Công việc của một điều tra viên án giết người như tôi là xác định, theo dõi, và thu thập những chứng cứ chống lại kẻ sát nhân. Dẫu vậy, bắt giữ và buộc tội những tên giết người không đảm bảo rằng chúng sẽ bị tuyên có tội và bị trừng phạt bởi hệ thống tư pháp.
Nhiều hung thủ bị tôi tóm cổ đều nhận tội vì rõ ràng bọn họ đã phạm tội, và do đó các vụ án họ gây ra không bao giờ cần tổ chức xét xử, nhưng 217 trong số gần 400 vụ án trong cuộc đời điều tra của tôi đã được xét xử tại phiên tòa tranh tụng[1]. Hai trăm mười lăm trong số những phiên tòa đó đã kết luận những kẻ tôi bắt giữ được là có tội.
Chỉ có hai trong số những người mà tôi xác định là hung thủ được thẩm phán tuyên trắng án.
Trong giới thể thao, hầu hết các huấn luyện viên sẽ vui vẻ nhận lấy kỷ lục 215 lần thắng và 2 lần thua. Đội của họ sẽ không vùng lên chống lại đối phương. Các huấn luyện viên không phải lo lắng rằng địch thủ trước đây có thể giết thêm nhiều người vô tội nếu mình cứ nhận thua họ hai lần.
Tôi đã cố gắng không để điều đó làm mình nản lòng, nhưng không được. Công việc của tôi là hoàn thành nhiệm vụ điều tra vụ án giết người một cách tốt nhất có thể và bắt giữ những kẻ tôi tin chắc là phạm tội. Đây cũng là công việc của hệ thống tư pháp nhằm kiểm soát hành vi phạm tội của bọn chúng, và cũng để trừng phạt hung thủ một cách hợp pháp hợp lý.
Tôi phụ trách giải đáp cho những câu hỏi Ai, Điều gì, Khi nào, và Như thế nào. Các vị thẩm phán và bồi thẩm đoàn sẽ tìm hiểu về lý do cho câu hỏi Tại sao. Hệ thống tư pháp đưa ra phán quyết cuối cùng. Tôi đã phải lánh xa chính bản thân mình khi tôi không đồng ý với những quyết định của họ. Lúc đó lời nhắn trong tôi đối với các tòa án đó là, Các vị có thể đã tuyên trắng án cho vụ án này, nhưng tôi vẫn sẽ tiếp tục công việc của mình và tìm thêm chứng cứ buộc tội hắn.
Ngược lại, tôi luôn luôn ưa thích những khoảnh khắc tại tòa án khi thẩm phán xét hỏi bị đơn và tiếp đó đưa ra phán quyết có tội, theo sau là lời tuyên án khiến cho hung thủ đổ khuỵu trong suốt phần đời còn lại của hắn ta hoặc ả ta.
Tôi thích nghĩ về hệ thống tư pháp hình sự của chúng tôi tựa như một con hổ đang ngủ. Nếu bạn là một công dân có ích, sống tốt và không chọc ghẹo con hổ, nó sẽ nằm yên để bạn đi qua. Nhưng nếu bạn là một kẻ xấu và bạn phá vỡ các quy định do xã hội đặt ra, bạn đang chọc giận con hổ và phải lãnh một vết cắn lớn hoặc bị nuốt chửng hoàn toàn.
Khi con hổ để trượt mất con mồi tôi cất công bẫy được, tôi không mấy vui vẻ. Tôi không được phép bàn luận về bất kỳ vụ án nào. Vị luật sư đe dọa sẽ bắn tôi nếu tôi công khai vụ việc. Tất cả những gì tôi có thể nói là tôi đang nhắc đến một vụ án mà kẻ giết người khẳng định rằng người này chỉ hành động để tự vệ. Tôi không đồng tình, nhưng bồi thẩm đoàn lại không đồng ý với tôi.
Ví dụ khác trong đó một trong số các nghi can của tôi đã được xử trắng án, là phiên tòa của một kẻ giết người hàng loạt man rợ. Đây cũng có thể là vụ án gây kinh hoàng và ám ảnh nhất trong sự nghiệp của tôi. Các nạn nhân là một người mẹ mang thai và hai đứa con trai nhỏ của cô. Họ không chỉ bị giết, mà còn bị tra tấn dã man. Tôi chưa bao giờ thấy mức độ bạo lực tàn nhẫn đến vậy trước đó.
Benjamin Sisneros là một nhân viên điều tiết giao thông hàng không tại Fort Carson vào tháng 1 năm 1979. Anh đã để vợ và các con trong căn hộ vào sáng sớm khi anh ta đi làm. Khoảng trưa, anh ấy gọi về nhà để thăm hỏi. Không ai trả lời. Điều đó khiến anh lo lắng, vì vậy anh ấy xin phép ngừng việc và lái xe về nhà lúc 12:10 chiều. Mất ba mươi phút lái xe.
Chúng tôi nhận được cú điện thoại của anh ấy ba mươi lăm phút sau đó. Tôi đã có một ngày nhàn rỗi cho đến khi tiếp nhận vụ án máu lạnh này. Khi tôi đến, Benjamin Sisneros đang rên rỉ và khóc nấc từng tiếng nức nở trên sàn ở hành lang bên ngoài căn hộ. Anh ta không phải là người quẫn trí duy nhất ở đó. Những điều tra viên của tôi, nhân viên y tế khẩn cấp và các chuyên gia có mặt lúc đó cũng vô cùng run rẩy. Đó là một cảnh tượng hiếm gặp. Rõ ràng là một hiện trường tội ác khủng khiếp.
Tôi dành một phút để chuẩn bị tâm lý cho bản thân, và sau đó tôi nhìn vào phía trước cửa. Bên trong căn hộ khiêm tốn là một vụ thảm sát, một trong những vụ tồi tệ nhất mà tôi từng thấy. Máu văng tung tóe trên cả bốn bức tường và trần nhà. Cái khăn phủ lên thi thể người mẹ, cả đứa con hai tuổi và bốn tuổi của họ cũng bị sát hại.
Khám nghiệm tử thi ghi nhận rằng Yvonne Sisneros, đang mang thai tháng thứ ba, đã bị đâm, bị bóp cổ, và tấn công tình dục. Báo cáo khám nghiệm kinh khủng vậy đấy, nhưng vẫn chưa thực sự miêu tả chính xác hết mức độ bạo lực trong vụ án này. Kẻ giết người đã nhét một cái cán chổi vào âm đạo của cô bằng một lực rất mạnh khiến nó dừng lại ở khí quản của cô. Nhân viên điều tra cho biết những vết thương từ cuộc tấn công tàn bạo là nguyên nhân gây ra cái chết, chứ không phải là do sáu mươi ba vết thương đâm của dao.
Hung thủ cũng xuống tay bạo hành hai đứa trẻ. Cậu bé hai tuổi đã bị đâm hai mươi hai nhát. Cậu bé bốn tuổi bị đâm mười chín nhát. Kẻ giết người đã sử dụng hai hung khí khác nhau. Có lẽ là một tuốc nơ vít chéo và cái còn lại là một con dao bếp, theo lời các nhân viên điều tra thuật lại.
Kẻ giết người đã tàn nhẫn ra tay với cả hai đứa trẻ trước khi nghiến nát đầu bọn nhỏ bằng một quả tạ. Một miếng giẻ nhồi xuống cổ họng của một trong hai cậu bé. Nó bị nhét khá sâu, có dấu móng tay ở bên trong cuống họng.
Ngay khi vừa bước ra khỏi căn hộ đó, tôi thề với lòng sẽ không ăn ngon ngủ yên cho đến khi tóm cổ được kẻ giết người. Một hiện trường sát nhân hỗn loạn như vậy thường không đưa ra nhiều manh mối ban đầu. Không có dấu hiệu đột nhập hoặc trộm cướp. Một trong số ít những thứ nằm ngoài khu vực gây án là một cây bút nhỏ chúng tôi tìm thấy được trên sàn nhà. Đó là cây bút màu trắng lốm đốm máu. Tôi nghĩ kẻ giết người đã đánh rơi cây bút, vì vậy chúng tôi đóng gói nó làm vật chứng.
Khi chúng tôi nói chuyện với Benjamin, anh ấy bảo rằng khi anh về nhà để kiểm tra gia đình của mình, anh nhìn thấy cánh cửa mở khóa, một điều bất thường vì vợ anh thường cẩn thận khóa cửa để đảm bảo an ninh. Khi bước vào, anh ta thấy vợ mình chết trong bồn tắm. Anh kinh hoàng, và không suy nghĩ gì được nữa, anh kéo cô xuống sàn và phủ một tấm chăn lên người vợ. Tiếp đến, anh nhìn thấy con trai của mình bị giết trong phòng ngủ. Rồi anh ta gọi cho chúng tôi.
Các nhân viên khám nghiệm suy luận thời gian của cái chết rơi vào khoảng giữa 9 giờ và 11 giờ sáng, khoảng thời gian mà người chồng đang làm việc. Công việc điều tiết giao thông của anh ấy đều được camera quay lại, vì vậy thật dễ dàng để kết luận rằng anh chồng đang làm việc tại thời điểm vụ giết người xảy ra. Với tất cả những manh mối có được vào thời điểm đó, anh ta dường như đã nằm ngoài sự nghi ngờ của chúng tôi.
