Năm 1973, khi tôi vừa mới gia nhập Sở Cảnh sát Colorado Springs, nơi đây vẫn còn là một lực lượng chưa được đào tạo và tuyển chọn bài bản. Hầu hết các sĩ quan đều là cựu chiến binh quân đội với ít nhất 10 năm làm việc trong ngành. Người có bằng đại học rất hiếm. Vai u thịt bắp, nắm đấm nhanh nhẹn và sự nhạy bén mới là những đặc điểm ban đầu cần thiết để được thăng cấp.
Những tân binh ngày trước không được tham dự các khóa huấn luyện kéo dài nhiều tuần để sẵn sàng ra phố chiến đấu giống như bây giờ. Thay vào đó, họ để bạn cộng tác với một cựu chiến binh - người sẽ giúp bạn học cách giải quyết vấn đề. Lính mới sẽ lái xe đi cùng cộng sự lớn tuổi của mình trong chừng hai hoặc ba tuần cho đến khi chúng tôi biết được những quy trình, thủ tục và mọi thứ trong thành phố. Hầu hết các nhân viên tuần tra đều đi một mình, nhưng là lính mới thì chúng tôi không được phép đi xe tuần tra riêng, trừ khi chúng tôi chứng minh được rằng mình có thể sống sót trên đường phố. Không có một bài kiểm tra hay tập dợt trước nào cả. Cho nên trong đa số trường hợp, điều đó có nghĩa là phải đổ máu.
Tôi đã lái chiếc xe tuần tra của mình được khoảng hai tuần từ khi nhận việc. Chúng tôi được điều động đến White Spot, một nhà hàng drive-in[1] mở suốt 24 giờ nằm ở phía Tây thành phố, nơi mọi rắc rối luôn có khả năng diễn ra, thường là những băng nhóm say xỉn và gây rối trật tự công cộng. Kể từ sau nửa đêm, tất cả sẽ bắt đầu đổ đốn.
Người cộng sự và tôi nhận nhiệm vụ vào khoảng 1 giờ sáng sau khi nhận cuộc gọi từ một người đầu bếp thông báo rằng, “Một cảnh sát sắp bị giết đến nơi rồi”. Khi đến nơi, tôi tức tốc chạy vào bên trong và nhìn thấy một gã cao to đang vật lộn với người đồng nghiệp của chúng tôi ở quầy thức ăn. Gương mặt của viên cảnh sát ấy đang tím dần.
Tôi lao vào can ngăn trong trạng thái kích động bởi nỗi sợ và sự tức giận. Tôi nắm chặt lấy tóc của kẻ xấu xa kia và dộng mạnh mặt anh ta vào mặt bàn quầy thức ăn bằng toàn bộ trọng lượng của mình. Trong cơn thịnh nộ, tôi đã không để ý đến chiếc máy làm kem bằng inox trên quầy phục vụ. Tôi không cố ý “là phẳng” chiếc máy làm kem bằng khuôn mặt của anh ta, nhưng chuyện đó đã xảy ra.
Xương mặt và sụn bị vỡ nát. Máu tràn ra khắp nơi. Tôi nghĩ tôi đã giết anh ta. Mọi người cũng nghĩ như vậy.
Tôi bước lùi lại. Nhà hàng dần rơi vào sự tĩnh lặng. Người cộng sự của tôi gọi xe cứu thương đến. Tôi kiểm tra người cảnh sát đồng nghiệp vừa xô xát với tên kia. Viên cảnh sát bị đánh đập đang thở hổn hển vì thiếu không khí, nhưng anh ấy sẽ ổn thôi.
Kẻ tấn công sẽ cần phải thực hiện một cuộc đại phẫu để chỉnh hình lại toàn bộ khuôn mặt. Mai này khi anh ta nhìn vào gương và thấy những vết sẹo, chắc hẳn anh ta sẽ thiết tha nhớ đến tôi.
Liệu tôi đã đưa sự việc đi quá xa? Tôi tự hỏi có khi nào tôi kết thúc sự nghiệp của mình trước khi nó chính thức bắt đầu. Có lẽ tôi đã lo lắng quá. Viên trưởng cảnh sát tuần tra thì nghĩ rằng tân binh mà đã dũng cảm lao vào trợ giúp một sĩ quan khác thật tuyệt vời. Việc tôi đập vỡ mặt tên xấu kia hóa ra lại là một điểm cộng quý giá.
Ngày hôm sau, không những không bị khiển trách, tôi còn được giao hẳn một chiếc xe hơi tuần tra riêng. Danh tiếng của tôi - một viên cảnh sát chuyên dẹp loạn các băng nhóm giang hồ - bắt đầu được tạo dựng. Sự kiện xảy ra ở White Spot trở thành một huyền thoại đô thành. Nghe có vẻ ngầu đấy, nhưng nó cũng khiến tôi mang thêm cái danh khác: kẻ chuyên thu hút rắc rối. Danh tiếng này được duy trì suốt cả 23 năm và 6 tháng làm việc trong ngành.
Ngay từ khi còn là một tân binh, tôi luôn bị những kẻ say xỉn nhắm bắn hoặc tấn công. Không viên cảnh sát nào muốn ở quanh tôi. Họ bảo rằng: “Anh là thỏi nam châm chuyên hút những điều xui xẻo”, và họ đã đúng. Đơn cử là cuộc gọi yêu cầu hỗ trợ đầu tiên của tôi đến quán bar Fred’s, một thế giới ngầm khác nằm ở phía Tây thành phố.
