Tuyển Tập Voltairine De Cleyre

Lượt đọc: 243 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ý Niệm Chủ Đạo

❊ ❊ ❊

Trong vạn vật sinh sôi, nếu tinh tường quan sát, ta sẽ nhận ra đường nét mờ ảo của một ý niệm—một ý niệm, dù đã chết hay còn sống, đôi khi còn mạnh mẽ hơn khi đã tàn lụi, với những đường nét cứng nhắc, bất di bất dịch, khắc họa nên thể xác hữu hình bằng dáng vẻ nghiêm nghị, bất động của cõi vô tri.

Hàng ngày, chúng ta bước đi giữa những chiếc bóng kiên cường ấy, những thực thể khó xuyên thủng và trường tồn hơn cả đá granite, mang trong mình sự tối tăm của thời gian đằng đẵng, thống trị những thể xác sống động và đổi thay bằng những tâm hồn đã chết và bất biến. Và ta cũng bắt gặp những tâm hồn sống động đang thống trị những thể xác lụi tàn—những ý niệm hằng sống ngự trị trên sự mục nát và cái chết. Đừng tưởng rằng tôi chỉ nói riêng về đời sống con người. Dấu ấn của Ý chí bền bỉ hay đổi dời ấy hiện rõ nơi ngọn cỏ bám rễ vào mô đất nhỏ, cũng như trong mạng lưới sinh tồn mong manh lơ lửng và bơi lội tít trên cao của chúng ta giữa bầu trời tự do.

Những ý niệm thống trị xuất hiện ở muôn nơi! Bạn đã bao giờ thấy một dây leo đã chết trổ hoa chưa? Tôi đã từng chứng kiến cảnh đó. Mùa hè năm ngoái, tôi trồng mấy gốc hoa bìm bìm leo lên ban công tầng hai; và ngày nào chúng cũng uốn lượn trong gió, những chiếc mặt hoa trắng điểm hồng vẫy chào ánh mặt trời, rực rỡ sức sống vươn cao. Ngày qua ngày, những ngọn xanh càng leo cao hơn, mang theo cả dải lá xòe rộng phất phơ trước những đóa hoa đang hướng về ánh dương. Thế rồi, một tai họa bất ngờ ập đến,—một con sâu cắt rễ hay một đứa trẻ nghịch ngợm nào đó đã làm đứt một gốc dây leo ở phía dưới, tất nhiên là nhánh đẹp và đầy tham vọng nhất. Chỉ trong vài chiếc lá đã rủ xuống rũ rượi, thân mọng nước héo úa và bắt đầu khô đi; chỉ trong một ngày, nó đã chết—trừ phần ngọn vẫn kiên bám lấy giàn đỡ với chiếc đầu ngọc ngà ngẩng cao. Tôi có chút tiếc nuối cho những nụ hoa giờ đây chẳng bao giờ nở được, và chạnh lòng thương cho dây leo kiêu hãnh ấy khi hoài bão giữa cõi đời đã dang dở. Nhưng đêm hôm sau, một cơn giông bão kéo đến, một trận bão dữ dội, mưa quất rát mặt và chớp lóa lòa. Tôi thức dậy để ngắm những tia chớp, và kìa! một điều kỳ diệu của thế gian! Giữa bóng tối mịt mùng của đêm sâu, giữa cuồng phong và mưa lũ, cành dây leo đã chết ấy đã nở hoa. Năm bông hoa trắng muốt như mặt trăng bung nở vui tươi quanh bộ khung xương xẩu của dây leo, rực sáng hiên ngang đáp lại ánh chớp đỏ rực.

Tôi ngẩn ngơ ngắm nhìn chúng trong niềm kinh ngạc câm lặng. Ôi dây leo thân yêu đã chết, ý chí trổ hoa của mi mạnh mẽ đến nhường nào khi mà ngay trong giờ phút bị cắt đứt đột ngột khỏi nguồn đất nuôi dưỡng, mi vẫn dồn dòng nhựa sống cuối cùng cho những đóa hoa; và chẳng chờ đến bình minh, mi đã bung nở chúng giữa giông bão và sấm chớp, tựa như những đóa hoa đêm trắng muốt, vốn dĩ phải là những đứa con của ánh mặt trời.

Khi ánh ban mai ló dạng, tất cả chúng tôi cùng đến ngắm nhìn kỳ quan ấy, vô cùng ngạc nhiên và thốt lên: "Chắc chắn đây là những bông hoa cuối cùng rồi." Thế nhưng suốt ba ngày liền, ngày nào dây leo chết cũng trổ hoa; và thậm chí một tuần sau, khi mọi chiếc lá đã khô giòn, ngả nâu và mỏng tang đến mức có thể nhìn xuyên qua, một nụ hoa cuối cùng—còi cọc, yếu ớt, bé bỏng chẳng khác nào một đứa trẻ sơ sinh, nhưng vẫn trắng ngần và thanh tao với năm đốm tía giống hệt như trên thân dây leo sống bên cạnh—đã hé nở, vẫy chào những vì sao và chờ đón ánh nắng sớm mai. Vượt lên trên cái chết và sự mục rữa, Ý niệm Chủ Đạo mỉm cười: dây leo sinh ra trên đời là để trổ hoa, để mang những đóa kèn trắng điểm xuyết sắc tím; và nó vẫn giữ vững ý chí ấy ngay cả bên kia cái chết.

Học thuyết hiện đại của chúng ta cho rằng các ý niệm chỉ là những hiện tượng đi kèm, hoàn toàn bất lực trong việc định ường hành động hay các mối quan hệ của đời sống, giống như hình ảnh trong gương cất lời bảo với thân xác mà nó phản chiếu rằng: "Ta sẽ nhào nặn ngươi." Thực tế, ta thừa biết rằng ngay khi thân xác rời khỏi trước tấm gương, hình ảnh thoáng qua ấy liền trở thành hư vô; thế nhưng thân xác thực sự vẫn tồn tại để sống cuộc đời của chính mình, và sẽ sống bất chấp những bóng ma quá khứ đã biến mất của nó, dưới áp lực không ngừng biến đổi của ngoại cảnh.