Tôi không chắc vụ án này đang đi về đâu. Thông thường, các vụ án giết người ngốn khá nhiều thời gian quý báu. Chúng tôi đã nhận được cuộc gọi từ một người phụ trách ẩn danh, khuyên chúng tôi nên kiểm tra một cư dân khác sống trong một tòa nhà khác ở cùng khu chung cư. Tôi dẫn đầu đội với hai xe cảnh sát hỗ trợ. Chúng tôi đã phỏng vấn một người đàn ông 28 tuổi, anh ta trả lời một cách bình thường và không tỏ vẻ sợ hãi khi bị chúng tôi tra hỏi. Anh ta có chứng cớ ngoại phạm trong khung thời gian mà vụ giết người xảy ra. Mọi việc dường như đang dần đi vào ngõ cụt.
Công việc điều tra của trinh sát sau đó tiếp nhận một lời khai thú vị hơn nhiều. Một trong những nhân viên của chúng tôi đi đến khu chung cư, gõ cửa nhà để hỏi chuyện trực tiếp và bắt chuyện với một người đàn ông dắt chó đi dạo trong bãi đậu xe vào khoảng 9 giờ sáng, ngày xảy ra vụ án. Anh ấy nói đã nhìn thấy một người đàn ông mặc một chiếc áo sơ mi kẻ sọc và quần tối màu tiến vào căn hộ của gia đình Sisneros.
Chúng tôi biết rằng lời mô tả này trùng khớp với “Jimmy”, một nhân viên kỹ thuật bảo trì của khu chung cư. Điều này có vẻ như là manh mối hữu ích cho vụ án. Giám đốc bộ phận bảo trì khu chung cư đã xác định gã ta là James Joseph Perry. Vị cấp trên nói thêm rằng theo như anh ấy biết, Perry không có chìa khóa chủ của các căn hộ.
Một cuộc kiểm tra nhanh tiết lộ rằng Jimmy có tiền án tiền sự. Hắn ta đã đến Colorado sau khi trải qua 14 năm trong một nhà tù ở New York vì tội giết người. Kết quả kiểm tra lý lịch cho thấy hắn ta đã bắt đầu với những vụ trộm cắp lặt vặt và sau đó là các cuộc tấn công tình dục nghiêm trọng hơn với nữ giới. Tội danh giết người của hắn ở tiểu bang New York lẽ ra là bản án từ 25 năm cho đến chung thân, nhưng hắn ta đã xin được giảm án vì lý do tôn giáo.
Cảnh sát di lý Perry đi khi hắn ta cho biết mình đã được nhận vào Trường Cao đẳng Kinh thánh Nazarene ở Colorado Springs. Tại đây, hắn đã giả vờ làm đổ nước nóng lên người để quyến rũ các nữ sinh và ghi hình lại khi họ làm tình với nhau. Sau đó gã mở phim để bạn nhậu của mình xem trong một quán bar. Lời đồn đại rồi cũng đến tai các nữ sinh viên. Các cô gái đệ đơn khiếu nại.
Căn cứ vào lý lịch hình sự của Perry ở bang New York, hành vi phạm tội hình sự trên “sân” của tôi, và với nghi ngờ rằng hắn đã đột nhập vào căn hộ của nạn nhân, chúng tôi đã có thể nhận được lệnh khám xét. Nơi chúng tôi dừng chân đầu tiên là căn hộ của hắn ta. Khi các chàng trai trinh sát của chúng tôi đến, họ gặp vợ của gã, họ đã có với nhau hai con trai.
Cô ấy nói Perry đã đi cả đêm, có lẽ đi với một trong số nhiều cô bạn gái của hắn.
Sự phản bội của hắn dường như không làm cô vợ ngạc nhiên. Cô ấy cũng nói với nhân viên của chúng tôi rằng cô ấy cũng dọn dẹp các căn hộ trong tòa nhà nơi vụ án mạng xảy ra. Cô ta có chìa khóa chủ có thể mở cửa các căn hộ. Họ yêu cầu cô đưa chìa khóa ra, nhưng cô ấy nói nó đã lạc mất.
Trong suốt quá trình tìm kiếm, khám xét trong nhà của hắn, các nhân viên của chúng tôi thấy một bộ quần áo ẩm ướt trong máy giặt có mùi thuốc tẩy mạnh. Trên bộ quần áo đã được tẩy trắng, hình như có sự cố gắng loại bỏ các vết máu.
Khoảng năm tiếng đồng hồ sau khi chúng tôi được gọi đến hiện trường tội phạm, tôi đã đi đến văn phòng bảo trì của khu chung cư cùng với lệnh khám xét. Một số trinh sát viên cùng với các sĩ quan khác và một thám tử làm việc cho văn phòng luật sư quận đã đi cùng tôi Chúng tôi có cả thảy khoảng tám người.
Chúng tôi dồn người quản lý bảo trì vào một góc nhỏ, nói rằng mình đang truy tìm James Perry cũng như bất kỳ thông tin nào liên quan đến gã này. Cuộc trao đổi của chúng tôi chỉ vừa mới bắt đầu thì một người nên bước vào đã được vào. Không ai khác ngoài “quý ngài Perry”.
Tôi chắc rằng nhiệt độ trong văn phòng đó tăng vọt lên khoảng ba mươi độ đo nhịp tim của tất cả cảnh sát như chạy đua khi nghi phạm chính của chúng tôi đang ở trong tầm tay. Gã có một bộ ria mép và mái tóc đen dài xoăn. Gã cao khoảng một mét tám mươi lăm và thân thể cuồn cuộn cơ bắp nhờ luyện tập khi còn ở trong tù, nơi mà dường như chỉ có trở nên mạnh mẽ hơn thì mới tồn tại được.
Chúng tôi đã hỏi vài câu về vụ giết người, nhưng Perry như chẳng hề hay biết gì. Rõ ràng là hắn ta lo lắng, nhưng một tên tội phạm cả đời vào tù ra khám không được phép lo lắng khi bị bao vây trong một căn phòng nhỏ với đám cảnh sát mồ hôi nhễ nhại sao?
Căng thẳng tăng lên tột độ khi thám tử của văn phòng luật sư quận thấy được một điều gì đó mà chúng tôi đã bỏ lỡ: Khi Jimmy với tay lấy một món đồ trên bàn của sếp, anh ta trông thấy những đốm máu trên mặt đồng hồ rẻ tiền của Jimmy.
“Này, Jimmy, có máu trên đồng hồ của anh à?”, anh ấy hỏi.
Perry gần như tan chảy thành một vũng nước trên sàn nhà, ba hồn bảy vía thất kinh, chúng tôi còng tay hắn ta và đưa đi thẩm vấn. Tôi nằm đầu danh sách những người đang háo hức để thẩm vấn hắn, nhưng hắn ta đã lập tức chỉ định luật sư. Trong khoảng thời gian im lặng, các tuần tra viên trên phố đã được nghe ngóng chiêu thức “ăn thịt con mồi” của kẻ biến thái như Jimmy rất nổi tiếng ở khu vực lân cận chung cư.
Hắn ta bị cáo buộc về tội quấy rối và tấn công phụ nữ. Có người báo với chúng tôi rằng đã nghe lén được những lời bình luận dâm dục cợt nhả của Jimmy về một người phụ nữ tên Yvonne sống trong khu chung cư của hắn.
Chúng tôi có tất cả bằng chứng cần thiết để buộc tội hắn ta với ba lần thực hiện hành vi giết người và nhiều tội ác khủng khiếp khác. Chúng tôi không thể chứng minh hắn ta giết chết đứa trẻ chưa sinh còn ở trong bụng của Yvonne Sisneros, vì luật Colorado quy định rằng hành vi giết trẻ em chỉ thỏa mãn khi bản thân một đứa trẻ phải nằm ngoài tử cung và hít thở ít nhất một lần, trước khi bị sát hại.
Chúng tôi tin rằng Perry đã lên kế hoạch tấn công, lấy chùm chìa khóa chủ đa năng, chờ Benjamin Sisneros đi làm rồi đột nhập vào căn hộ. Tất cả các manh mối cho thấy hắn ta thực hiện một vụ giết người điên cuồng, sau đó trở về nhà, loại bỏ vết bẩn và quay lại nơi làm việc.
SAI LẦM CỦA TÔN GIÁO
Chúng tôi có những chứng cứ vật chất rất thuyết phục. Chiếc tuốc nơ vít dài gần 20 cm dùng để đâm các nạn nhân được tìm thấy trong đai công cụ của Perry. Gã ấy cũng có chìa khóa vào căn hộ. Một nhân chứng nhìn thấy kẻ phạm tội đã đưa ra những mô tả trùng khớp với hắn, thời điểm hắn bị nhìn thấy cũng khớp với thời điểm diễn ra vụ giết người. Perry đã đưa ra những lời bông đùa giỡn cợt về Yvonne Sisneros trước khi ra tay. Tôi từng gặp nhiều nghi phạm bị kết án dù ít chứng cứ hơn. Hắn yêu cầu một phiên tòa xét xử và đó là quyền của hắn.
Theo quan điểm của hắn ta, đó là quyết định thông minh. James Perry phạm tội danh này, tôi không nghi ngờ gì khác. Tuy nhiên, bạn không bao giờ biết những gì mà bồi thẩm đoàn tập trung vào. Perry và luật sư của hắn ta chơi ván cược với những lá bài cuối cùng sót lại trong tay và họ chơi khá tốt.