Fred’s, nơi bây giờ may thay không còn kinh doanh nữa, chuyên phục vụ thứ bia rẻ nhất cho tầng lớp người thấp kém nhất. Bãi chứa này như đưa ta trở lại thời Chiến tranh Thế giới II. Tôi đồ rằng họ đã không quét dọn quán bar từ Ngày chiến thắng 15 tháng Tám[2]. Các khách quen thường nốc những cốc bia rồi tiểu tiện ngay trong quán (nhưng ngoài toilet). Tôi nói thật đấy. Những người thường lui tới quán này chẳng thèm bận tâm đến lối trang trí bẩn thỉu hay mùi hôi thối vì đơn giản là họ đã “đóng góp” thứ đó cho nơi này mà.
Tôi đã được điều động đến Fred’s sau khi nhận được một cuộc gọi trong ca trực. Đáng ra theo đúng trình tự thủ tục, tôi còn phải đợi lệnh để có người hỗ trợ, lên phương án tác chiến, nhưng hiện tại thì bàn ghế đang bay tứ tung trong quán và tình huống này đang nằm ngoài tầm kiểm soát. Vì vậy, tôi đã hùng dũng bước vào như một vị thần. Và đoán xem ai là kẻ quấy nhiễu những người trong quán bar? Một gã người Mỹ bản địa cao to như cầu thủ bóng bầu dục, đi một đôi giày da họa tiết màu đỏ đang ném phịch mọi người xung quanh xuống đất nhẹ như ném những con búp bê đồ chơi.
Gã ta như một con quái thú.
“Anh đã bị bao vây!”, tôi thông báo.
Gã quái vật to khỏe đáp lại theo cách ngoài mong đợi của tôi.
Một bàn tay khổng lồ túm lấy đáy quần của tôi, tay còn lại quấn quanh cổ tôi. Sau đó, gã ta ném tôi nhẹ hẫng như ném một cái túi khoai tây qua cửa sổ trước quán với một lực đủ mạnh khiến tôi bay vụt qua vỉa hè và nằm lăn quay ngay cạnh chiếc xe tuần tra của mình đang đậu bên kia đường.
Tôi nằm trên vỉa hè một hồi, kiểm tra vết thương của mình thì vừa kịp lúc viên sĩ quan hỗ trợ đã đến. Anh ta xem xét hiện trường, cười khúc khích và hỏi, “Anh có nghĩ mình cần giúp đỡ ở đây không?”.
“Có chứ, tôi nghĩ là cần đấy”, tôi lầm bầm.
Thật chẳng may là lúc ấy chúng tôi không được trang bị sẵn súng điện Tasers. Thay vào đó, chúng tôi tiến vào quán Fred’s với cây dùi cui chuyên dụng dùng trong bóng tối. Theo ước tính của mình, chúng tôi ập vào rồi lại bay ra khỏi quán rồi lại ập vào, choảng nhau với tên quái vật ít nhất năm mươi lần.
Chúng tôi không hề làm đau anh ta. Chỉ là anh ta đã mệt dần và đầu hàng.
Vài tháng sau, tôi gặp được một người anh em song sinh còn hung ác hơn cả gã ấy. Tổng đài viên vô tuyến thông báo có một cuộc ẩu đả trong nhà vệ sinh nam ở trạm xe buýt. Nhưng lần này tôi đã khôn ngoan hơn và chờ đợi thêm tiếp viện.
Một lần nữa, chúng tôi lại đối đầu với một gã người Mỹ bản địa có vóc dáng vô cùng ấn tượng, cao tầm một mét chín và nặng khoảng 130 ký lô. Khi chúng tôi bước vào, gã đó đang lặng lẽ chăm chú nhìn mình trong gương. Dưới chân gã là ba người đàn ông đang chảy máu và nằm bất tỉnh.
Gã ta đã không nhận ra sự có mặt của chúng tôi cho đến khi chúng tôi rút dùi cui ra.
Rồi gã nhìn lên và bảo, “Mẹ chúng mày không biết lũ nhóc chúng mày trốn ra ngoài đây chơi à?”.
Câu nói đó đã khẳng định rằng chúng tôi vừa mới bước chân vào một cuộc chiến sống còn. Trước khi tra được còng vào tay gã ta, chiếc áo sơ mi đồng phục của tôi đã bị xé toạc và tôi đã mất khoảng ba nắm tóc. Chúng tôi đã hạ gục được gã, nhưng đổi lại chúng tôi đã phải trả cái giá khá đắt.
Sau một thời gian, danh tiếng “thỏi nam châm xui xẻo” của tôi đã lan rộng ra cả ngoài Sở cảnh sát và phủ rộng khắp cộng đồng. Một buổi tối nọ, một người hàng xóm và cũng là giáo dân gõ cửa nhà tôi. Tôi mở cửa và rồi ông ấy đưa cho tôi một gói đồ.
“Mọi người trong nhà thờ đã tụ họp nhau và mua tặng anh cái này”, ông nói.
Đó là một chiếc áo khoác chống đạn, một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực cho bất cứ viên cảnh sát nào. Những người hàng xóm và đồng hương của tôi thật tử tế. Họ không muốn tôi bỏ mạng vì công việc này. Dù khá nặng và không thoải mái, tôi vẫn thường mặc bộ áo khoác đó khi đi làm. Tôi không muốn làm thất vọng những mạnh thường quân của mình.
