc đó.
Tôi cố gắng níu kéo công việc lái xe buýt được một năm, để đảm bảo là công việc mới không phải là một giấc mơ hão huyền.
Mà là mơ cũng được, miễn là tốt cho tôi. Nói chuyện về cuộc đời tội phạm giúp tôi nhẹ lòng. Nó mang cho tôi bình yên mà tôi chưa có được từ rất, rất lâu rồi.
Vợ con tôi nói bây giờ tôi đã là người khác, ở bên tôi vui hơn trước.
Con đường sự nghiệp của tôi không phải là con đường mà tôi muốn giới thiệu cho bất kỳ ai: từ điều tra án giết người cho đến nhân viên bán xe, lái xe buýt đến ngôi sao truyền hình. Nhưng cho đến cuối cùng, tôi thực sự bắt đầu tin rằng cái thế giới cũ kỹ này cũng còn chút công lý.
CÂU CHUYỆN CHIA XA
Để tôi kể thêm một câu chuyện trước khi chúng ta khép lại cuốn sách này.
Vì tôi đã chia sẻ rất nhiều câu chuyện ác mộng với các bạn, nên tôi nghĩ sẽ là một ý hay khi gửi đến cho các bạn một chút gì đó lạc quan hơn coi như là một món quà chia tay. Đây là một câu chuyện về một vài ngày rất tốt, có lẽ là hai ngày tuyệt vời nhất trong sự nghiệp của tôi với tư cách là một cảnh sát ở Colorado Springs.
Hai ngày này cách nhau hai mươi năm, nhưng này, kể được thì cứ kể đúng không nào.
Hồi xa xưa ấy tôi vẫn là một cảnh sát tuần tra, lúc đó là vào khoảng thời gian mà chúng tôi phải trải qua một trong những mùa đông khắc nghiệt nhất. Một trận bão tuyết khủng khiếp đổ xuống từ dãy núi Rockies, chôn vùi toàn bộ thành phố và khu vực xung quanh. Tuyết rơi ba ngày. Gió hú lên như một trận tuyết lở. Tuyết dày đặc ở khắp mọi nơi.
Mặc dù chúng tôi đã quen với thời tiết mùa đông khắc nghiệt và tuyết lớn, nhưng cơn bão lớn này làm tê liệt toàn bộ khu vực. Thống đốc bang đã tuyên bố toàn bộ tiểu bang là một vùng thảm họa. Tất cả cư dân được khuyên nên ở trong nhà của họ. Cảnh sát, lính cứu hỏa, và nhân viên cấp cứu chỉ được cử đi trong trường hợp cực kỳ khẩn cấp và phải sử dụng thiết bị đặc biệt để vượt qua tuyết sâu và điều kiện khó khăn.
Thiết bị đặc biệt của chúng tôi, một tài sản của quân đội, là chiếc xe tăng “Patton” M-60A1. Bốn mươi chín tấn bánh răng và tháp pháo, động cơ 750 mã lực và tốc độ tối đa 30 dặm trên giờ. Tôi đã đề cập đến khẩu pháo 104mm M68, phía sau còn gắn hai cây súng máy chưa?
Đó mới là máy xúc tuyết của tôi chứ!
Xe tăng do doanh trại Fort Carson cung cấp, kèm theo một đội quân để hỗ trợ chúng tôi trong cơn bão. Họ đến khi chúng tôi được phái đi để giúp một phụ nữ mang thai và hộ tống cô từ một căn nhà ngập trong tuyết đến phòng sinh của bệnh viện. Tôi leo lên chiếc xe tăng, cảm giác đứng lên trong tháp pháo cứ như một anh hùng thực sự.
Gió quá mạnh để lái trực thăng. Họ không chạy được xe cứu thương trong tuyết. Vậy nên chúng tôi lăn vào cơn bão và chinh phục nó giống như tướng Patton giải phóng nước Pháp khỏi Đức quốc xã.
Chạy ngang và chào mấy người dân đang rúc trong nhà cũng là rất vui đấy. Chúng tôi, một cách anh dũng, đã đến trước cửa nhà người phụ nữ mang thai và tôi, người anh hùng, lội qua tuyết để vào nhà. Sau đó tôi, như một người hùng, bế người phụ nữ về phía chiếc xe tăng. Nhưng không giống như tướng Patton, tôi đã nhanh chóng thua mất trận Bulge.