Hãy nhớ lại, Jimmy đã giành phần thắng khi được phóng thích trước hạn tại nhà tù New York, nơi hắn ta bị kết án từ 25 năm đến chung thân vì tội giết người. Hắn đã nói với Ban ân xá[2] rằng hắn thấu hiểu được triết lý tôn giáo và được nhận tuyển sinh tại Cao đẳng Kinh Thánh Nazarene ở Colorado Springs. Ban quản trị tạm tha, có lẽ mong muốn tiết kiệm chi phí giam giữ hắn ta cho đến cuối đời, nên đã trả tự do cho hắn.
Perry, người không bao giờ biết nhận lỗi mình phạm phải, biết được rằng Chúa đã cứu hắn ta một lần, và vì vậy có lẽ Đức Chúa Trời sẽ cứu hắn thêm một lần nữa. Hắn ta đã sử dụng cùng một âm mưu trong suốt phiên tòa tiếp theo. Luật sư của hắn đã chọn bồi thẩm viên từ các cơ sở Thiên Chúa giáo trong thành phố, và hắn đã giở quẻ để lấy lòng cảm thông từ họ trong phiên xét xử.
Perry đánh cược lá bài Thiên Chúa, nói rằng sau một cuộc sống ương ngạnh, hắn ta tìm thấy đức tin trong nhà tù và dâng trọn sự sống của mình cho Đấng toàn năng. Hắn ta nói rằng việc trở thành một con chiên của Chúa đã thay đổi hắn tích cực hơn, và hắn ta đã chuyển đến Colorado để bắt đầu một cuộc sống mới. Perry thề trước bục rằng có Thiên Chúa chứng giám, hắn không giết Yvonne Sisneros và các con trai của cô.
Trước nỗi bàng hoàng và khiếp sợ của tôi và những ai quá đỗi quen thuộc về sự thật của vụ án, bồi thẩm đoàn đã hoàn toàn bị thuyết phục.
James Perry đã thực hiện một trong những vụ giết người tàn bạo nhất mà tôi từng điều tra và hắn ta cười nhạo tôi khi bước ra khỏi phòng xử án. Một phụ nữ trong bồi thẩm đoàn tiến về phía tôi sau khi phiên tòa kết thúc, một thời điểm không mấy có lợi cho cô ấy lúc này.
“Tôi nghĩ có thể anh khá khó chịu với tôi”, cô nói.
“Tôi không buồn, tôi là một người chuyên nghiệp”, tôi trả lời. “Tôi đã nói với cô những gì mà hắn ta đã làm với người phụ nữ đáng thương và các con của cô ấy. Đó là công việc của tôi và tôi đã hoàn thành.”
“Chà, hắn sẽ không gọi tên Chúa của chúng ta nếu hắn chính là kẻ chịu trách nhiệm cho việc đó”, cô nói.
“Có lẽ đó là Chúa của cô, không phải của tôi”, tôi đáp lời. “Để tôi giải thích theo cách khác cho cô hiểu nhé. Khi James Perry bò đến cửa sổ nhà cô, khống chế cô và những đứa con, điều đó cũng sẽ không khiến tôi bực bội, bởi vì tôi là một người chuyên nghiệp.”
Cô ấy trở về nhà và nghiền ngẫm điều đó. Tôi về nhà, ôm vợ và các con tôi vào lòng nhiều tiếng đồng hồ.
Cũng kể thêm, một người phụ nữ khác trong bồi thẩm đoàn là bạn của vợ tôi. Về sau thì tình bạn của họ không bao giờ được như trước nữa, và tình bạn ấy dường như hoàn toàn chấm dứt sau khi người phụ nữ ấy nhờ tôi giúp đỡ đứa con trai bị cáo buộc phạm tội hình sự. Tôi từ chối, không phải vì vụ án Perry, mà là vì tôi chưa bao giờ làm cái trò như vậy.
Nếu chúng tôi thử nghiệm ADN, kết quả xét xử sẽ có thể khác đi, bởi chúng tôi thu được rất nhiều mẫu thử trên đồng hồ của Perry và các vật dụng khác. Bằng chứng vững chãi nhất mà chúng tôi dùng để chống lại hắn ta bao gồm lời khai từ nhiều người đã nhìn thấy Perry vật vờ sau khi nóc rượu và nghe hắn ta nói: “Ôi trời, tao có thể xử lý được ba người cùng một lúc.”
Đặc biệt là nếu họ bao gồm một phụ nữ mang thai không có khả năng tự vệ và hai đứa con trai nhỏ bé của cô.
Tôi nghĩ chúng tôi đã có đủ chứng cứ để thuyết phục bồi thẩm đoàn, nhưng rõ ràng là không. Việc giáo dưỡng Jimmy tại trường kinh thánh thuyết phục bồi thẩm đoàn này hơn, có vẻ vậy.
CÔNG LÝ BỊ TRÌ HOÃN, RỒI CŨNG ĐƯỢC THI HÀNH
Tôi được bảo ban rằng Thiên Chúa làm việc theo những cách kỳ lạ, và nếu đúng là vậy, vụ án này sẽ được coi là một minh chứng. Chưa đầy một năm sau khi Perry bước ra khỏi phòng xử án, một điều tra viên đến từ Sở Cảnh sát Brooklyn, thành phố New York gọi vào điện thoại bàn làm việc của tôi. Anh ấy hỏi có đúng là James Perry liên quan đến vụ giết ba mạng người trong thẩm quyền của chúng tôi không. Tôi xác nhận.
Điều tra viên của Sở cảnh sát New York tiếp đó nói với tôi rằng sau khi được tuyên không có tội ở Colorado, Perry đã trở về quê quán của hắn ở Brooklyn, và nơi đây trở thành điểm dừng chân cuối cùng của hắn trên đường đời tù tội của mình.
“Perry đã nhảy hoặc bị ném từ tầng mười của một tòa cao ốc tại Brooklyn vào đêm qua”, vị điều tra viên nói. “Hắn ta chết vì ngộ độc xi măng. Vụ án của hắn ta vừa được đưa lên tòa án cấp cao hơn.
“Vâng, điều này nghe có vẻ đúng đấy”, tôi nói. “Hy vọng vong hồn của hắn xuất hiện tại phiên tòa cuối cùng của mình.”
Sau đó, cảnh sát Brooklyn gửi cho tôi một bức ảnh chụp thi thể Perry trên vỉa hè. Hắn ta trông giống như một quả cà chua tan nát trên vỉa hè. Tôi giữ bức ảnh đó trong ngăn bàn khoảng bảy năm. Bất cứ khi nào tôi có một ngày tồi tệ, tôi sẽ lấy bức ảnh ra, nhìn Jimmy chết, và cảm thấy ổn hơn. Cái chết của hắn chứng minh rằng công lý luôn tồn tại trong thế giới của chúng ta.
Theo như tôi biết, không có thêm bất kỳ cuộc điều tra nào nhằm làm rõ việc Perry có tự nhảy xuống từ tòa nhà hay không. Viên cảnh sát Brooklyn cho biết họ đã điền vào trong hồ sơ hình sự và trình bày nguyên nhân cái chết của hắn là “Quả báo”.
Tôi đoán là, với nhiều tội ác và vô số người thù hận hắn, không ai thực sự muốn quan tâm sâu vào bí ẩn đó. Tôi chắc chắn cũng không, mặc dù tôi rất thích giải mã những bí ẩn.
Hệ thống tư pháp công lý ở nước tôi dựa trên nguyên tắc suy đoán vô tội[3]. Tôi được biết rằng những người khai phá và sáng lập đất nước chúng tôi đã chạy trốn khỏi Anh quốc, nơi những ai bị chính quyền coi là có tội phải chịu trách nhiệm pháp lý, trừ khi họ chứng minh được mình vô tội trước Tòa án. Cha ông chúng tôi nghĩ rằng điều này thật không công bằng, vì vậy họ đã tạo nên nguyên tắc suy đoán vô tội, buộc nhà nước phải có nghĩa vụ chứng minh hành vi phạm tội.
Pháp luật của chúng tôi quy định cho phép bị cáo tùy chọn phiên xét xử sẽ được tiến hành có bồi thẩm đoàn và thẩm phán, hay chỉ có thẩm phán. Nếu bạn đã từng bị vướng vào hệ thống tư pháp của chúng tôi vì thực hiện một hành vi phạm tội, trên thực tế, phải thừa nhận, bạn nên theo cách của James Perry và yêu cầu chọn phiên tòa có bồi thẩm đoàn.
Nếu bạn không thực sự thực hiện hành vi mà bạn bị buộc tội, tốt nhất là bạn nên đến chỗ thẩm phán và đưa ra các tình tiết có lợi để chứng minh mình vô tội. Bồi thẩm đoàn có thể có khuynh hướng đưa ra phán quyết dựa trên cảm xúc, niềm tin và định kiến của họ. Các thẩm phán thường sẽ đưa ra phán quyết của họ dựa trên luật pháp và bằng chứng được trình bày.
Nếu bạn không còn gì để mất, tôi đề nghị bạn nên lựa chọn phiên xét xử có bồi thẩm đoàn, nhưng cũng nên biết rằng cơ hội của bạn cũng chỉ là 50:50. Các thành viên bồi thẩm đoàn có thể bỏ phiếu để kết tội bạn vì họ không thích màu da, chủng tộc hoặc mái tóc của bạn. Hoặc là họ có thể cho bạn trắng án chỉ vì bạn nhắc họ nhớ đến đứa cháu yêu quý trong nhà.