PHÍA TÂY HỖN LOẠN
Khu vực tuần tra mà tôi được giao nhiệm vụ, khu phía Tây, là một địa bàn nóng về tội phạm. Thường bạn sẽ tìm thấy trên các tờ quảng cáo rằng phía Tây Colorado Springs là ngọn núi Pike hùng vĩ, Công viên Garden of Gods (Khu vườn của các Vị thần), hay kỳ quan Red Rock Canyon. Mặc dù đúng là có rất nhiều cảnh đẹp tự nhiên, xung quanh khu vực thành phố này cũng có một lượng đáng kể tội phạm và số vụ bạo lực. Đặc biệt là ngày đó, Colorado Springs vẫn giữ lại một số di sản của bờ Tây hoang dã, nhờ vào lượng dân số đa dạng và trang bị đầy đủ vũ trang, bao gồm cư dân của một căn cứ quân đội, hai căn cứ không quân, Học viện Không lực Hoa Kỳ, Hầm hạt nhân quân sự Cheyenne, Trung tâm đào tạo Thế vận hội Hoa Kỳ và vô vàn các nhà thờ Tin Lành bảo thủ.
Trong khu vực tuần tra đầu tiên của tôi, khu phía Tây, quán bar còn nhiều hơn cả nhà thờ. Tượng đồng các vị thần Olympia và những người anh hùng oai phong sáng loáng không phải là thứ thường thấy ở đây. Đa số dân cư phía Tây sinh ra ở đây cũng sẽ qua đời tại nơi này, và thường là khá sớm. Có những người tốt bụng, chăm chỉ trong phố, nhưng vì nghề nghiệp của mình nên tôi chẳng mấy khi gặp họ, trừ khi họ trở thành nạn nhân của một vụ án. Ngược lại, tôi chỉ toàn gặp phải những người vô gia cư, những kẻ điên cuồng, bọn say rượu và gây rối.
Có một đợt tôi làm trinh sát điều tra cả thảy mười ngày sau khi nhận được một cuộc gọi nội bộ đột xuất lúc 2 giờ sáng. Như thường lệ, đó là một tình huống bất ổn. Bạn không bao giờ biết được bản thân sa lầy thế nào khi say xỉn, sử dụng ma túy và vũ khí. Ban đầu thì nó giống như một cuộc cãi vã nhỏ, mặc dù sự hiện diện của một con chó giống Great Dane đi loanh quanh sân trước đã thu hút sự chú ý của tôi.
Người vợ nói vọng ra từ hiên nhà trước rằng cô ấy muốn cảnh sát bắt chồng mình đi. Tôi yêu cầu cô ấy cần đưa ra một lý do cụ thể, khi ấy mới có thể áp dụng chế tài theo luật định.
“Chúng tôi đang chuẩn bị ly hôn. Đó là con chó của tôi. Anh ấy muốn nuôi nó, nhưng nó là con chó của tôi. Anh ta sẽ không để tôi mang nó đi”.
Khi cô ấy thấy tôi trông có vẻ không quan tâm lắm đến kịch bản này, cô ấy nhanh chóng đưa ra một lý do khác: “Anh ta có súng”.
Tôi liền gọi tiếp viện.
Ngay sau đó, người chồng bước ra hiên nhà và đứng cạnh chúng tôi. Anh ta không có súng, nhưng anh và người-vợ-cũ-tương-lai vẫn tiếp tục lớn tiếng cãi nhau. Chú chó Great Dane nằm im thin thít với vẻ rối bời hiện rõ trước màn quát tháo nảy lửa của các chủ nhân.
Rồi một người cộng sự nữa của tôi lái xe đến. Bất thình lình, chú chó lao ra giữa đường, đâm thẳng vào chiếc xe tuần tra đang chuẩn bị dừng bánh.
Cú va chạm mạnh đã khiến chú chó chết ngay tại chỗ. “Tôi rất xin lỗi về chú chó của cô”, viên sĩ quan hỗ trợ thể hiện sự hối tiếc khi bước ra khỏi chiếc xe của mình.
Cái chết của chú chó Great Dane đã tạo ra một nút thắt trong cuộc cãi vã hôn nhân của đôi vợ chồng, khiến họ im lặng.
Đó là cuộc sống ở phía Tây. Hầu hết người dân đã từ bỏ hy vọng trước khi hy vọng bỏ rơi họ. Colorado Springs vốn là trung tâm của đợt bùng nổ Cơn sốt vàng (Gold Rush) cũ, khu phía Tây từng mang tên là thành phố Colorado kiêm thủ phủ bang Colorado. Tiếc thay thời hoàng kim của khu phố này kéo dài chưa đầy một tuần. Tại đây, trong một cuộc họp vào tháng 11 năm 1861, các nhà lập pháp nhận thấy đầu tư vào thành phố tồi tàn này là sai lầm. Họ đã rất nản lòng, nên dọn đồ đạc và bỏ đi. Năm ngày sau, các nhà lập pháp lấy Denver làm thủ phủ của tiểu bang, bỏ lại thành phố này chơ vơ.
XÔ XÁT VỚI THI HÀI
Trước thời điểm tôi đến đây làm việc, phần khu phố thuộc của thành phố Colorado cũ đã sáp nhập với Colorado Springs và trở thành một khu phía Tây tồi tệ. Bạn có thể nghĩ rằng tôi đang nói quá về chất lượng cuộc sống thấp kém của nơi này, nhưng bạn đã bao giờ có mặt trong một cuộc xô xát ở nhà tang lễ chưa?