Chính vì thế nên cái gọi là Quan niệm Lịch sử Duy vật, phái Xã hội chủ nghĩa hiện đại, cùng đại đa số những người theo chủ nghĩa Vô chính phủ muốn chúng ta nhìn nhận thế giới ý niệm như thế nào,—những hình ảnh phản chiếu biến đổi, ảo tưởng, chẳng có chút vai trò nào trong việc định đoạt cuộc đời con người, mà chỉ là ngần ấy hình bóng trong gương của một số mối quan hệ vật chất, hoàn toàn bất lực trong việc tác động đến dòng chảy của thế giới vật chất. Đối với họ, tâm trí tựa như một tấm gương phẳng lì, dẫu thực ra chưa bao giờ hoàn toàn trống rỗng, bởi nó luôn đối diện với thực tại vật chất và buộc phải phản chiếu đôi chút bóng hình. Hôm nay tôi là thế này, ngày mai lại là kẻ khác, nếu cảnh trí đổi thay; Bản ngã của tôi chỉ là một bóng ma nhảm nhí, nhảy múa lăng xăng trong gương, làm điệu bộ, biến hóa từng giờ từng phút, lấp lánh thứ ánh sáng lân tinh của một ảo ảnh dối lừa, tan biến tựa sương mù trên đỉnh đồi. Đá đai, đồng ruộng, rừng cây, dòng suối, nhà cửa, hàng hóa, da thịt, máu huyết, xương cốt, gân mạch—đó mới là những thực tại, với những vai trò rạch ròi, với bản chất cốt lõi trường tồn qua mọi đổi thay; còn Bản ngã của tôi thì không trường tồn; nó được tái tạo hoàn toàn mới theo mỗi đổi thay của những thứ ấy.

Tôi cho rằng chủ nghĩa quyết định vật chất tuyệt đối này là một lầm lẫn lớn lao và đáng tiếc trong phong trào tiến bộ hiện đại của chúng ta; và dẫu tôi tin rằng đó là một thứ thuốc giải lành mạnh cho sai lầm kéo dài đằng đẵng của thần học Trung cổ—rằng: Tâm trí là một thực thể hoàn toàn vô trách nhiệm, tự đặt ra luật lệ cho riêng mình theo kiểu của một vị Hoàng đế Tuyệt đối, chẳng cần logic, hệ thống hay liên hệ nào, cai trị vật chất và là tối cao định đoạt mọi thứ, không ngoại trừ cả Chúa trời (vấn thân Ngôn từ cũng chỉ là một kiểu tâm trí phóng đại tương tự)—dẫu tôi thực sự tin rằng quan niệm mới về Chủ nghĩa Duy vật đã làm được một việc ích lợi khi chọc thủng chiếc bong bóng tự mãn ấy và đưa con người cùng "linh hồn" của họ về lại "vị trí trong tự nhiên", tôi vẫn tin rằng điều này cũng có giới hạn của nó; và sự thống trị tuyệt đối của Vật chất cũng là một sai lầm tai hại chẳng kém gì bản chất độc lập của Tâm trí; thậm chí trong tác động trực tiếp đến hành vi cá nhân, nó còn đem lại hậu quả tồi tệ hơn cả hai điều đó. Bởi nếu học thuyết về ý chí tự do từng sản sinh ra những kẻ cuồng tín và bạo chúa, những kẻ cho rằng con người ta có thể tốt đẹp trong mọi hoàn cảnh nếu họ thực sự muốn thế, nên đã tìm cách uốn nắn ý chí của kẻ khác bằng đe dọa, phạt tiền, ngục tù, tra tấn, gông cùm, bánh xe hình phạt, rìu chém, giàn hỏa thiêu, cốt để làm họ tốt lên và cứu rỗi họ bất chấp ý chí cứng đầu của chính họ; nếu học thuyết về Chủ nghĩa Tâm linh, với đức tin linh hồn tối thượng, đã gây ra điều đó, thì học thuyết về Chủ nghĩa Quyết định Duy vật lại tạo ra những con người ba phải, tự biện hộ, vô tích sự, bám váy thiên hạ, hôm nay thế này, ngày mai thế khác, và sẵn sàng thành bất cứ thứ gì hay chẳng là gì cả tùy theo nguyên tắc thực dụng. "Hoàn cảnh đã nhào nặn tôi ra thế này," họ kêu lên như thế, và chẳng còn gì để nói nữa; tội nghiệp những chiếc bóng gương soi! họ biết làm sao hơn! Quả thực, ảnh hưởng của một kẻ ba phải như thế hiếm khi vươn xa được như kẻ cuồng tín có nguyên tắc; nhưng cứ ứng với một kẻ cuồng tín, lại có hàng trăm con người dẻo quánh, mềm oặt như bột mì, sẵn sàng nhét vào bất kỳ khuôn bánh nào, những kẻ luôn tìm thấy sự đồng cảm từ luận điệu tự biện hộ của chủ nghĩa quyết định; thế nên cán cân tội lỗi giữa hai học thuyết coi như vẫn cân bằng.

Điều chúng ta cần là một sự đánh giá đúng đắn về sức mạnh và vai trò của Ý niệm. Tôi không nghĩ mình đủ sức đưa ra một sự đánh giá chuẩn xác nhường ấy; tôi cũng không nghĩ bất cứ ai—dẫu là những trí tuệ vĩ đại hơn tôi gấp bội—có thể làm được điều đó trong một tương lai gần. Nhưng ít ra tôi cũng có thể gợi mở nó, chỉ ra sự thiết yếu của nó, và phác họa một cách sơ lược nhất.

Và trước hết, đối với công thức được thừa nhận của Chủ nghĩa Duy vật hiện đại rằng: "Con người ra sao là do hoàn cảnh nhào nặn nên," tôi đưa ra lời tuyên bố đối lập: "Hoàn cảnh ra sao là do con người tạo nên"; và tôi cho rằng cả hai điều này đều đúng cho đến thời điểm mà các thế lực giao tranh được cân bằng, hoặc một bên bị đánh đổ. Nói cách khác, quan niệm của tôi về tâm trí, hay nhân cách, không phải là một hình ảnh phản chiếu bất lực trước tình trạng nhất thời của vật chất và hình hài, mà là một tác nhân cải biến tích cực, tương tác ngược lại với môi trường xung quanh và nhào nặn lại hoàn cảnh, có khi rất lớn, dẫu không thường xuyên, là triệt để.