Dẫu bạn không thắc mắc, nhưng tôi sẽ bổ sung (dù sao thì đây cũng là cuốn sách của tôi), tôi không phải là người ủng hộ án tử hình, bởi vì tôi không đặt tất cả niềm tin vào hệ thống tư pháp của nước tôi. Tôi cũng đã thấy trường hợp kẻ ác được thả tự do và những người kết tội sai phải nhận án tử. Tôi chỉ đơn giản là không tin tưởng vào bồi thẩm đoàn.
Nếu bạn nghĩ bồi thẩm đoàn là người tìm kiếm và để ý từng tình tiết trong phiên xét xử, thì bạn đã nhầm rồi. Họ là những người bình thường như bao người, không phải là các chuyên gia được đào tạo bài bản. Hầu hết giống như mọi người, họ thường đưa ra quyết định dựa trên kinh nghiệm cá nhân, ý kiến chủ quan, và thỉnh thoảng dựa thực tế là chiếc áo choàng họ đang mặc thật chật chội và nóng nực. Nhiều và nhiều yếu tố khác nữa cũng ảnh hưởng đến họ, không đơn giản chỉ là sự thật của vụ án.
Hệ thống tư pháp của Mỹ được thiết kế để bảo vệ người vô tội và cũng đủ khả năng áp dụng các chế tài bạo lực và tàn nhẫn với những người có tội. Thiết kế của hệ thống tư pháp nước tôi tất cả đều vì mục đích có ích, nhưng cũng không thể tránh khỏi những lỗ hổng. Đôi khi những người không làm bất cứ điều gì sai trái lại đi tù. Đôi khi kẻ giết người khát máu như James Perry bước ra cửa và được tự do.
Vụ án Casey Anthony lại là một trường hợp khác và bị coi là sự sơ suất của công lý. Người mẹ đơn thân 20 tuổi ở Orlando, Florida, bị buộc tội về cái chết của cô con gái hai tuổi. Cô con gái được nhìn thấy lần cuối vào ngày 16 tháng 6 năm 2008. Bà ngoại của bé đã báo cáo cháu mình mất tích vào ngày 15 tháng 7 cùng năm.
Casey Anthony ban đầu khai báo rằng con gái mình biến mất sau khi gửi cô bé lại cho một người giữ trẻ, người cũng đã biến mất. Câu chuyện đó không mấy thuyết phục được các điều tra viên. Khi họ tìm kiếm trong xe hơi của người mẹ, chú chó nghiệp vụ đã đánh hơi được mùi phân hủy của xác người. Mẫu thử không khí cũng cho ra cùng kết quả tìm kiếm.
Bản cáo trạng ban đầu buộc tội Casey Anthony về cái chết của con gái mình, nhưng cô khẳng định mình không có tội. Phần thi thể còn lại của đứa con gái được tìm thấy khoảng hai tháng sau trong một khu rừng gần nhà Anthony. Công tố viên thông báo họ sẽ cân nhắc mức án tử hình.
Phiên xét xử kéo dài khoảng một tháng rưỡi. Casey Anthony không nhận tội. Bồi thẩm đoàn đã bàn luận gần 11 tiếng đồng hồ và cuối cùng tuyên bị cáo không phạm tội giết người cấp độ cao nhất, bạo hành hay ngộ sát trẻ em ở mức nghiêm trọng. Họ kết luận rằng cô ấy chỉ phạm bốn tội tiểu hình[4] vì khai báo quanh co trong quá trình điều tra. Anthony bị kết án bốn năm cho mỗi tội danh. Một tòa phúc thẩm sau đó đã giảm xuống chỉ xem xét còn hai tội danh. Cô chỉ còn chấp hành chế tài khoảng mười ngày nữa sau phiên tòa.
Theo ý kiến của tôi, bồi thẩm đoàn hẳn đã coi Casey Anthony là một người mẹ đơn thân vụng về. Họ không có ý để cô bị xử tử hình. Họ không muốn giết cô ấy, nên họ thả cô ấy đi. Đó là những điều sẽ xảy ra khi có một phiên tòa xét xử có bồi thẩm đoàn và nghĩa vụ chứng minh thuộc về nhà nước.
Tôi đã tự vấn về sự có tội hay vô tội của Anthony nhiều lần, nhưng tôi không cảm thấy thoải mái khi nêu ra quan điểm mà không cần xem xét hồ sơ vụ án. Tôi sẽ không đưa ra ý kiến chỉ dựa trên lời thuật lại của báo chí. Lập trường của tôi là: “Đừng nói với tôi những gì bạn nghĩ, đừng cho tôi biết những gì bạn tin, chỉ cần cho tôi biết những gì bạn có thể chứng minh được. Nếu bạn không thể chứng minh được điều đó, tôi không quan tâm đến suy nghĩ hoặc những điều bạn tin là gì.”
Tuy nhiên, tôi sẽ nói với bất cứ ai rằng mình sẽ không chọn bất cứ hệ thống tư pháp ngoài hệ thống của chúng tôi. Nó không phải là một hệ thống hoàn hảo. chúng tôi không có hệ thống tư pháp hoàn hảo. Dẫu không hoàn hảo vậy đấy, nhưng tôi không thấy hệ thống nào khác tốt hơn được. Bất chấp tất cả những nhược điểm của nó và tất cả những sai lầm đã xảy ra, tỷ lệ thực thi công lý của chúng tôi vẫn hầu hết ổn hơn cả. Tôi chấp nhận hệ thống này, chấp nhận sự không hoàn hảo và tất cả.
Nhiều vị trong số các bồi thẩm đoàn trong phiên xét xử James Perry sau đó đã có những suy nghĩ khác về phán quyết của họ. Họ từ chối phỏng vấn và yêu cầu không tiết lộ tên của họ trong hồ sơ công khai. Từ quan điểm của tôi, họ có mọi lý do để xấu hổ, và tôi không tin chỉ mình tôi có suy nghĩ như vậy. Dư luận đã kịch liệt phản đối, đòi bỏ việc xét xử có bồi thẩm đoàn ở Colorado. Nỗ lực đó cuối cùng cũng thất bại.
Đây là một ví dụ tiêu cực về việc một bị cáo đã lừa bịp bồi thẩm đoàn, vẫn còn nhiều vụ khác, và tôi chắc chắn thậm chí có nhiều hơn nữa trong tương lai.
CÁC CHIẾN LƯỢC TẠI PHÒNG XỬ ÁN
Cách tiếp cận của tôi để làm sáng tỏ trong các vụ án giết người là luôn luôn dựa vào các sự thật mà tôi biết được. Tôi chưa bao giờ thêm mắm dặm muối các tình tiết trong vụ án. Tôi vẫn không xúc động tại phiên xét xử. Một điều tôi cố ý làm để gây phiền phức cho các thành viên của bên luật sư bào chữa là không bao giờ trả lời trực tiếp khi họ hỏi tôi.
Tôi luôn nhìn vào bồi thẩm đoàn khi nói. Họ là khán giả của tôi. Tôi giao tiếp bằng ánh mắt với từng người một. Điều này khiến cho vị luật sư bào chữa tức điên. Các luật sư bào chữa không muốn bồi thẩm đoàn tin tưởng lời nói của tôi. Luật sư luôn muốn một bồi thẩm đoàn mơ màng, mộng mị khi tôi đứng trên bục. Tôi nhìn thẳng vào từng thành viên bồi thẩm. Tôi nói chuyện với họ để đảm bảo rằng họ có chú ý.
Tôi đã nhiều lần thấy các bồi thẩm viên gật gù tại tòa. Điều này rất hay xảy ra khi triệu tập một chuyên gia làm nhân chứng. Các vị chuyên gia có xu hướng “giáo sư hóa”. Ý tôi là người-chuyên-gia-biết-tất-tần-tật nhàm chán.
Một kỹ sư hóa học của công ty sơn đứng ra kiểm định với vai trò nhân chứng chuyên gia trong vụ án Perry về một số đốm sơn được tìm thấy trên đồng hồ và quần áo của Perry trùng khớp các mẫu sơn trích từ căn hộ Sisneros. Tôi có cảm giác chuyên gia hóa học không cần mất nhiều công sức đến vậy. Ông ấy xuất hiện trong ánh hào quang. Ông ta làm choáng ngợp phòng xử án với kiến thức rộng lớn của mình về sơn và các thành phần hóa học của nó. Ông ấy luyên thuyên cả sớ bài giảng. Trước khi kết thúc phần trình bày, tất cả chúng tôi đều đã có thể về nhà và biết cách sử dụng sơn lót latex trong hầm garage đậu xe để đảm bảo chống nấm mốc - nếu như chúng tôi vẫn đủ tỉnh táo. Hầu như những ai có mặt tại phòng xử án cũng ngáp ngắn ngáp dài. Thẩm phán phải yêu cầu một thư ký tòa đánh thức vài người trong bồi thẩm đoàn.
Chương trình giới thiệu về sơn vẫn tiếp tục trong nhiều tiếng đồng hồ với giọng nói vo ve. Lắng nghe lời trình bày chuyên môn của ông ta cứ như phải ngồi nhìn một bức tường vừa được sơn cho đến khi nó khô hẳn.