Đó là một buổi sáng thứ Bảy. Tôi đang đi loanh quanh tuần tra vào khoảng 10 giờ sáng và nghĩ rằng buổi sáng này sẽ thật yên bình, ít nhất là trước khi mấy gã say xỉn lại mò ra đường. Nhưng tôi đã sai.
Tôi được phái đi cùng với một nhân viên tuần tra phía Tây khác, chính anh này đã thông báo cho tôi về một vụ “lộn xộn” tại nhà xác của địa phương. Tôi dừng xe ngay phía sau chiếc xe tuần của anh ta. Anh đang đứng chờ sẵn bên ngoài nhà tang lễ.
Không có gì xảy ra cả.
Chúng tôi bước đến cửa chính, mở ra và nhìn chăm chăm vào một đám tang đang diễn ra chẳng như bao đám tang khác. Khoảng hai mươi người đàn ông và đàn bà trong buổi lễ tay không lao vào đánh đấm nhau như một bầy chó dại. Những chiếc cổ áo rách tả tơi. Cà vạt thì ném ngổn ngang. Quai túi xách chờ được chủ nhân tận dụng để siết cổ người ta.
Sau khi nhìn quanh rồi nháy mắt ra hiệu, sĩ quan đồng nghiệp của tôi hướng ánh nhìn về khu trung tâm nhà tang lễ, nơi có một cái hòm mở nắp, không phải một, mà là hai người gác hòm. Một người đang quỳ xuống cạnh thi hài của người-quá-cố-không-đáng-tiếc-thương, giáng những cú đấm vào khuôn mặt xanh tái ấy. Bam! Bam! Bam!
Phải chăng kẻ tấn công nghĩ rằng không có máu thì sẽ không bốc mùi? Dĩ nhiên trong hoàn cảnh như vậy, chẳng người đã khuất nào có thể yên nghỉ nổi. Tôi không thể nhịn cười đến lộn ruột trong vài giây, sau đó chúng tôi vội vã tiến vào trong để giúp đỡ người chết kia tránh khỏi đòn tấn công. Trước khi chúng tôi còng tay tên phá hoại này, xương hàm của người chết đã vỡ nát và một nhãn cầu đã trồi ra khỏi hốc mắt. Lớp trang điểm được chuẩn bị kỹ càng bởi nhân viên nhà tang lễ đã bị làm cho lấm len dưới nắm đấm của kẻ xâm phạm thi hài.
Chúng tôi đã đưa ra quyết định hành pháp và túc trực trong lễ khâm liệm và nhập quan kể từ thời điểm đó. Đội viện trợ của chúng tôi sau đó đã đến và cảnh sát canh gác tại các cửa ra vào nhà tang lễ. Chúng tôi trấn áp tất cả những người bạn buồn đau và các thành viên trong gia đình đang cố gắng giết hại lẫn nhau. Một trong số họ đã bị chấn thương sọ não do bị một chiếc ghế kim loại đánh trúng vào đầu.
Trong các cuộc thẩm vấn tiếp theo, chúng tôi biết được một vài người đưa đám đã hét lên những lời nguyền rủa người quá cố bằng những từ ngữ xúc phạm vô cùng nặng nề. Hắn gợi ý về điểm đến cuối cùng - địa ngục, và kết quả là địa ngục đã được mở lối. Ngay cả các cảnh sát đồng nghiệp là cựu chiến binh của tôi cũng nói rằng họ chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ cảnh tượng nào như thế. Nói đi cũng phải nói lại, những người dự tang lễ ầm ĩ kia đã nhắc nhớ tôi về chính gia đình mình tại Pennsylvania.
CUỘC CHIẾN GIA ĐÌNH TẠI VƯƠNG QUỐC THAN ĐÁ
Thời thơ ấu, tôi sinh ra và lớn lên trong ngôi nhà tại Herminie, Pennsylvania. Lúc bấy giờ, vùng này là một trại than nhỏ nằm ở ngoại ô thành phố Pittsburgh, nơi mà nhiều thành viên trong gia đình tôi làm việc và đôi khi bỏ mạng trong những hầm mỏ sâu dưới lòng đất. Công ty Than Đá Đại Dương sở hữu hai mỏ than địa phương, tôi tự đặt tên cho chúng là Herminie 1 và Herminie 2.
Xung quanh lối vào mỗi hầm than là khu nhà ở do công ty dựng lên một cách cẩu thả và rẻ tiền. Nếu bạn làm việc tại Than Đá Đại Dương, bạn sẽ được đãi ngộ sống trong khu nhà ấy. Tiền thuê nhà sẽ được trừ thẳng vào lương, các hóa đơn tạp hóa từ cửa hàng do công ty sở hữu cũng thế. Họ sẽ chiếm hữu toàn bộ linh hồn của bạn.
Con đường chính ở Herminie nối liền với các quán rượu. Tổng cộng có mười ba quán trong thị trấn phục vụ cho hai ngàn linh hồn nhuốm toàn màu than khoáng. Khi công nhân rời khỏi hầm mỏ và người ngợm thì lấm lem toàn bụi than, họ sẽ ưu tiên đến các quán rượu trước nhất. Cuối cùng họ về nhà để tắm rửa và ngủ. Hầu hết các thợ mỏ đều là dân di cư có ít lựa chọn khác về công việc.