Khắp vương quốc của sự sống, như tôi đã nói, người ta có thể thấy những ý niệm chủ đạo đang vận hành, miễn là người ta rèn luyện đôi mắt để tìm kiếm và nhận ra chúng. Trong thế giới loài người, đã từng có rất nhiều ý niệm chủ đạo. Tôi không thể hình dung nổi có lúc nào đó, trong bất kỳ thời kỳ nào, sự giãy giụa của thân xác trước lúc lâm chung lại không phải là một nỗi thống khổ tột cùng. Nếu lý luận cho rằng sự bất an về điều kiện sống, sự chờ đợi đau khổ, là những hoàn cảnh khiến cho tâm linh con người trở nên bấn loạn, co rúm, sợ sệt, thì bạn sẽ đáp lại thế nào trước thách thức của vị tù trưởng cổ đại Ragnar Lodbrog, trước khúc ca khải hoàn về cái chết được cất lên, không phải bởi một kẻ ngã xuống trong cơn say trận mạc, mà dưới ngục tù tra tấn chậm rãi, bị rắn độc cắn, vậy mà vẫn cất tiếng hát: "Những nữ thần tử thần đang mời gọi ta rời đi—giờ đây ta dứt khúc ca. Những giờ phút đời ta đã cạn. Ta sẽ mỉm cười khi chết"? Hay ta cũng không thể nói rằng đây là một trường hợp ngoại lệ, không thể giải thích bằng quy luật chung thông thường, bởi vị vua già Lodbrog thuộc dòng Skalder cũng chỉ làm những điều mà tổ tiên, con cháu, bạn bè và kẻ thù của ông đã làm suốt bao thế hệ dài lâu; họ đặt sức mạnh của một ý niệm chủ đạo, ý niệm về cái tôi siêu việt, đối chọi với sức mạnh của sự tra tấn và cái chết, kết thúc cuộc đời theo đúng cách họ muốn, với nụ cười trên môi.

Cách đây vài năm thôi, chẳng phải chúng ta từng đọc được câu chuyện về những người Kaffir bất hạnh, những nạn nhân bị người Anh hành hạ vì sự bất tuân của người Boer, sau khi bị bắt phải tự đào những cái hào mà để giải trí họ sẽ bị bắn chết ở đó, đã đứng thành hàng bên bờ vực, và khi thấy cái chết cận kề, họ đã bắt đầu cất lên những khúc ca khải hoàn hoang dã, mỉm cười ngã xuống hay sao? Hãy thừa nhận rằng sự thách thức ngập tràn kiêu hãnh ấy bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết, từ những tín ngưỡng nguyên thủy về thần linh và thế giới bên kia; nhưng đồng thời cũng hãy thừa nhận rằng nó cho thấy sức mạnh của một ý niệm chủ đạo.

Khắp nơi trong lớp vỏ của những xã hội đã lụi tàn, cũng như trong lớp vỏ của bùn cặn đại dương, chúng ta sẽ thấy sức mạnh của hành động có mục đích, của ý chí bên trong vẫn kiên định bảo vệ mục đích của mình trước những chướng ngại bên ngoài.

Tôi tin rằng không ai trên đời này có thể ngắm nhìn gương mặt kiên nghị, đăm đăm nhìn xa xăm của một bức tượng khắc Ai Cập, hay đọc bản mô tả về các di tích của xứ này, hoặc chiêm ngưỡng lớp đất sét ướp xác của những con người cổ đại đã khuất, mà lại không cảm nhận được rằng ý niệm chủ đạo của con người thời đại ấy là sự trường tồn và khát vọng tạo ra những công trình trường cửu, với sự tĩnh mịch của bầu trời bao la tĩnh lặng phủ lên họ và cái nhìn thăm thẳm của sa mạc hằn sâu trong họ. Người ta buộc phải cảm nhận rằng dù có bất kỳ ý niệm nào khác thổi hồn và biểu hiện trong đời sống của họ đi nữa, thì đây vẫn là ý niệm chủ đạo. Cái gì đã tồn tại thì phải ở lại, bất chấp cái giá phải trả, dẫu có phải san bằng cả những ngọn đồi vĩnh cửu: một ý niệm từng khiến cho kiếp người lầm than bên dưới, sinh ra và nuôi dưỡng trong những cỗ quan tài mang tên giai cấp, phải rên rỉ, oằn oại và cắn xé xiềng xích của mình, cho đến khi thời cơ chín muồi, nó lùi vào dĩ vãng; và giờ đây lớp vỏ granite của nó vẫn mở đôi mắt vô hồn nhìn khắp thế gian, như một ký ức nghiêm nghị cổ xưa về Một-thời-đã-qua.