Cái bụng bầu to đáng kể của người phụ nữ khiến chúng tôi không thể đưa cô ấy vào trong xe tăng. Chúng tôi đã thử mọi cách để cô ấy lọt qua - đưa đầu vô trước, đưa chân vô trước. Không có cách để nhét cô và cái bụng bầu vào chiếc xe tăng được.
Tôi cảm thấy phần nào ít anh hùng đi khi phải bế cô ấy trở lại nhà. Đứa bé không quan tâm đến mấy chuyện tầm phào mà chúng tôi làm. Nó đang đòi ra cho dù chúng tôi đã sẵn sàng hay chưa. Tôi đổi việc từ chỉ huy xe tăng sang làm bà đỡ nghiệp dư. Tôi chính là người đã mang cậu bé này vào thế giới đầy tuyết trắng này.
Dù tôi không được đào tạo về mặt y tế, nhưng hai mẹ con vẫn bình an. Sau khi em bé đã ra khỏi cơ thể, chúng tôi đã tìm cách cho cả hai vào xe tăng và mang họ đến vòng tay của những bác sĩ cùng các nhân viên y tế thực thụ.
Đó là một ngày đáng nhớ trong buổi đầu sự nghiệp non trẻ của tôi, cái ngày mà sớm thôi sẽ bị chôn vùi trong những ngày ít đáng nhớ hơn và đen tối hơn. Và rồi một ngày khác đến, hai mươi năm sau đó. Lúc đó tôi đã đứng đầu của bộ phận tội phạm nghiêm trọng. Hôm ấy, hai thư ký của tôi canh cửa để tránh mấy người điên cuồng xông vào và cả cơn giận dữ khát máu của mấy tên tội phạm.
“Trung úy, có một người phụ nữ bên ngoài và cô ta khăng khăng muốn gặp anh.”
“Bảo cô ta đi đi không thì tôi sẽ bắn vào giữa hai con mắt cô ta”, tôi nói.
“Cô ấy không có vẻ thù địch. Trông bình thường, và đi cùng một người đàn ông trẻ có vẻ rất lịch sự.”
“Họ muốn gì?”
“Cổ không nói, nhưng cổ có vẻ khá dễ chịu.”
“Vậy để họ vào, nhưng mười phút nữa hãy gọi thông báo khẩn cấp cho tôi, để tôi có thể đuổi khéo họ về nếu cần.”
Tôi đã mong đợi điều tồi tệ nhất, nghĩ rằng đây có lẽ là người mẹ có con trai bị bắt vì sử dụng cần sa hoặc khoe hàng với đội bóng vợt nữ.
Họ bước vào.
“Chào, Trung úy Kenda, anh có nhớ tôi không?”, người phụ nữ nói.
“Không, tôi e là không”, tôi nói.
“Vậy thì tôi cho rằng anh cũng không nhớ cậu ta”, cô nói, gật đầu với cậu trai trẻ.
Cậu ta trông giống như một đứa trẻ ngoan. Tôi bắt tay anh ấy.
“Chàng trai này có phải con trai cô không?”
“Anh nên biết chứ,” cô nói. “Lần cuối anh nhìn thấy nó là ngày anh đưa nó vào thế giới này đấy.”
Tôi đóng cửa sau khi nói với các thư ký giúp tôi hẹn lại tất cả các cuộc gọi.
Cô ấy muốn tôi gặp con trai của cô, lúc đó đã hai mươi tuổi, cao một mét tám mươi tám và chuẩn bị vào đại học.
Cô ấy còn có những đứa con khác từ ngày ấy, nhưng ngày anh cảnh sát đến trong một chiếc xe tăng và đỡ đẻ đứa con đầu lòng đã trở thành huyền thoại của gia đình.
Chúng tôi đã nói chuyện một giờ hoặc có thể là lâu hơn và mọi thứ rất dễ thương dễ chịu. Tôi không có nhiều ngày vui trong cái văn phòng đó, nên đây là một trong những dịp thật sự hiếm hoi. Thông thường thì người ta thường vào để chửi tôi thôi.
Nhưng hôm ấy thì khác, nó thật tuyệt vời, một ngày thật sự tuyệt vời mà tôi sẽ luôn luôn trân trọng.