Ông bà tôi chuyển từ quê hương Slovenia đến Hoa Kỳ vào năm 1913 để thoát khỏi những hỗn loạn trước Thế chiến Thứ nhất. Họ là một trong số ít gia đình họ Kenda còn sống sót, bởi Đức Quốc xã đã giết gần hết những người họ Kenda trong Thế chiến Thứ hai. Ở làng quê của ông nội tôi - Čezsoča, - có một đài tưởng niệm chiến tranh được xây dựng để tưởng nhớ đồng bào đã bị Đức Quốc xã giết chết trong cuộc kháng chiến bảo vệ quê hương. Lính Đức đã xếp họ thành hàng và nổ súng. Có bảy người đàn ông mang họ Kenda hiện đang sống trên tháp tưởng niệm đó.
Nội tôi là một trong số nhiều người Slovenia nhập cư kéo đến khu vực Pittsburgh và sống bằng nghề làm than. Tôi chưa bao giờ biết mặt ông nội Josef của mình, bởi ông đã bỏ mạng trong một hầm mỏ vào năm 1933. Ông là một thợ mỏ dày dặn kinh nghiệm và chuyện cứ thế trôi qua, cho đến một ngày ông cảm nhận được rằng hầm mỏ dường như sắp sập trong lúc đang làm việc. Lẽ ra ông đã có thể tự cứu được mình, nhưng ông đã chạy về phía các con - là cha và chú tôi - và đẩy họ ra khỏi hầm mỏ. Sau đó, các bức tường đổ sụp lên người ông nội. Ông qua đời vì cứu các con mình.
Bất cứ khi nào được nghe kể về cái chết của ông, tôi luôn cảm nhận rằng ông nội biết rất rõ điều kiện trong hầm mỏ nên cũng chỉ mỗi mình ông mới cảm thấy được rằng hầm sắp sụp. Là fan hâm mộ từ bé của thám tử Sherlock Holmes, tôi ý thức được tầm quan trọng của việc quan sát môi trường xung quanh. Câu chuyện thường được kể trong gia đình càng khắc sâu thêm trong tâm trí tôi về phương châm ấy. Tôi đã rèn luyện từ sớm việc ghi chép mọi thứ cần lưu ý xung quanh, giống như người ông Kenda đáng kính của tôi, và nhờ đó trở thành một thám tử giỏi hơn sau này.
Tôi cá là bạn sẽ muốn nói gì đó tích cực để động viên tôi trước sự kiện bi thảm của gia đình. Nhưng cha tôi, mặt khác, lại thường áp đặt những suy nghĩ đen tối và tiêu cực. Cha luôn đổ lỗi cho chú Joe vì cái chết của ông nội. Cha nói rằng em trai ông rất lười biếng và bố của họ luôn cảm thấy cần phải để tâm đến người em. Cha tôi khăng khăng rằng ông nội đã rơi vào khu vực nguy hiểm vào ngày ông qua đời vì ông phải động viên người chú “lười biếng” của tôi.
Kết quả là, cha và chú tôi không bao giờ nói chuyện với nhau sau khi ông tôi mất. Chú Joe cũng không được phép xuất hiện trong nhà chúng tôi. Khi tôi đủ lớn để nhận ra rằng tôi có một người chú chưa bao giờ gặp mặt cũng đang sống trong thị trấn, tôi bắt đầu ghé thăm chú ấy. Chú chào đón tôi, nhưng cũng chia sẻ rằng cha tôi sẽ không đồng ý để chú hiện diện trước mặt chúng tôi.
Cha tôi là người cứng rắn, bướng bỉnh, cứ dai dẳng rầu rĩ và không vị tha. Mẹ tôi là người Ireland, sinh ra ở Virginia Morrissey, vùng đất khiến bạn nghĩ rằng sẽ cho bà ấy chút khiếu hài hước, nhưng ở bà ấy cũng xuất hiện tâm lý thù ghét sau khi kết hôn với cha tôi. Bà trở nên không hề khoan dung và đầy hận thù hệt như cha.
Mẹ tôi đặc biệt căm thù sâu nặng hai người phụ nữ dám kết hôn với hai con trai của bà và cướp họ khỏi tay bà ấy. Về phần vợ tôi, Kathy, cô ấy đã bắt đầu hứng chịu sự ghẻ lạnh của mẹ tôi ngay sau khi chúng tôi hẹn hò. Bạn biết đấy, mẹ không bao giờ chọn Kathy làm con dâu. Nhưng tôi đã chọn cô ấy, và đó là sự xúc phạm đối với bà đến hết cuộc đời.
Tôi không hề nghĩ có thể gặp được người vợ tương lai của mình trong một buổi hẹn hò do mẹ tôi và bạn thân của bà sắp đặt. Khi mẹ cố ép tôi đưa con gái của bạn bà đi xem một trận bóng rổ, bất kể tôi chả thích cô ấy hay cả trận bóng, tôi đang là một sinh viên năm hai tại Trường trung học Công giáo Greensburg Central.
Cô gái tôi phải đi cùng khá xinh xắn với mái tóc đỏ, cũng là một người nhập cư như tôi. Tôi thực sự không có lý do để không thích cô ấy, nhưng tâm trí và đôi mắt của tôi cứ lang thang chốn nào trong ngày chúng tôi gặp gỡ hẹn hò. Lúc đang ngồi trên khán đài xem bóng rổ cùng cô ấy, tôi bất giác nhìn lên và phát hiện ra cô gái trẻ xinh đẹp nhất trên cõi đời này mà tôi từng gặp.