Tôi nghĩ chẳng ai có thể ngắm nhìn những bức tượng cẩm thạch nơi thiên tài Hy Lạp thổi hồn vào hình hài nhân thế, mà lại không dấy lên một cảm giác loáng thoáng rằng những pho tượng ấy sắp vùng dậy và bay đi; rằng chỉ khoảnh khắc nữa thôi, người ta sẽ bị tấn công bởi những vị anh hùng tay lăm lăm giáo mác, bởi những con rắn sẽ cuộn tròn siết chặt lấy mình; sẽ bị dẫm đạp bởi những bầy ngựa có thể phi nước đại rồi vụt biến; sẽ bị đánh gục bởi những vị thần mang ít tính chất đá đượm trong mình chẳng khác gì một con chuồn chuồn, khoảnh khắc trước còn chao lượn trên đầu chiếc cánh hoa mong manh rung rinh trong gió. Tôi nghĩ không ai có thể ngắm nhìn chúng mà không nhận ra ngay rằng những hình khối ấy bước ra từ dòng xoáy cuồn cuộn của sự sống; chúng tựa như những bọt nước đang dâng trào chực bay lên bầu trời, nhưng bên dưới chúng lại là những bọt nước khác đang trúng lên, rồi những bọt khác, và những bọt khác nữa—chúng cứ thế tiếp diễn chẳng bao giờ cùng. Khi ánh mắt ta dừng lại ở một nhóm tượng, ta có cảm giác rằng phía sau lưng mình, biết đâu đấy, có một dáng hình đang nhón gót nhặt lấy những mũi lao giữa không trung để phóng lên đầu mình; ta cứ phải quay cuồng chuyển hướng để đối mặt với phép màu dường như sắp hiển hiện—đồ đá biết nhảy múa! Và điều đó vẫn diễn ra dẫu cho hầu như pho tượng nào cũng đã sứt mẻ đôi phần vinh quang mà người nghệ sĩ Hy Lạp xưa đã nhọc công kiến tạo; ngay cả những mẩu cụt ngủn của tay chân cũng tràn trề sinh khí. Và ý niệm chủ đạo ở đây chính là Sự Vận Động, cùng vẻ đẹp và sức mạnh của nó. Sự Thay Đổi, chớp nhoáng, quay cuồng không dứt! Sự tạo tác nên muôn điều rồi vứt bỏ chúng đi, hệt như những đứa trẻ vứt bỏ món đồ chơi, chẳng màng chúng có bền lâu hay không, miễn là bản thân chúng được trải nghiệm sự vận động không ngừng nghỉ. Đầy ắp quyền năng sáng tạo, có hề gì nếu sinh thể ấy lụi tàn. Cứ thế, một dòng người bất tận với những hình hài biến ảo liên tục xuất hiện trong các trường phái, triết lý, kịch nghệ, thơ ca của họ, cho đến tận khi nó tự kiệt quệ đến chết. Và kỳ quan ấy đã trôi vào quên lãng. Thế nhưng những khối cẩm thạch của họ vẫn trường tồn để minh chứng cho thứ tư tưởng nào đã thống trị họ.

Và nếu ta muốn biết chủ thuyết chủ đạo nào đã chi phối cuộc sống con người khi thời kỳ Trung cổ đã chín muồi, người ta chỉ cần vào một ngày đẹp trời lang thang vào một ngôi làng nước Anh cổ kính, ẩn khuất nào đó, nơi một tòa nhà thờ có tháp chuông uy nghi vẫn sừng sững đứng giữa những ngôi nhà tranh vách đất nhỏ bé, tựa như một con gà mái mẹ đang xù lông ấp ủ xung quanh là bầy gà con. Khắp nơi là sự tôn vinh Thiên Chúa vĩ đại và sự nhỏ bé của con người: nhà thờ thì sừng sững hiên ngang, nhà cửa thì bé xíu khiêm nhường. Cuộc hành trình tìm kiếm cõi tâm linh, tìm kiếm những giá trị trường tồn (không phải thứ độ bền nghèo nàn của đá granite rồi cũng sẽ vụn vỡ qua năm tháng, mà là sự vĩnh hằng), sự vĩnh hằng—và niềm khinh bỉ cái thân xác phàm trù mau tàn lụi, biểu hiện qua lối sống cố tình nhếch nhác, qua những hình phạt đọa đày thể xác, tựa như thể tâm hồn đang khinh bỉ phun nước bọt vào nó.

Đó chính là ý niệm chủ đạo của thời trung cổ vốn đã bị những kẻ theo chủ nghĩa hiện đại nguyền rủa quá nhiều. Bởi những con người đã xây nên các lâu đài và thánh đường ấy là những con người của những công trình vĩ đại, dẫu họ chẳng viết sách vở gì, và dẫu tâm hồn họ có giương những đôi cánh què quặt, chính bởi những nỗ lực vươn quá cao của họ. Tinh thần tự nguyện phục tùng để hoàn thành một công trình vĩ đại, điều minh chứng cho khát vọng của tâm hồn chung—đó chính là tinh thần được khắc tạc vào từng hòn đá thánh đường; và điều đó hoàn toàn không đáng bị lên án.

Trong một giấc mơ màng tỉnh, khi những hình bóng mờ ảo của các ý niệm thời đại trôi bồng bềnh trước mắt, người ta nhìn thấy Tâm hồn Trung cổ là một thực thể méo mó kỳ dị, nửa hình thù, với đôi cánh rồng và một gương mặt lớn, tối tăm, căng thẳng, hướng về phía mặt trời bằng đôi mắt mù lòa.