Như tôi đã nói, chiến thuật của tôi là nói chuyện trực tiếp với các bồi thẩm viên để họ thật sự tập trung, hoặc ít nhất là vẫn tỉnh táo, tăng thêm gánh nặng cho luật sư bị cáo. Bên luật sư bào chữa sẽ trở nên bực bội đến nỗi phải yêu cầu thẩm phán ra lệnh cho tôi nhìn vào họ chứ không phải bồi thẩm đoàn. Thẩm phán thường đứng về phía tôi.
Những luật sư bào chữa kỳ cựu không phiền lòng về tôi, nhưng thỉnh thoảng tôi hay chọc giận và đè bẹp những luật sư tân binh hoặc luật sư đến từ những thành phố khác. Sau vài phút thu thập lời khai, họ sẽ cầu xin tôi rời xa bục làm chứng[5] càng nhanh càng tốt.
Điều này xảy ra trong một vụ án liên quan đến hành vi giết người trong một cửa hàng bán lẻ. Vị luật sư bào chữa trẻ tuổi nghĩ anh ta thông minh. Trong báo cáo của mình, tôi nói rằng đã tìm thấy dấu vân tay của nghi phạm dưới khay tiền xu của máy tính tiền. Việc này xảy ra khá phổ biến.
Các tên trộm lục lọi dưới khay tiền xu vì chúng biết các cửa hàng thường đặt các tờ tiền lớn ở đó. Các cảnh sát và điều tra hiện trường vụ án cũng biết rõ điều này, và chúng tôi chắc chắn là tên cướp biết, vì vậy chúng tôi tìm các dấu vân tay ở đó.
Luật sư bào chữa trẻ tuổi rất tập trung vào chi tiết này trong lời khai của tôi. Anh ta huênh hoang bào chữa về tình tiết thực tế rằng bị cáo là một vị khách thường ghé cửa hàng này, vì vậy việc tìm thấy dấu vân tay của bị cáo bên trong khay tiền không có nghĩa anh ta là kẻ giết người trong vụ án này.
Tôi để anh ta tiếp tục lảm nhảm.
Cuối cùng, tôi kết câu: “Đúng là anh ấy đã đến cửa hàng nhiều lần, nhưng rất hiếm khi khách hàng được phép tự vào quầy lấy tiền thừa.”
Các thành viên bồi thẩm đoàn vỡ lẽ. Thẩm phán cũng vậy.
Quý Ông Thông Minh của phía bào chữa trông giống như bị bóp nghẹn. Khách hàng của anh ấy lãnh án với tội danh giết người. Luật sư trẻ ấy và tôi cuối cùng trở thành bạn bè và thường ăn trưa với nhau. Anh ấy thừa nhận là tôi đã dạy anh một bài học nhớ đời. Anh ấy không bao giờ cố gắng “múa rìu qua mắt thợ” với tôi trên bục nhân chứng lần nào nữa.
Đồng thời, từ nay về sau, mỗi khi một kẻ trộm cắp nào lảng vảng quanh thành phố và nghĩ rằng hắn ta có thể vấp trúng tôi. Thường mọi việc sẽ không tốt lành cho hắn ta đâu.
HỖN LOẠN NƠI TÒA ÁN
Thẩm phán là người rất nghiêm túc trong việc duy trì nghi thức phòng xử án. Trên hết, nó là luật và lệnh. Họ không ngại ngần gõ búa[6] nếu có ai đó cản trở phiên tố tụng, và tôi đã thấy các thẩm phán đưa các nhân chứng, những người tham dự phiên tòa, và thậm chí cả luật sư vào tù nếu họ từ chối tuân theo các quy định.
Có những lúc, sự điên rồ của cả thế giới và nhân loại lọt vào phòng xử án. Vì bầu không khí tại phiên xét xử điển hình thường rất căng thẳng và nghiêm trang, nên khi mọi thứ trở nên xấu đi, dường như tất cả mọi việc đáng ngạc nhiên hơn, và đôi lúc thậm chí còn buồn cười. Luật sư có thể có chút kỳ quặc như bao người. Họ sẽ oằn mình chịu áp lực và rồi mất kiểm soát hoàn toàn.
Trong một phiên tòa xét xử tội giết người liên quan đến một tình yêu tay ba, vị luật sư quận dường như đánh mất lý trí của mình khi đặt câu hỏi cho tôi trước bục nhân chứng. Có lúc, anh ta chỉ khoanh tay và nhìn chằm chằm vào không trung như thể bộ não của anh ta đã đi lạc đâu mất. Cuối cùng, anh ấy nhìn tôi và nói: “Trung sĩ Kenda, tâm trạng của anh như thế nào khi bắt giữ bị cáo?”
Đây không phải là câu hỏi mà một công tố viên đặt ra cho trinh sát viên. Tâm trạng của chúng ta không liên quan đến bất cứ việc gì. Tôi lặp lại câu nói của Joe Friday[7]: “Chỉ có sự thật.”
Luật sư quận và cảnh sát cộng tác cùng nhau trong nhiều vụ án. Chúng tôi thường cùng đứng về một phía. Vì vậy, câu hỏi này khiến mọi người trong phòng xử án đều phải nhíu mày tò mò. Trên thực tế, luật sư của bị đơn cảm thấy bị xúc phạm bởi câu hỏi ngu ngốc ấy, đến mức anh ta ném bút chì của mình xuống mặt bàn. Nó văng mạnh đến nỗi bật lên và găm lên trần nhà phía trên đầu. Lần sau khi có mặt ở Tòa Colorado Springs, tôi nên kiểm tra xem cây bút chì còn ở đó không.
Ý nghĩ về việc cây bút chì văng xuống mặt bàn phía luật sư bào chữa như đã châm ngòi cho một trận cười trong phòng xử án. Vì một số lý do, ngay cả người điềm đạm khi ở trong một bối cảnh nghiêm trang như phiên tòa xét xử đôi lúc không thể giữ mình không cười lớn.
Các phòng xử án thường hỗn loạn bởi những lời trình bày kém cỏi không đủ tính pháp lý của các luật sư liên quan, hoặc những trò hề điên rồ từ các nhân chứng. Thi thoảng, bạn sẽ gặp cả hai. Một trong những ví dụ đáng nhớ nhất về chuyện này trong sự nghiệp của tôi xảy ra trong một phiên điều trần về tội giết người. Thông thường các phiên điều trần này cho phép các luật sư bào chữa đưa đến các nhân chứng quan trọng - những người khai báo rằng nghi phạm bị kết án thực sự không phải là một người xấu, chỉ là anh ấy đã có một tuổi thơ khó khăn, hay hành động sát nhân là một đốm sáng cứu rỗi cho một cuộc sống nhẹ nhàng hơn.
Thông thường thì các nhân chứng quan trọng là các giáo sĩ, cố vấn, giới chức địa phương hoặc cấp trên của bị cáo. Trong vụ án này, luật sư bào chữa lẽ ra phải lao tâm tổn sức tìm kiếm ai đó trên cõi đời này đến phiên tòa và nói rằng hung thủ thực sự là chàng hoàng tử thiện lành nhất mọi thời đại. Thay vào đó, họ đưa đến một chàng trai mặc đồng phục màu cam sáng với dòng chữ “nhà tù hạt” ở mặt sau. Gã ta bị còng tay và đeo một đai xích nơi thắt lưng nối dài đến xiềng chân, thường được đeo riêng cho các phạm nhân hay nổi nóng bạo lực và muốn bỏ trốn. Rõ ràng bản thân gã không phải là một hoàng tử đến cứu vớt đời bị cáo.
Hầu hết mọi người ngồi trong phòng xử án bắt đầu cười và trợn mắt ngay khi nhân chứng bước vào. Chúng tôi cười chưa được bao lâu thì thẩm phán yêu cầu nghe tên và nơi cư trú của anh ta. “Ngôi sao nhân chứng” kia cúi đầu xuống và lẩm bẩm: “Tên tôi là Rufus Washington. Tôi cư trú tại nhà tù hạt El Paso”.
Thẩm phán, người đang hết sức vật vã để giữ bình tĩnh, nhìn vào luật sư bào chữa và nói: “Đây là nhân chứng của anh?”
Cả phòng xử án lấy lại tập trung ngay sau câu hỏi đó. Vài người bắt đầu thắc mắc về giấy yêu cầu luật sư bào chữa, hoặc ít nhất họ tự hỏi liệu anh ta có tỉnh táo khi quyết định đưa một phạm nhân ra khỏi nhà tù để làm nhân chứng chính không. Ai cần bạn như vậy hở trời?
Suy nghĩ đó lướt qua tâm trí tôi làm tôi phải núp mặt sau tập hồ sơ vụ án, cố gắng để không cười phá lên trong phòng xử án nghiêm trang. Khi công tố viên dẫn ra một án lệ rất thuyết phục chống lại người đàn ông xấu xa, thì một trong những người thân tham dự của bên bị cáo mất kiểm soát. Anh ta đứng lên và la hét: “Nhảm nhí!”
Thẩm phán phản ứng nghiêm khắc, vì họ có xu hướng làm vậy, bằng cách ra lệnh yêu cầu bắt giữ người dự phiên tòa kia và mời hai nhân viên an ninh đưa anh ta vào tù trong vòng ba mươi ngày. Khi bị còng tay, anh chàng đứng lên liếc nhìn thẩm phán một cái và hét lên: “Mẹ kiếp, đồ khốn.”
“Muốn ở sáu mươi ngày trong nhà tù quận à?”, thẩm phán đáp lời.