Khoảnh khắc ấy như mới diễn ra ngày hôm qua. Mái tóc vàng và đôi mắt màu xanh, cô ấy mặc một chiếc váy màu lông lạc đà, áo vest cùng tông và áo choàng trắng bên ngoài. Tôi thoáng nghĩ, Wow, đó là ai? Và trước khi tôi kịp biết mình đang làm gì, tôi đã lãng quên cuộc hẹn trên băng ghế và tiến về phía đối diện.
Sau đó, tôi bắt chuyện với tình yêu của đời mình, Mary Kathleen Mohler. Chúng tôi vẫn trò chuyện với nhau, hầu như mỗi ngày. Chúng tôi đã hẹn hò nhau đến hết quãng thời gian trung học và sau đó kết hôn khi nàng tốt nghiệp đại học với tấm bằng điều dưỡng vào ngày 26 tháng 12 năm 1967. Mẹ tôi không bao giờ chấp nhận chuyện này.
Bà giữ mãi mối hận thù cho đến tận ngày qua đời - bốn mươi năm sau đám cưới của chúng tôi. Khi chúng tôi rời khỏi tang lễ của mẹ, tôi nhìn vợ và nói, “Giờ thì ổn rồi, mẹ chồng của em sẽ không còn ghét bỏ em nữa”.
KẾ HOẠCH TRỞ THÀNH NHÀ NGOẠI GIAO
Việc thường xuyên phải thỏa thuận với nhiều người có tính hiếu chiến và hung hăng quanh mình chính là yếu tố để tôi chọn ngoại giao quốc tế là nghề nghiệp đầu đời. Điều này dường như là một lựa chọn hợp lý vào thời điểm đó. Tôi học chuyên ngành Khoa học Chính trị tại Đại học Pittsburgh. Sau đó, tôi theo học tại Đại học bang Ohio để lấy bằng thạc sĩ ngành Quan hệ Quốc tế. Tôi cũng có ý tưởng lãng mạn rằng mình sẽ trở thành Đại biện lâm thời[3] tại Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Paris, nhưng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã có những ý tưởng khác khi tôi nộp đơn xin việc vào đây. Họ nói với tôi rằng nhiều khả năng tôi sẽ được đảm nhiệm một công việc bàn giấy tại một nơi hoang dã nào đó ở châu Phi. Tệ hơn là, họ không để tôi đưa Kathy theo vì việc này rất nguy hiểm.
Tôi vốn đã rất bối rối trước tư duy thi hành nhiệm vụ quốc tế mà tôi được truyền đạt từ cuộc tập huấn của Bộ Ngoại giao dành cho các ứng cử viên nộp đơn xin việc. Cuộc tập huấn được chủ trì bởi một nhân viên tiêu cực đến từ Cơ quan tình báo Trung ương (CIA). Thế giới quan của ông ta tăm tối hơn tôi rất nhiều vào thời điểm đó. Tôi đã phục vụ trong Lực lượng Không quân Trù bị thời đại học và tôi đã vững lòng với quan điểm yêu nước của mình. Tôi nghĩ Hoa Kỳ là người bảo vệ cho tự do và nhân đạo trên toàn thế giới.
Nhưng viên mật vụ CIA ấy đã biến đất nước tôi trông như một kẻ chuyên lôi kéo và bắt nạt. Tất cả những gì ông ta có thể nói đều là về việc lật đổ các chính phủ, bảo vệ nguồn dầu mỏ của chúng ta, và xuống tay với bất cứ ai cản chân tham vọng thống trị toàn cầu của Hoa Kỳ. Quan điểm của ông về Hợp chủng quốc Hoa Kỳ không giống của tôi. Tôi là một người phân biệt rõ ràng đúng-sai, trắng-đen. Tôi không muốn phải chấp nhận bất cứ phần nào trong quan điểm thù địch của ông ta.
Tôi trở về trường với tâm trạng chán chường, và chỉ còn vài tiết học cần lên lớp là tôi sẽ hoàn thành bằng Thạc sĩ nhưng giờ đây tôi chẳng còn muốn nó nữa. Cú sốc cuối cùng xảy ra vào một ngày khi chúng tôi chờ giáo sư xuất hiện trong phòng học lớn. Tôi nhìn vào anh chàng đang ngồi bên cạnh và lần đầu tiên, tôi nhận ra anh ta có vẻ già hơn mình rất nhiều. Vì vậy, tôi đã hỏi tuổi người đàn ông ấy.
“Tôi ba mươi chín tuổi”, anh ta đáp
Tôi sốc.
“Anh vẫn đi học ở tuổi này sao? Anh có đi làm gì không?”
“Không”. Anh nói. “Tôi đi học toàn thời gian”.
Tôi đóng tập, đứng lên, và bước ra ngoài. Tôi đã lập gia đình và có đứa con đầu lòng. Đã đến lúc tôi gác lại việc nghiên cứu và tìm lấy một công việc thực sự. Vấn đề là tôi không có một kế hoạch B nào sau khi rời Đại học Ohio. Vì vậy, tôi đã phạm phải sai lầm: đi theo nghiệp kinh doanh của cha mình. Tôi biết bạn đang nghĩ gì: Trường đại học không dạy ta những lẽ thường ở đời.
XUNG ĐỘT NHÀ KENDA
Cha tôi không phải là một hình mẫu tính cách tốt đẹp để noi theo, nhưng ông khá thành công trong sự nghiệp, một người đàn ông đường phố thông minh. Cha tôi không dành suốt cuộc đời để làm việc trong hầm mỏ như hầu hết những người đàn ông trong thị trấn. Cha biết nói nhiều ngôn ngữ và vào thời chiến, ông là sĩ quan tình báo chuyên theo dõi các gián điệp nước ngoài ở Hoa Kỳ. Ông bị thương nặng trong một tai nạn xe lửa khi theo dõi một tên gián điệp đáng ngờ trên tàu. Cổ và lưng của ông bị gãy và một bên chân bị xé nát. Điều này đã khiến ông phải trải qua nhiều năm trong các bệnh viện quân đội để chữa trị.