Nếu giờ đây chúng ta nhìn quanh để xem ý niệm nào đang chi phối nền văn minh của chính mình, tôi không chắc rằng nó còn hấp dẫn hơn cả con quái vật đáng thương từ thời tăm tối ấy. Tương quan sự vật đã đổi thay: Con người đã vươn lên và Chúa trời đã hạ xuống. Ngôi làng hiện đại có những ngôi nhà đẹp hơn và những nhà thờ ít kiêu phúng hơn. Đồng thời, quan niệm coi bụi bẩn và bệnh tật là những hoạn nạn đáng cầu mong, mà sự kiên nhẫn chịu đựng chúng là lễ vật thích đáng để giành lấy sự ân xá của Chúa, đã nhường chỗ cho việc tuyên truyền mạnh mẽ về sự sạch sẽ. Chúng ta có các y tá trường học thông báo cho phụ huynh rằng "bệnh chấy rận đầu" (pediculosis capitis) là một căn bệnh rất dễ lây lan và khó chịu; chúng ta có các hiệp hội ung thư đi thu thập những khối u ác tính bám lấy những kẻ bần hàn, và cẩn trọng thử nghiệm với hy vọng quét sạch chúng ra khỏi giống nòi nhân loại; chúng ta có các hội bệnh lao đang nỗ lực thực hiện công việc nặng nhọc như dọn dẹp chuồng ngựa Augean trong các nhà máy hiện đại khỏi loại trực khuẩn chết người, và họ đã tiến xa đến mức đặt những chiếc ống nhổ có đựng nước trong một số nhà máy; cùng nhiều, nhiều, và rất nhiều nỗ lực khác nữa, dẫu chưa đạt thành công vang dội trong những mục tiêu đã tuyên bố, nhưng chừng đó cũng đủ là bằng chứng cho thấy nhân loại không còn tìm kiếm sự dơ bẩn như một phương thế cầu ơn phước. Chúng ta cười nhạo những mê tín cổ xưa ấy, và lớn tiếng bàn về kiến thức thực nghiệm chính xác. Chúng ta tìm cách hồi sinh cái xác chết Hy Lạp, và giả vờ như mình đang tận hưởng thể dục thể thao. Chúng ta mày mò đủ thứ; nhưng ý niệm lớn lao thực sự duy nhất của thời đại chúng ta, không sao chép từ bất kỳ đâu, không giả tạo, không được triệu hồi bằng bất kỳ phép thuật nào, chính là Sự Sản Xuất Vô Số Thứ Đồ Vật—không phải tạo ra những thứ đẹp đẽ, không phải niềm vui dốc cạn năng lượng sống vào công việc sáng tạo; mà đúng hơn là sự thúc đẩy trơ trẽn, tàn nhẫn, vắt kiệt và rút cạn từng giọt năng lượng cuối cùng, chỉ để sản xuất ra những đống đồ vật chất chồng—những thứ xù xì, những thứ có hại, những thứ vô dụng, và xét cho cùng phần lớn là chẳng cần thiết chút nào. Chúng được sản xuất ra để làm gì? Phần lớn kẻ sản xuất chẳng biết; và hắn lại càng chẳng màng. Nhưng hắn bị ám ảnh bởi ý niệm rằng mình phải làm thế, ai ai cũng đang làm thế, và năm này qua năm khác việc chế tạo đồ đạc cứ thế tiếp diễn ngày một nhanh hơn; những dãy núi đồ vật đã và đang được làm ra, vậy mà con người vẫn cuồng cuộn tìm kiếm cách gia tăng danh mục những thứ được tạo ra, lập nên những đống mới và bồi đắp cho những đống cũ. Và với biết bao đớn đau thể xác, dưới biết bao áp lực căng thẳng của hiểm nguy và nỗi sợ hiểm nguy, với biết bao thương tật, tàn phế và què quặt, họ cứ thế vật lộn tiến bước, lao đầu vào những mỏm đá của cải giàu sang ấy! Quả thực, nếu tầm nhìn về Tâm hồn Trung cổ gây đau đớn bởi ánh nhìn trừng trừng mù lòa và sự nỗ lực đáng thương, kỳ quặc bởi những cực hình vô nghĩa, thì Tâm hồn của Người hiện đại lại gây choáng váng nhất với đôi mắt bồn chồn, căng thẳng, luôn sục sạo khắp các ngóc ngách của vũ trụ, đôi bàn tay bồn chồn, căng thẳng luôn với lấy và vồ vập thứ lao động vô ích nào đó.

Và chắc chắn sự hiện diện của của cải ê chề, những thứ trống rỗng, dung tục và ngớ ngẩn, bên cạnh những thứ tiện lợi và hữu ích, đã sinh ra lòng thèm khát sở hữu đồ đạc, sự đề cao thái quá việc sở hữu của cải. Hãy bước qua con phố kinh doanh của bất kỳ thành phố nào, nơi những rìa nhô lên của các tầng lớp của cải phơi bày ra trước mắt, và nhìn vào gương mặt của những con người qua lại—không phải những kẻ đói kém, rách rưới đứng ven đường thảm thiết xin bố thí, mà là đám đông ngoài kia—để thấy ý niệm nào đang hằn trên nét mặt họ. Trên mặt những người phụ nữ, từ các quý bà trong hội chợ ngựa cho đến mấy cô nhân viên cửa hiệu vừa thoát khỏi nhà máy, là một sự kiêu kỳ đến phát nôn, một ý thức tự mãn về xiêm y, chẳng khác gì loài quạ khoác lên mình bộ lông mượn. Hãy tìm kiếm niềm kiêu hãnh và vinh quang của một thân hình tự do, khỏe mạnh, đẹp đẽ, uyển chuyển và đầy uy lực. Bạn sẽ chẳng thấy đâu. Bạn sẽ chỉ thấy những bước đi uốn éo, thân hình ngả ngớn để khoe đường cắt của tà váy, những gương mặt làm duyên làm dáng, đôi mắt liếc ngang liếc dọc tìm kiếm sự trầm trồ cho chiếc nơ ruy băng khổng lồ trên mái tóc được trang điểm quá đà. Theo lời châm biếm của một người quen, người mà tôi từng nói khi chúng ta cùng bước đi: "Hãy nhìn lượng vanity (sự kiêu kỳ) trên gương mặt của tất cả những người phụ nữ kìa," anh ấy đáp: "Không: hãy nhìn một chút xíu nữ tính hiếm hoi còn lấp ló giữa đống phù phiếm đó kìa!"

Còn trên gương mặt những người đàn ông là sự thô tục! Những ham muốn thô thiển cho những thứ thô thiển, và phải thật nhiều: dấu ấn ấy hằn sâu không lẫn vào đâu được khiến "kẻ lữ hành dẫu có là kẻ ngốc cũng chẳng thể đi lạc đường." Thậm chí sự lo lắng và bất an kinh khủng sinh ra từ việc tạo ra tất cả những thứ này còn đỡ chướng tai gai mắt hơn cái biểu hiện gớm ghiếc của lòng tham lam đối với những món đồ đã được tạo ra.