“Tôi đếch quan tâm”, kẻ phá rối làu bàu.
“Chín mươi ngày!”, vị thẩm phán tuyên. “Còn yêu cầu gì thêm nữa không, thưa ngài?”
Thinh lặng.
Anh ta phải lãnh mức phạt trần vì không tuân thủ nội quy phiên tòa.
Trên ti vi và phim ảnh, bạn không (thể) thấy cảnh sát phải dành ra hàng giờ đồng hồ trong phòng xử án để làm chứng, hoặc trình báo, hoặc đứng thành hàng xung quanh để nhận phán quyết. Nhưng đó là một trách nhiệm lớn trong công việc của điều tra viên các vụ giết người. Tôi cũng dành nhiều giờ đồng hồ trong phòng xử án, rất nhiều.
Ngoài ra, bất cứ khi nào được yêu cầu làm thành viên của bồi thẩm đoàn, tôi lại xem đó là trách nhiệm công dân và tôi sẽ có mặt vào đúng ngày giờ được chỉ định như một công dân gương mẫu. Tôi sẽ ngồi trong phòng lựa chọn bồi thẩm đoàn với hàng trăm những người khác cũng đang khó chịu về việc phải bỏ thời gian, bỏ công việc và các trách nhiệm khác.
Mọi người vẫn chưa hài lòng với sự thật là tiểu bang Colorado, không giống như hầu hết các tiểu bang chỉ chọn bồi thẩm đoàn trong tối đa một ngày. Bạn xuất hiện lúc 8 giờ sáng tham gia vào buổi tuyển chọn thành viên bồi thẩm đoàn. Nếu bạn không được chọn vào bồi thẩm đoàn của phiên tòa ngày hôm đó, bạn có thể về nhà và tiếp tục cuộc sống bình thường của bạn. Nhiều tiểu bang khác có thể giữ lại bạn và “hành xác” thêm trong nhiều ngày chỉ để tuyển chọn thành viên bồi thẩm đoàn.
Tính tới hiện tại, cơ hội để một luật sư bào chữa cho phép một điều tra viên án giết người ngồi vào hàng ghế bồi thẩm đoàn dường như là con số không nhưng tôi sẽ làm tròn bổn phận nếu có cơ hội. Còn không được, thì hầu hết các thẩm phán cũng chẳng màng đến nhiều. Họ rất bận với hồ sơ, giấy tờ khi các luật sư phỏng vấn các thành viên bồi thẩm đoàn tiềm năng
Thỉnh thoảng thẩm phán sẽ xem xét, có lẽ là để kiểm tra xem bồi thẩm đoàn có quen biết tội phạm, hay là thành viên gia đình, hoặc nhìn xem có người phụ nữ nào hấp dẫn không và thấy khuôn mặt quen thuộc của tôi. Có lần, trong quá trình chọn bồi thẩm đoàn, một thẩm phán âm thầm quan sát, nhận ra tôi và làm gián đoạn quy trình.
“Trinh sát Kenda, anh đang làm gì trong buổi lựa chọn bồi thẩm đoàn của tôi?”
“Thưa Ngài, tôi được lệnh yêu cầu đến và tôi đang thực hiện nghĩa vụ như một công dân gương mẫu”, tôi trả lời.
Đáp lại lời tôi vẫn là câu nói quen thuộc: “Trinh sát Kenda à, mời anh rời khỏi phòng xử án của tôi. Tôi nhìn thấy anh quá đủ rồi.”
Một vài luật sư bào chữa không biết tôi đã rất bất ngờ về sự xuất hiện của tôi. Những ai biết tôi thì lại thích thú khi thấy tôi bị mời ra.
Một lần tôi tiến được khá xa trong vòng chọn lựa thành viên bồi thẩm đoàn cho một phiên xét xử dân sự. Đây là một vụ việc xác định quan hệ cha con. Tôi đã rất ngạc nhiên khi cả luật sư hai bên đều chấp nhận tôi, nhưng thẩm phán lại không đồng ý. Việc xảy ra trước ngày thử nghiệm ADN. Tôi rất có tiếng là am hiểu về các loại máu, có thể tôi sẽ có ích cho các vụ việc về quan hệ xác định cha mẹ con.
Thẩm phán nhìn tôi và nói: “Kenda, anh không thường xuyên được mời làm chứng với tư cách chuyên gia về các thành phần máu người trong các vụ việc tại tòa án đúng không?”
“Vâng, thưa Thẩm phán, đúng là vậy”, tôi nói.
“Vậy tôi tuyên miễn nhiệm anh khỏi bồi thẩm đoàn này. Vui lòng quay trở về công việc truy tìm những kẻ sát nhân của anh”, Thẩm phán nói.
Kìa, tôi đã cố gắng làm hoàn thành nghĩa vụ công dân của mình mà, nhưng thôi, tôi không bao giờ muốn tranh luận với Thẩm phán làm gì.
NHỮNG VỤ ÁN MÁU LẠNH
Như tôi đã lưu ý ở đầu chương này, suốt sự nghiệp của mình tôi chỉ thua cuộc hai vụ xét xử tại tòa án. Và mặc dù một trong những kẻ giết người đó đã kết thúc một cách “tung tóe” trên vỉa hè tại Brooklyn, tôi vẫn không thích việc lãnh thất bại trên bảng điểm sự nghiệp của riêng tôi. Giống như hầu hết các trinh sát khác, cũng có những vụ giết người mà tôi không thể giải thích vì một lý do nào đó. Chúng làm tôi thật bận lòng.
Ngày về hưu, tôi còn khoảng 31 hồ sơ những vụ giết người máu lạnh mà tôi chưa giải quyết xong.
Tôi rất biết ơn khi một trong số đó đã được sáng tỏ vào năm 2014 nhờ xét nghiệm ADN, một vụ án khi ấy chưa có kết quả tương thích khi tôi còn tại nhiệm. Sở cảnh sát vẫn tiếp tục mở cuộc điều tra những vụ án còn lại kia.
Ở trường hợp này, các điều tra viên trong Sở của tôi xem lại những vụ án máu lạnh và nhận ra rằng tệp hồ sơ vẫn chứa máu có thể kiểm tra được nhờ những tiến bộ gần đây trong thử nghiệm ADN. Vụ án có liên quan đến một cô gái bị bạn trai của mẹ cô hãm hiếp và sát hại cùng với sự giúp sức của một đồng phạm. Xác cô được tìm thấy bên một sườn núi.
Tôi đã nghi ngờ rằng bạn trai của người mẹ và tên bạn thân của hắn có dính líu, nhưng một trong hai đã bị giết hại ở Mexico trước khi tôi có thể chứng minh điều đó. Nghi phạm còn lại của tôi nghĩ hắn ta có thể trốn tránh việc bị bắt giữ, nhưng ADN của hắn ta đã tố cáo hắn khi các viên cảnh sát nhúng tay vào vụ án này và "hâm nóng” nó lên.
Trong số 30 vụ án máu lạnh còn lại có tên tôi đảm nhiệm, 16 vụ tôi đã xác định được nghi phạm có nhiều khả năng nhất, nhưng không bao giờ có thể thu thập đủ bằng chứng để được lệnh bắt giữ và kết án. Trong 14 vụ án còn lại, tôi không có bất cứ manh mối nào để kết luận ai là kẻ giết người, ngoài chút thông tin rằng hung thủ là ai đó trên Trái đất này.
Tôi luôn tự vấn lương tâm mình trước những vụ giết người chưa được giải quyết đến tận ngày hôm nay. Nó giống như đọc một cuốn sách bằng mọi cách và sau đó nhận ra chẳng có kết luận nào cho câu chuyện. Không hạ màn. Không bao giờ đến được đoạn kết. Một nỗi ghê tởm chết tiệt. Đã nhiều lần tôi ngồi bó gối trên giường vào giữa đêm vì một vụ án khiến tôi phát ốm. Tôi nhảy ra khỏi giường và bắt đầu ghi chú trên một cuốn sổ gần bên.
Tôi luôn cảm thấy mình mắc nợ các nạn nhân và gia đình của họ vì không truy tìm được hung thủ. Tuy nhiên, cho dù tôi rất muốn giải quyết các vụ án này, cho dù tôi có cố gắng thế nào đi nữa, dù tôi có làm gì đi chăng nữa, thì vẫn còn nhiều vụ tôi không thể giải quyết được.
Lý do không hẳn thủ phạm là một thiên tài hay là một kẻ lừa dối khéo léo. Có thể vì nhiều nguyên nhân: Trong một số vụ án rùng rợn của tôi, không ai thấy kẻ giết người tại hiện trường. Ở những vụ án khác, các nạn nhân có rất nhiều người thù ghét đến nỗi danh sách nghi phạm dài đến vô tận. Tôi từng có một vụ án giết người mà nạn nhân là một tay buôn ma túy, một kẻ bị khinh thường. ít nhất thì có một trăm người đe dọa sẽ giết hắn - đôi khi cùng một lúc. Hắn ta hủy hoại rất nhiều người bằng việc buôn bán ma túy, hắn ta như thể đi vòng quanh với bảng hiệu đeo trên cổ, viết rằng: “Hãy giết tôi đi!”
Tôi mất ba năm để làm sáng tỏ vụ án đó vì danh sách kẻ thù của nạn nhân dài dằng dặc. Đó là một trong số ít vụ án mà khi tôi phỏng vấn thì hầu hết các nghi phạm đều nói: “Hãy nhìn xem, tôi ước tôi đã xuống tay giết tên khốn đó, nhưng tôi chưa bao giờ thực hiện việc đó.”