Ban đầu bác sĩ nghĩ rằng ông sẽ không bao giờ đi lại được nữa, nhưng cha đã chứng minh rằng họ sai với sự bình tĩnh và điềm đạm của mình. Loại giày cố định xương do Chính phủ cấp phát đã làm bước đi của ông loạng choạng mãi mãi. Nhưng rồi ông vẫn có thể đi vòng quanh và cuối cùng đã lấy lại sức mạnh thể chất của mình.
Khuyết tật ở chân không cho phép ông quay lại làm việc tại hầm mỏ được nữa, thế là cha tôi đã đi vay và mua quyền phân phối sỉ báo giấy ở địa phương. Công ty Tin tức Herminie giữ quyền giao phát tờ Pittsburgh Press, Pittsburgh Gazette và Tribune Review. Đây là một ngành kinh doanh cần nhiều sức lao động với guồng công việc kéo dài bất tận.
Cha có hai xe tải. Một chiếc dùng để giao tới các sạp báo và các điểm nhận báo (drop-off) của những thợ giao báo. Chiếc kia giao báo tới những khách hàng ở vùng ngoại ô. Tôi làm việc cho cha trên xe tải từ lúc lên tám, bắt đầu bằng việc ôm khệ nệ mớ giấy khổng lồ. Lúc mười bốn tuổi, tôi đã lái xe trên các con đường ngoại ô mặc dù tôi chưa đủ tuổi để được phép cầm lái.
Ngày cha yêu cầu tôi gia nhập vào công ty, tôi nghĩ ông muốn tôi giúp ông mở rộng và sau đó, tôi sẽ tiếp quản nó để ông ấy có thể nghỉ hưu. Nhưng không, ông ấy chưa bao giờ xem tôi là người kế thừa tập sự. Ông ấy chỉ coi tôi là một “người giúp việc”.
Cha tôi yêu cầu tôi làm việc hai mươi chín giờ một ngày, tám ngày một tuần, làm bao nhiêu trả tiền bấy nhiêu. Tôi gần như đã làm việc liên tục hoặc đến kiệt sức, thời gian cho vợ và các con chẳng còn lại bao nhiêu. Những đứa trẻ đã lần lượt đến bên đời tôi. Con trai của chúng tôi, Daniel, chào đời vào tháng 2 năm 1970 và con gái Kristin, sinh vào tháng 10 năm 1971.
Tôi rất ít khi san sẻ phận sự chăm lo con cái cùng Kathy trong những ngày đầu bởi vì tôi đã làm việc rất nhiều, và sự thật này sẽ vẫn còn tiếp tục trong suốt cuộc hôn nhân của chúng tôi phía trước. Bên cạnh nỗi thất vọng, nàng còn rất xấu hổ khi phải mượn tiền bố mẹ đẻ để chi trả sinh hoạt bởi đồng lương còm cõi của tôi không đủ cho cả gia đình. Vợ tôi chịu đựng tình cảnh này trong khoảng hai năm trước khi cô ấy bộc bạch tất cả sau khi nốc sạch chai vodka pha nước cam. Chuyện này thật chẳng đáng tự hào, cô ấy tự thừa nhận điều đó, và tôi sẽ để cô ấy tự chia sẻ đến bạn.
Tôi rất giỏi trong việc tằn tiện chi tiêu, nhưng thật là xấu hổ khi chúng tôi không thể trả hết chi phí vào cuối tháng mà không phải vay mượn từ bố mẹ. Joe thì một là làm việc hai là ngủ. Hoặc nếu anh tỉnh, anh ấy không muốn trò chuyện với con cái hay cả tôi. Thay vào đó, anh sẽ cà kê với bè bạn của mình. Tôi không muốn một cuộc sống như thế này. Một đêm, tôi vỗ về các con ngủ trong khi anh ấy đi chơi với bạn bè chưa về. Trong khi chờ đợi anh ấy, tôi tự pha vodka và nước cam, sau đó cứ uống mãi. Khi anh ấy về nhà, tôi đã hoàn toàn bí tỉ.
Khi anh bước vào cửa, tôi bảo rằng hai đứa cần nói chuyện.
Biểu hiện của anh ấy là “Mẹ kiếp!”.
Tôi nói hết những suy nghĩ về công việc của anh ở nhà bố mẹ chồng và những gì họ đã trả cho anh, và tôi có thể đã tuồn ra một vài điều khác. Về cơ bản, tôi khuyên anh rằng đây không phải là lao động và anh ấy cần phải tìm một công việc khác hoặc tôi và các con sẽ dọn ra ngoài.
Sáng hôm sau, tôi thức dậy mà đầu đau kinh khủng. Joe đang nhìn châm châm vào tôi.
“Em có nhớ gì về đêm qua không?”, anh hỏi.
Tôi đáp: “Anh có muốn một bài ca không hồi kết không?”
Một lần nữa, biểu hiện của anh ấy là “Mẹ kiếp!”.