Đó chính là ý niệm chủ đạo của thế giới phương Tây, ít nhất là trong những ngày tháng này của chúng ta. Bạn có thể nhìn thấy nó ở bất cứ đâu mình hướng mắt tới, in hằn rõ rệt lên vạn vật và con người; rất có thể, nếu bạn soi gương, bạn sẽ thấy nó ở đó. Và nếu một nhà khảo cổ học nào đó của tương lai xa xôi một ngày kia khai quật những bộ xương của nền văn minh chúng ta, nơi tro tàn hoặc hồng thủy đã chôn vùi nó, ông ta sẽ nhìn thấy ý niệm đáng sợ này được đóng ấn trên những bức tường nhà máy mà ông ta sẽ khai quật, với những hàng lỗ ánh sáng vuông vức, với hàng tấn thép có răng cưa nhe răng cười nhạo ra từ hộp sọ của đời sống chúng ta; những hecta lụa là nhung gấm, những dặm vuông hàng mã và vải vụn cẩm thạch. Chẳng có những bức tượng cẩm thạch huy hoàng về các nàng tiên suối và thần đồng quê, những hình hài đã chết ấy dù sao vẫn vô cùng ngọt ngào đến mức người ta vẫn muốn đặt nụ hôn lên đó; chẳng có những dáng hình uy nghi của những cỗ xe ngựa có cánh, mang gương mặt người và vuốt sư tử phóng cõi biểu tượng khổng lồ của mình thành một bùa chú hùng hồn vượt thời gian, như cách những pho tượng nhân sư bằng đá cổ xưa ở Babylon vẫn đang làm; mà thay vào đó là những gã khổng lồ bằng sắt vô nghĩa, gồm bánh xe và răng cưa, thứ bí mật đã bị lãng quên nhưng có công việc là nghiền nát con người, rồi khạc nhổ họ ra thành những nhà đầy ắp vải vóc dệt sẵn, những khu chợ trời rác rưởi để những kẻ khác lội qua. Những bức tượng mà ông ta tìm thấy sẽ chẳng mang chút dấu vết của giấc mơ thần thoại hay biểu tượng huyền bí nào cả; chúng sẽ là tượng của các nhà tư bản thương mại, chủ lò luyện kim và lính dân vệ, mặc áo khoác may đo, quần tây cùng mũ nón và giày dép chỉnh tề.

Nhưng ý niệm chủ đạo của thời đại và vùng đất ấy không có nghĩa là ý niệm chủ đạo của bất kỳ cuộc đời đơn lẻ nào. Tôi đoan chắc rằng trong những ngày tháng xa xôi ấy, bên bờ sông Nile tĩnh lặng, dưới bóng r่ม trường tồn của các Kim Tự Tháp, dưới gánh nặng ghẻ lạnh của sự đờ đẫn từ những kẻ khác, vẫn có những tâm hồn bất khuất, sục sội, nổi loạn đi lại, những kẻ căm ghét mọi thứ mà xã hội cổ đại đại diện, và với trái tim rực cháy tìm cách lật đổ nó.

Tôi chắc chắn rằng giữa muôn vàn điều mà trí tuệ Hy Lạp linh hoạt đã tạo ra, vẫn có những kẻ cắm cúi bước đi với đôi mắt trĩu nặng nhìn xuống, chẳng màng đến tất cả những thứ ấy, tìm kiếm một sự mặc khải cao cả hơn, sẵn sàng từ bỏ những niềm vui cuộc sống để được đến gần hơn với một sự hoàn mỹ xa xôi, vô danh nào đó mà những người đồng thời với họ chẳng thể hay biết. Tôi chắc chắn rằng trong thời kỳ tăm tối, khi phần lớn mọi người cầu nguyện, co ro sợ hãi, tự đánh đập, bầm dập thân xác và tìm kiếm hoạn nạn, giống như vị thánh Teresa từng nói: "Hãy để tôi được chịu khổ, hoặc là chết," vẫn có một số người, thậm chí rất nhiều người, coi thế giới này như một trò đùa ngẫu nhiên, khinh bỉ hoặc thương hại những người đồng loại u mê của họ, và tìm cách ép những câu trả lời từ vũ trụ cho những thắc mắc của mình, bằng sự tìm tòi kiên nhẫn, lặng lẽ vốn sau này trở thành Khoa học Hiện đại. Tôi chắc chắn rằng có hàng trăm, hàng ngàn con người như thế, mà chúng ta chưa từng nghe tên.

Và giờ đây, ngày nay, dẫu Xã hội quanh ta đang bị thống trị bởi Chủ nghĩa Sùng bái Đồ vật, và sẽ mãi mang dấu ấn đó qua muôn đời, thì đó cũng chẳng phải là lý do để bất kỳ tâm hồn đơn độc nào cũng phải hùa theo. Bởi vì việc duy nhất dường như đáng làm đối với người hàng xóm của tôi, với tất cả những người hàng xóm của tôi, là theo đuổi đồng đô la, điều đó không có nghĩa là tôi cũng phải đi theo đuổi đô la. Bởi vì những người hàng xóm của tôi nghĩ rằng họ cần một đống thảm lót sàn, đồ đạc, đồng hồ, đồ sứ, thủy tinh, thảm thêu, gương soi, quần áo, trang sức—và người hầu để chăm sóc chúng, thám tử để canh chừng người hầu, thẩm phán để xét xử kẻ trộm, chính trị gia để bổ nhiệm thẩm phán, nhà tù để trừng phạt kẻ phạm tội, quản giáo để canh gác trong tù, nhân viên thu thuế để gom tiền nuôi quản giáo, phí tổn cho nhân viên thu thuế, và những ngôi nhà kiên cố để giữ tiền phí sao cho chẳng ai ngoài những kẻ canh giữ có thể cuỗm đi được—và do đó, để nuôi dưỡng cái lũ ăn bám này, họ cần những người khác làm việc cho họ và kiếm ra tiền phí; bởi vì những người hàng xóm của tôi muốn tất cả những thứ đó, lẽ nào tôi lại phải cống hiến đời mình cho một sự ngu ngốc cằn cỗi nhường ấy? Rồi cúi đầu phục dịch để duy trì cái vỏ bọc hào nhoáng đó?

Lẽ nào chúng ta, chỉ vì thời Trung cổ tăm tối, mù quáng và tàn bạo, lại vứt bỏ đi một điều tốt đẹp duy nhất mà nó đã đan cài vào thớ thịt của con người, rằng phần bên trong của một con người có giá trị hơn phần bên ngoài? Rằng việc hình dung ra một điều cao cả hơn bản thân mình và sống hướng về điều đó là con đường duy nhất để sống một cách xứng đáng? Mục tiêu vươn tới nên, và bắt buộc phải là, một điều hoàn toàn khác biệt so với thứ đã dẫn dắt những kẻ cuồng tín thời trung cổ khinh miệt thân xác và tra tấn nó bằng những hình phạt đóng đinh hằng ngày. Nhưng người ta có thể thừa nhận những nhu cầu và tầm quan trọng của thể xác mà không vì thế mà hy sinh chân lý, danh dự, sự giản dị và niềm tin cho những món đồ trang sức dung tục của việc phục vụ thể xác, thứ trang hoàng vốn dĩ chỉ làm bôi nhọ chính những gì mà nó tưởng chừng tôn vinh.