AI CŨNG GẶP MAY
Một số vụ án không bao giờ được làm rõ bởi vì kẻ giết người khá may mắn. Hắn ta không để lại dấu vết. Hắn sống với nạn nhân, vì vậy dấu vân tay và ADN chẳng có nghĩa lý gì cả. Hắn ta có chứng cứ ngoại phạm cực kỳ vững chắc. Vận may của hắn sẽ tới nếu không có dấu vết bằng chứng, không ai thấy hung thủ tại hiện trường, và không phát hiện thi thể trong một thời gian dài. Nhưng rồi, một lần nữa, may mắn đến theo hướng ngược lại.
Tôi tham gia điều tra một vụ án trong đó vụ giết người xảy ra vào ban ngày, trong một khu dân cư, nhưng chẳng ai phát hiện ra nạn nhân trong nhiều ngày. Kết quả là, kẻ giết người có một thời gian dài để tẩu thoát ngay cả trước khi chúng tôi biết được hành vi tội phạm được thực hiện.
Thường thì khá khó khăn để vừa thu thập bằng chứng vừa theo dõi nghi phạm. Chúng tôi không có đầu mối nào, vì vậy chúng tôi bắt đầu một thói quen trong công việc của cảnh sát: tìm kiếm kỹ càng trong khu vực nơi nghi can sinh sống. Hầu hết thời gian trong ngày, chẳng ai nhìn thấy bất cứ điều gì bất thường. Nếu có gì, họ đã gọi cho chúng tôi vào thời điểm đó. Tuy nhiên, từ giờ đã có Quý Bà May Mắn ở bên chúng tôi.
Trong các cuộc hỏi thăm từng nhà một, chúng tôi tìm thấy một bà lão 68 tuổi bị hội chứng đột quỵ nhẹ. Thông thường bạn sẽ không mong đợi một người như vậy trở thành nhân chứng có lợi. Nhưng bà ấy thì không. Bà ấy là một nhân chứng tuyệt vời.
Y sĩ vật lý trị liệu và bác sĩ của bà đã đưa ra một chương trình bao gồm các bài tập về rèn luyện não bộ và trí nhớ. Một phần trong liệu pháp của bà là ngồi nhìn ra cửa sổ phía trước phòng bà mỗi buổi sáng và ghi chú mọi sự kiện diễn ra trong khu phố. Hầu hết những gì được ghi chép lại là các lịch trình quen thuộc. Người gửi thư đến. Một chiếc xe tải giao hàng. Cậu bé bán báo.
Trinh sát của chúng tôi hỏi bà cụ liệu rằng bà ấy có ghi chú gì trong ngày xảy ra vụ giết người. Tất nhiên, bà ấy có lưu lại. Bà cung cấp cuốn sổ ghi chép của mình. Bà biết kẻ sát nhân, vì vậy bà đã viết ra tên của hắn mô tả vắn tắt về chiếc xe hắn ta đang lái, biển số của chiếc xe ấy, và thời gian hắn rời đi.
Viên trinh sát trẻ trở lại văn phòng của chúng tôi với cuốn sổ chi tiết ấy. Anh ấy đặt nó lên bàn của tôi và nói: “Anh sẽ không tin điều này đâu.”
Anh ta rất phấn khích, đến nỗi không nói thêm được lời nào.
Tôi lại rất ngạc nhiên. Chúng tôi thường ít khi may mắn như thế này, nhưng còn có một vụ án khác khiến tôi nhớ lại, khi ấy vận may đã mỉm cười với Phòng phá án giết người của Sở cảnh sát Colorado Springs.
Ngày nay, thiết bị giám sát điện tử đã phát triển vượt bậc hơn so với thập niên những năm 70, 80 và đầu những năm 90 khi tôi chân ướt chân ráo vào làm việc. Hồi đó, camera giám sát hoạt động trong ngân hàng và các cửa hàng tiện lợi thường có chất lượng thực sự kém. Người ta cũng có xu hướng sử dụng cùng một băng video nhiều lần, kết quả là chúng cũng chẳng giúp ích cho việc điều tra là mấy. Ngay cả khi các thiết bị thu hình ghi lại được hành vi phạm tội, thật khó để xác định danh tính những kẻ xấu đó. May mắn lắm thì chúng tôi cũng chỉ có thể biết về giới tính và màu da của kẻ phạm tội.
Hy vọng của chúng tôi được đền đáp khi ông chủ người châu Á của một quán rượu tọa lạc ở khu vực nhiều tệ nạn trong thành phố nói với chúng tôi rằng ông ấy có một đoạn video về vụ cướp vũ trang và ông ấy may mắn sống sót. Ông ở một mình, đang bận quán xuyến cửa hàng của mình thì một người đàn ông tiến vào với một khẩu súng. Khi người chủ đang vét hết số tiền mặt có được cho hắn ta, tên cướp cứ quay đầu lại để canh chừng cửa trước.
Ông chủ quán quả cảm để ý hành động này và chờ đợi thời cơ. Khi gã xấu quay đầu lại, người chủ đập nát một chai whisky còn đầy vào thẳng mặt hắn. Tên cướp đổ gục, nhưng hắn có vũ khí dự phòng. Dù tầm nhìn bị hạn chế vì vết cắt và sưng tấy trên khuôn mặt, chưa nói đến những cơn bỏng rát như lửa đốt do có rượu whiskey tạt vào, nhưng rồi hắn vơ lấy khẩu súng lục của mình và bắn, ổ đạn trống dần.
Bằng cách nào đó mà người chủ quán có thể né được các viên đạn. Tên cướp gần mù đã bỏ chạy ra ngoài và trốn thoát.
Cấp dưới của tôi đến cửa hàng và thẩm vấn người chủ quán rượu, ông ấy báo rằng đã ghi lại toàn bộ quá trình phạm tội trên băng video. Như tôi đã lưu ý, chúng tôi thường nhận được những cảnh quay kém chất lượng và không giúp ích nhiều cho việc điều tra của cả đội.
Trường hợp này khác hoàn toàn.
Ông chủ này là một người đam mê công nghệ điện tử. Quán rượu của ông nằm tại khu vực tội phạm cao. Ông cực kỳ quan tâm đến nhân viên của mình nên đã đầu tư mua thiết bị giám sát hàng đầu từ một công ty Đức và lắp đặt nó đúng cách.
Khi các nhân viên của tôi nhìn vào đoạn phim của vụ cướp vũ trang, họ nói: “Trời đất ơi, cứ như đang xem phim ấy!”. Thậm chí chúng tôi còn có thể nghe rõ âm thanh xung quanh đó.
Dựa trên đoạn video, chúng tôi xác định được một nghi phạm có tiền án cướp vũ trang trông rất giống tên cướp trong video. Chúng tôi không thể tìm ra hắn ta ngay lập tức, nên chúng tôi đã đưa mẹ gã ấy đến xem cảnh quay.
Tôi căn dặn với bà ấy rằng đây là vụ nổ súng, dù không ai bị bắn trọng thương, nhưng bà ấy có thể đau khổ vì bà sẽ nhận ra tên cướp bắn súng. Bà ấy là con chiên ngoan đạo, và bà xấu hổ vì con trai bà là một tên tội phạm tai tiếng, nên tôi nghĩ bà ấy sẽ đồng ý hợp tác.
Khi chúng tôi phát video cho bà xem, bà ấy đã quan sát kỹ tên cướp và bật khóc: “Đó là con trai tôi. Ôi Chúa ơi, con tôi có sao không?”
Hắn không sống với mẹ nữa và rất lâu rồi, bà ấy không gặp con mình. Bà ấy cho chúng tôi địa chỉ cuối cùng nơi bà gặp con trai mình. Tôi đã gửi hai nhân viên đến bắt giữ hắn ta. Họ quay trở lại với khuôn mặt bình thản.
“Chúng tôi tìm ra hắn ta rồi - đang ở trong tù. Hắn đã bị nhốt ở đó bốn tháng qua”.
Một chứng cớ ngoại phạm quá vững chắc.
Người mẹ lo lắng cho đứa con trai mà không hề hay biết hắn ta đang bị giam đằng sau song sắt nhà tù. Bà ấy đã thành thật kết luận đó là con mình. Khi chúng tôi đã thực sự tóm được tên cướp thật, có thể nói hắn ta y như là anh em sinh đôi của tên kia. Họ trông rất giống nhau, ngoại trừ tên cướp thật có một số vết sẹo lồi trên mặt vì bị đánh bằng một chai rượu whisky.
Thường thì các vụ án còn bỏ ngỏ vì kẻ giết người có chứng cớ ngoại phạm do bạn bè hoặc thành viên gia đình cung cấp. Họ sống trong nỗi sợ kẻ sát nhân ấy. Họ thương yêu gã ta và sẵn sàng khai báo chứng cớ ngoại phạm chặt chẽ. Cho đến khi mọi việc vỡ lở.
QUÁ NHIỀU NGHI PHẠM
Tôi từng có một vụ án không thể tìm ra hung thủ trong vòng chín năm, nhưng cuối cùng cũng giải quyết được. Đây là một cuộc điều tra khó khăn vì nạn nhân có “thâm niên” phạm tội và thủ nhiều hơn bạn. Anh sống tại khu thế giới ngầm tội phạm của thành phố, nơi tất cả đều là kẻ săn mồi.