Joe đã nói chuyện rất lâu về việc có thể trở thành một cảnh sát. Anh nghĩ nghề này sẽ hợp với anh, qua những câu chuyện anh vẫn nghe từ người cậu yêu quý của mình, một cảnh sát tuần tra bang Colorado. Anh cũng đã nói về một ngày quanh ở Colorado Springs, nơi anh thường hay đến để thăm ông bà ngoại lúc còn nhỏ. Tôi cho anh ấy một năm để nộp đơn làm việc tại đó và một số nơi khác. Tôi không quan tâm anh ấy làm gì trong một năm, tôi chỉ muốn anh thực hiện hết sức. Chúng tôi cần phải thay đổi hiện tại của mình.
CHUYẾN BAY CỦA NHÀ KENDA
Kathy đã rất nghiêm túc. Tôi đồng ý với Kathy rằng làm việc cho cha tôi chẳng mang lại chút ích lợi về mặt tài chính hoặc bất kỳ khía cạnh nào. Chúng tôi cần gác lại chuyện về cha mẹ tôi hay nơi mà họ thuộc về. Vợ chồng tôi nói chuyện trong nhiều đêm về những địa điểm chúng tôi mong muốn lập nghiệp và Colorado Springs nằm trong danh sách đó. Chúng tôi đã ghé thăm em vợ và vài gia đình khác ở đó. Chúng tôi yêu núi rừng và không khí trong lành, chúng tôi đặc biệt thích Colorado Springs hơn nữa vì khoảng cách xa xôi với Pennsylvania.
Việc chuyển đến Colorado cứ mãi là một giấc mơ trong vài tuần sau cuộc trò chuyện đầu tiên của chúng tôi, cho đến khi một người bạn phi công hỏi tôi có muốn cùng tạt ngang Colorado Springs trên chiếc máy bay trị giá 3 triệu đô la của chủ anh ấy. Tôi cũng có giấy phép lái máy bay, vì vậy đây là một lời mời không thể bỏ qua.
Anh bạn phi công đến Colorado để đưa con trai của ông chủ đến Học viện Không quân Hoa Kỳ, đủ thời gian để tôi có thể nộp hồ sơ ứng tuyển tại Sở cảnh sát Colorado Springs. Khi máy bay vừa đáp đất, tôi mượn một chiếc xe hơi và lái xe đến Phòng tổ chức cán bộ thành phố Colorado Springs. Ở đó tôi đã gặp giám đốc nhân sự, Norman Gieseker, một người đàn ông thân thiện sẵn sàng hoãn kế hoạch ăn trưa của mình để trò chuyện và chia sẻ cùng tôi.
Ông đã rất ấn tượng khi biết tôi là một sinh viên tốt nghiệp đại học đang muốn ứng tuyển làm cảnh sát, bởi vì không có mấy ai có bằng đại học trong sở. Cũng khá thuận lợi khi tôi nói với ông ấy rằng tôi chỉ ở lại trong thị trấn trong một vài giờ vì tôi bay từ Pennsylvania bằng máy bay riêng để đưa một đứa trẻ đến Học viện Không quân.
Norman cho phép tôi làm bài kiểm tra dành cho cảnh sát ngay tại bàn làm việc của mình trong khi ông đi ăn trưa. Thậm chí ông còn hứa rằng sẽ kiểm tra bài làm của tôi khi ông ấy quay lại. Colorado Springs dường như là một thành phố tươi đẹp để lập nghiệp.
Bài kiểm tra cũng khá vừa sức. Tôi để nó trên bàn của Norman và trở lại sân bay. Tôi bay về nhà và trong vài tuần tiếp theo, trong khi tôi đợi tin từ Colorado Springs, tôi cũng trầy vi tróc vảy xin một chân làm cảnh sát ở Pittsburgh và gần Greensburg, bang Pennsylvania quê nhà.
Phải mất một khoảng thời gian dài để cơ quan cảnh sát kiểm tra lý lịch ứng viên, vì vậy phải mất vài tháng trước khi tôi nghe kết quả từ bất cứ ai. May mắn thay, cuộc gọi đầu tiên đến từ Norman, giám đốc nhân sự của Colorado Springs. Ông ấy đã phân công tôi làm nhân viên tuần tra thành phố và tôi nhận việc không chút do dự. Norman bảo rằng tôi bắt đầu báo cáo công việc kể từ ngày 6 tháng 3 năm 1973.
Sau đó, tôi báo với vợ rằng cả nhà sẽ chuyển đến Colorado và sống xa gia đình tôi, để cô ấy không còn bất cứ lý do gì mà ly hôn tôi nữa. Sau đó, tôi sẽ cho cô ấy vô vàn lý do khác để “đá” tôi vào lễ.
❀ ❀ ❀
[1] Nhà hàng drive-in (hoặc nhà hàng drive-though) là một loại hình nhà hàng được thiết kế có khu vực để các khách hàng có thể lái xe vào thẳng quầy riêng đặt mua và mang thức ăn mang đi, như cửa hàng Mc Donald’s, Jollibee, Chow King,...
[2] Victory over Japan Day, viết tắt là V-J Day, có nghĩa là Chiến thắng trước Nhật Bản, là ngày mà Đế quốc Nhật tuyên bố đầu hàng, chấm dứt Thế chiến Thứ hai.
[3] Suave chargé d’affaires - viên chức ngoại giao có quyền hạn lớn thứ hai sau Trưởng cơ quan ngoại giao (Đại sứ), được cử làm quyền Trưởng cơ quan đại diện ngoại giao khí Trưởng cơ quan không có mặt ở nước tiếp nhận hoặc vì lý do nào đó không thực thi được nhiệm vụ (Theo Công ước Viên 1961).