Tôi đã nói từ trước rằng học thuyết cho rằng con người chẳng là gì cả còn hoàn cảnh quyết định tất cả, đã và đang là lời nguyền rủa của các phong trào cải cách xã hội hiện đại của chúng ta.

Tuổi trẻ của chúng ta, những người tự bản thân được thôi thúc bởi tinh thần của những bậc thầy xưa, những người từng tin vào uy quyền tối thượng của các ý niệm, ngay trong khoảnh khắc vứt bỏ giáo lý ấy, vẫn nhìn về phía Đông xã hội bằng đôi mắt rực lửa và tin rằng những điều kỳ diệu của cuộc cách mạng sắp được hoàn thành. Trong niềm nhiệt huyết của mình, họ diễn giải phúc âm về Hoàn cảnh theo nghĩa là rất sớm thôi, áp lực phát triển vật chất sẽ phá vỡ hệ thống xã hội—họ cho rằng cái thây ma thối rữa ấy chỉ trụ được vài năm nữa thôi; và rồi, chính họ sẽ là nhân chứng cho sự biến hóa ấy, được hòa mình vào niềm vui của nó. Vài năm trôi qua và chẳng có chuyện gì xảy ra cả; sự nhiệt huyết nguội lạnh. Hãy nhìn xem những nhà lý tưởng chủ nghĩa ấy khi ấy ra sao: những doanh nhân thành đạt, chuyên gia, chủ sở hữu tài sản, kẻ cho vay nặng lãi, đang luồn lách vào những tầng lớp xã hội mà họ từng khinh bỉ, một cách thảm hại, đáng khinh bỉ bên gấu váy của một nhân vật túng quẫn nào đó mà họ từng cho vay tiền, hoặc từng làm dịch vụ chuyên nghiệp miễn phí; hãy nhìn họ nói dối, lừa gạt, chơi xỏ, nịnh hót, mua bán chính mình vì bất kỳ thứ phù phiếm nào, bất kỳ món tiền còm cõi giả tạo nào. Ý niệm Chủ Đạo của Xã hội đã tóm lấy họ, cuộc đời họ bị nuốt chửng trong đó; và khi bạn gặng hỏi lý do vì sao, họ bảo rằng Hoàn cảnh đã buộc họ phải làm thế. Nếu bạn trích dẫn những lời nói dối của chính họ cho họ nghe, họ sẽ mỉm cười với vẻ tự mãn bình thản, đảm bảo với bạn rằng khi Hoàn cảnh đòi hỏi những lời nói dối, thì nói dối tốt hơn nhiều so với nói thật; rằng những mưu mẹo đôi khi hiệu quả hơn sự trung thực; rằng nịnh hót và lừa bịp chẳng có gì là quan trọng, miễn là mục đích cần đạt được là đáng mong muốn; và rằng dưới những "Hoàn cảnh" hiện tại, cuộc sống không thể tồn tại thiếu những thứ đó; rằng nó sẽ trở nên khả thi bất cứ khi nào Hoàn cảnh làm cho việc nói thật trở dễ dàng hơn nói dối, nhưng cho đến lúc đó thì con người phải tự lo lấy thân bằng mọi giá. Và cứ thế cái ung nhọt ấy tiếp tục gặm nhấm thớ thịt đạo đức, và con người trở thành một khối nhão nhoét, một cục bột, một mảng chất nhầy trơn tuột, mang đủ mọi hình hài và đánh mất mọi hình hài, tùy thuộc vào cái xó xỉnh hay góc khuất nào mà hắn muốn trườn vào, một hiện thân ghê tởm của sự phá sản đạo đức do Chủ nghĩa Sùng bái Đồ vật sinh ra.

Giá như hắn bị chi phối bởi một quan niệm ít mang tính vật chất hơn về cuộc đời, giá như ý chí của hắn không bị thối rữa bởi những lập luận trí tuệ bóp nghẹt sự tồn tại của nó, bởi sự chấp nhận cái sự hư vô của chính mình, thì những khát vọng vị tha trong những năm tháng tuổi trẻ của hắn đã lớn lên và mạnh mẽ hơn nhờ rèn luyện và thói quen; và lời kháng thư của hắn chống lại thời đại hẳn đã được ghi tạc một cách trường tồn, và mang lại ý nghĩa thiết thực nào đó.

Liệu người ta có nói rằng những người hành hương thuộc nhóm Pilgrim fathers đã không đục đẽo từ băng giá và đá granite của xứ New England cái ý niệm đã tụ họp họ lại từ những ngôi làng nước England tối tăm, tản mác, và thúc đẩy họ trên những con thuyền mỏng manh vượt Đại Tây Dương vào giữa mùa đông để xẻ lối chống lại mọi thế lực thù địch? Chẳng phải họ cũng là những con người bình thường, chịu sự chi phối của quy luật thông thường đó sao? Liệu người ta có nói rằng Hoàn cảnh đã giúp đỡ họ không? Khi cái chết, bệnh tật, đói khát và giá lạnh đã làm những điều tồi tệ nhất, chẳng có lấy một kẻ trong số họ còn sống sót chịu dùng một lời nói dối dễ dãi để quay về với sự thoải mái vật chất và viễn cảnh sống trường thọ.

Giá như những nhà cách mạng xã hội hiện đại của chúng ta có được quan niệm mạnh mẽ và bất khuất về năng lực của chính mình như những người xưa, thì các phong trào xã hội của chúng ta đã chẳng trở thành những sản phẩm quái thai đáng thương đến thế—mục ruỗng từ trong trứng nước trước cả khi những vết bẩn bên ngoài kịp xuất hiện.

"Hãy giao cho một thủ lĩnh công hội một chiếc ghế chính trị, và thế hệ ấy sẽ trở nên hoàn hảo," những kẻ thù của chúng ta cười nhạo; và họ chỉ tay chế giễu Terence Powderly cùng những kẻ giống ông ta; họ trích dẫn John Burns, kẻ ngay khi bước vào Nghị viện đã lớn tiếng tuyên bố: "Thời của nhà vận động đã qua; thời của nhà lập pháp đã đến." "Hãy để một kẻ vô chính phủ cưới một nữ thừa kế, và đất nước sẽ an toàn," họ mỉa mai:—và họ có quyền mỉa mai chứ. Nhưng liệu họ có quyền đó không, liệu họ có thể có được nó nếu như ngay từ đầu cuộc đời chúng ta không bị chi phối bởi những ham muốn bức thiết hơn những thứ mà chúng ta vẫn muốn người khác tưởng lầm là điều mình trân quý nhất?