Nạn nhân từng bị một chiếc xe đâm vào khi lên tám tuổi và nó khiến anh bị ám ảnh tinh thần suốt quãng đời còn lại của mình. Khi lớn lên, anh làm việc cho Goodwill Industries[8] trong một chương trình cộng đồng dành cho người khuyết tật. Anh ta sống trong một chung cư nhỏ trong khu vực đầy rẫy những con nghiện ma túy, nghiện rượu, trộm cắp, gái điếm, và những tên ma cô. Đó là một cái hố đen bởi những cư dân thật thà nhất ở đó chính là gián và chuột.
Đó không phải là một môi trường lành mạnh cho bất cứ ai, đặc biệt là nạn nhân. Bên cạnh nỗi ám ảnh từ bé, anh ta còn thiệt thòi bởi thiếu khả năng đánh giá bản chất của những người xung quanh. Anh ta tin tưởng những kẻ xấu xa đã dụ anh ta ăn cắp tiền cho mình, uống whiskey của anh ta, ăn đồ ăn của anh ta và đổ hết lỗi cho anh ta vì những tội ác mà họ phạm phải. Anh ta bị bắt nhiều lần vì vi phạm các tội hình sự nhỏ nhưng chưa bao giờ bị kết án bởi anh ta luôn đổ lỗi cho người khác.
Tài sản có giá trị kha khá của anh là một đài phát thanh giá rẻ, giá khoảng 40 đô la. Một người nào đó bước vào chỗ anh ta khi anh ở nhà, đâm anh ta hơn 31 nhát, và lấy trộm radio của anh ta. Một cái máy phát thanh rẻ tiền. Mạng người cũng rẻ bèo. Đây dường như là thái độ của những người quen biết anh ta. Không ai quan tâm.
Tôi lại quan tâm. Hồ sơ tư pháp hay bản tính đạo đức của nạn nhân không bao giờ quan trọng với tôi. Mạng sống của người này đã bị tước đi. Tôi muốn kẻ giết người. Tôi tham gia vào vụ án của anh ấy như thể mỗi nạn nhân là người quan trọng nhất trên hành tinh.
Trong trường hợp này, không ai trong số những người hàng xóm hay bạn bè của anh ta hợp tác. Hầu hết họ đều nằm trong số 52 nghi phạm mà tôi đã xác định được. Trong khi tôi đang nghiên cứu vụ án này, một trinh sát mới vừa được nhận chính thức. Tôi yêu cầu anh ta giúp tôi. Câu trả lời của anh là: “Có phải anh chàng ở chung cư khu phía Tây? Ai lại quan tâm đến anh ta?”.
Thật sai khi nói với tôi như thế. Các trinh sát viên khác trong căn phòng quay đi vì họ biết tôi sắp nổi trận lôi đình với chàng lính mới. Dấu hiệu đầu tiên là mặt tôi chuyển sang màu đỏ, sau đó là màu trắng với cơn thịnh nộ ngấm ngầm bên dưới.
“Đừng bao giờ nói điều đó với tôi về bất kỳ cái chết nào trong nhiệm vụ của chúng ta”, tôi nói. “Nếu anh còn nói nữa, tôi thề anh sẽ phải viết vé bãi đậu xe tại sân bay từ nửa đêm đến tám giờ các ngày nghỉ thứ ba và thứ năm trong phần thời gian còn lại của sự nghiệp! Rõ chưa?”
Rồi anh ta cũng hiểu được thông điệp. Tôi chắc chắn cho anh ta làm việc cật lực trong vụ án, nhưng tôi vẫn phải mất chín năm để giải quyết, và chúng tôi có một số những phát hiện mới kỳ lạ.
Năm năm trong cuộc điều tra đó, cảnh sát bang Colorado kiểm tra hành chính một người quá giang vào Colorado Springs. Trong khi viên cảnh sát đang kiểm tra giấy tờ tùy thân, người đàn ông thốt ra một câu hoàn toàn bất ngờ: “Tôi đã giết anh chàng đó ở phía Tây vào năm năm trước.”
Chúng tôi choáng váng trong khoảng năm phút. Kẻ quá giang kia như bị mất trí. Anh ta chẳng liên quan gì đến việc giết người.
Trong những năm tiếp theo, chúng tôi vẫn tiếp tục điều tra, hy vọng vụ án sẽ mau chóng kết thúc. Trong khi chờ đợi, khoa học ADN tiến bộ đáng kể và việc truy tìm tội phạm của tôi cũng được hưởng lợi. Chúng tôi tìm thấy những giọt máu tại hiện trường dường như là của kẻ giết người, hắn đã tự cứa dao vào mình trong lúc đâm nạn nhân và sau đó rửa sạch trong bồn rửa của căn hộ.
Máu của hắn đã rơi xuống sàn quanh bồn rửa với vết máu đặc trưng nhỏ giọt của vết thương hở. Tôi nhìn những giọt máu và suy nghĩ, Tên sát nhân của chúng tôi tự cắt tay mình.
Tôi đã lấy một ít máu và bảo quản nó làm bằng chứng cho vụ án. Các mẫu lấy từ nghi phạm chính cũng dẫn chúng tôi đến gặp đồng phạm của hắn. Cả hai đều bị bắt giữ. Đây là vụ án tôi đã đề cập trước đó trong cuốn sách - vụ kết tội giết người đầu tiên ở Colorado phá án thành công nhờ bằng chứng ADN.
Từ đó về sau, tôi tự nhủ “dục tốc bất đạt”. Các mối quan hệ thay đổi. Số lượng tội phạm tăng cao. Đó là lý do tại sao chúng tôi công khai những vụ án bất nhân. Cũng chính vì lý do đó, những tên giết người mà tôi không tóm được nên ngủ mắt nhắm mắt mở và soạn sẵn một túi đồ để ở cửa sau hòng bỏ trốn. Một thế hệ trinh sát viên vẫn đang truy tìm chúng. Và tôi vẫn còn giúp đỡ bậc đàn em thực hiện công việc đó.
Gửi tất cả những kẻ giết người mà tôi chưa bắt giữ được, tôi hy vọng các người không ngủ ngon giấc. Tôi hy vọng cuộc sống không dễ dàng hoặc tốt lành đến với các người. Và tôi muốn các người biết, tôi không bao giờ quên các người đâu. Tập hồ sơ với tên của các người trong đó vẫn còn hiệu lực truy cứu. Vụ việc chưa sáng tỏ, không đồng nghĩa là tôi bó tay.
❀ ❀ ❀
[1] Theo quy định của luật pháp Hoa Kỳ, trong một vụ án hình sự, khi có cáo buộc từ phía cảnh sát/công tố viên rằng một người đã thực hiện tội phạm hình sự, họ sẽ được đưa đến tòa để nghe cáo trạng, cân nhắc tìm chọn luật sư, đưa ra tuyên bố rằng cáo buộc của cảnh sát/công tố viên có đúng sự thật hay không. Nếu nghi phạm không cho rằng mình có tội, phiên tòa xét xử mới được tổ chức. Nguồn tham khảo: https://www.azcourts.gov/guidetoazcourts/How-a-Case-Moves- Through-the-Court-System.
[2] Ban ân xá (Parole Board) là một hội đồng gồm những người quyết định xem một người phạm tội có nên được tạm tha ra tù sau khi chấp hành ít nhất một phần bản án hay không. Ban ân xá tồn tại ở Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và New Zealand. Các thành viên của Ban ân xá gồm những người đủ điều kiện để đưa ra các phán đoán về sự phù hợp của một tù nhân để trở về xã hội tự do. Họ có thể là thẩm phán, bác sĩ tâm thần học hoặc các nhà tội phạm học. Yêu cầu tổng quát nhất là ứng cử viên cho thành viên phải có phẩm chất đạo đức tốt.
[3] Nguyên tắc suy đoán vô tội: Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án.
[4] Tội tiểu hình (misdemeanors): tội tiểu hình hay tội ít nghiêm trọng là bất kỳ hành vi phạm tội “nhẹ” trong hệ thống thông luật (common law). Tội tiểu hình thường được áp dụng chế tài ít nghiêm trọng hơn trọng tội, nhưng về mặt lý thuyết thì nặng hơn so với vi phạm hành chính. Nhiều tội tiểu hình có thể bị phạt tiền.
[5] Bục nhân chứng (The witness stand): Trong phiên tòa tại Mỹ, đây là nơi mà những người cung cấp lời khai sẽ cung cấp lời khai báo trước Hội đồng xét xử cũng như Công tố viên và Luật sư bào chữa. Trước khi khai báo, nhân chứng phải giơ tay tuyên thệ là khai đúng sự thật.
[6] Gõ búa (Pound the gavel): là thuật ngữ để diễn tả hành động sử dụng một cây búa chuyên biệt làm bằng gỗ để ổn định trật tự phiên tố tụng, kết thúc xét xử hoặc quyết định tuyên án.
[7] Một nhân vật cảnh sát điều tra thuộc sở cảnh sát Los Angeles trong series phim Dragnet.
[8] Goodwill Industries (Goodwill Industries International Inc., hay Goodwill) là tổ chức phi lợi nhuận của Hoa Kỳ hỗ trợ đào tạo nghề, giới thiệu việc làm và các chương trình cộng đồng khác cho những người gặp khó khăn trong quá trình tìm việc làm.