Đó vẫn là câu chuyện muôn thuở: "Hãy nhắm tới các vì sao, biết đâu bạn sẽ bắn trúng đỉnh cột cổng; nhưng nếu nhắm xuống đất, bạn sẽ chỉ bắn trúng mặt đất."

Chẳng thể cho rằng bất kỳ ai cũng sẽ đạt được sự trọn vẹn của những gì họ mưu cầu, ngay cả khi những mưu cầu ấy không vướng bận hành động chung với kẻ khác; họ sẽ hụt bước; họ sẽ ít nhiều bị khuất phục bởi sự chống đối tranh chấp hoặc sức ỳ xung quanh. Nhưng họ sẽ đạt được thứ gì đó, nếu họ tiếp tục nhắm đến những mục tiêu cao cả.

Vậy thì, bạn hỏi, tôi muốn điều gì? Tôi muốn con người tự trang bị cho mình phẩm giá của một mục tiêu cao cả hơn cuộc săn lùng tiền tài; hãy chọn lấy một việc để làm trong đời ngoài việc chế tạo đồ đạc, và hãy khắc cốt ghi tâm điều đó—không chỉ trong một ngày, hay một năm, mà là trọn một đời người. Và rồi hãy giữ trọn lời hứa với chính mình! Đừng trở thành kẻ cả thèm chóng chán, hôm nay tuyên bố thế này ngày mai lại thế khác, và sẵn sàng tự gạt bỏ cả hai bất cứ khi nào thấy tiện lợi; đừng hôm nay ủng hộ điều này, ngày mai lại đi nịnh bợ tay áo kẻ thù, với cái giọng èo uột, hèn nhát nơi cửa miệng: "Hoàn cảnh xui khiến tôi." Hãy nhìn thẳng vào sâu thẳm tâm can mình, và nếu bạn yêu Mồ hôi Đồ vật, sức mạnh và sự sung túc của Đồ vật hơn cả phẩm giá của chính mình, phẩm giá con người, Ồ, hãy thừa nhận đi, hãy nói ra điều đó! Hãy nói với chính mình, và sống đúng với nó. Nhưng đừng có vừa thổi vừa húp trong một hơi thở. Đừng cố vừa làm nhà cải cách xã hội vừa là một kẻ sở hữu Đồ vật đáng kính cùng lúc. Đừng rao giảng con đường hẹp thẳng tắp trong khi lại tung tăng bước đi trên con đường thênh thang rộng mở. Hãy rao giảng con đường rộng, hoặc đừng rao giảng gì cả; nhưng đừng tự lừa dối bản thân bằng cách nói rằng bạn rất muốn góp phần mở ra một xã hội tự do, nhưng bạn lại chẳng thể hy sinh nổi một chiếc ghế bành vì nó. Hãy thành thật thốt lên rằng: "Tôi yêu những chiếc ghế bành hơn những con người tự do, và tôi theo đuổi chúng vì tôi thích thế; chứ không phải vì hoàn cảnh xui khiến. Tôi yêu những chiếc mũ, những chiếc mũ thật lớn, với vô vàn lông vũ và những chiếc nơ kềnh càng; và tôi thà nhận những chiếc mũ ấy còn hơn bận tâm đến những giấc mơ xã hội chẳng bao giờ thành hiện thực trong đời tôi. Thế giới sùng bái mũ nón, và tôi cũng muốn được sùng bái cùng họ."

Nhưng nếu bạn chọn sự tự do, niềm kiêu hãnh và sức mạnh của một tâm hồn đơn độc, cùng tình anh em tự do giữa người với người, làm mục đích để cuộc đời bạn tỏ rạng, thì chớ có đem bán nó vì mấy thứ phù phiếm lấp lánh. Hãy tin rằng tâm hồn bạn rất mạnh mẽ và sẽ hiên ngang đi đến cùng con đường của nó; và rồi chậm rãi, dẫu có lẽ phải trải qua cuộc đấu tranh cay đắng, sức mạnh ấy sẽ lớn dần lên. Và việc từ bỏ những của cải vật chất mà người khác sẵn sàng đánh đổi cả khả năng tự do cuối cùng của họ để lấy, sẽ trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.

Đến cuối cuộc đời, bạn có thể nhắm mắt lại và thốt lên rằng: "Ta chưa từng bị chi phối bởi Ý niệm Chủ Đạo của Thời đại mình; ta đã chọn lấy lẽ sống của riêng ta, và phụng sự nó. Ta đã chứng minh bằng cả một đời người rằng trong con người luôn tồn tại một sức mạnh cứu rỗi ta khỏi ách bạo tàn tuyệt đối của Hoàn cảnh, một thứ cuối cùng sẽ chinh phục và nhào nặn lại Hoàn cảnh—đó là ngọn lửa bất tử của Ý chí Cá nhân, chính là sự cứu rỗi cho Tương lai."

Mong sao chúng ta có được những Con người, những Con người dám thốt lên một lời với tâm hồn mình và giữ lấy nó—giữ lấy không phải lúc thuận buồm xuôi gió, mà là giữ lấy khi gian khó ngập tràn—giữ lấy khi giông bão gầm thét, bầu trời đan xen những vệt trắng cùng sấm sét xanh rờn trước mặt, khi mắt quáng tai ù trước cuộc chiến của vạn vật đảo điên; và vẫn giữ lấy nó dưới vòm trời xám xịt kéo dài lê thê với nỗi buồn hiu hắt chẳng bao giờ dứt. Hãy bám lấy cho đến tận cùng: đó chính là ý nghĩa của việc sở hữu một Ý niệm Chủ Đạo, khi mà chính ý niệm ấy đã được hun đúc bởi một khối óc toàn vẹn để lật đổ và nhào nặn lại Hoàn cảnh.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.