Ai cũng biết mình phải làm gì.
Nếu ta phối hợp tốt mọi người, kế hoạch đó có thể thực hiện được. Azim tổng hợp lại một lần nữa để chắc chắn mình không bỏ qua chi tiết nào.
Các tình nguyện viên sẽ vào vị trí trong chưa đầy một giờ nữa. Nguyên một ngày đi ngang dọc El-Gamaliya của anh thực không uổng phí. Ông già nghiện ngập đã lập tức đồng ý, mặc dù vẫn sợ. Người bán hàng nhượng bộ ngay khi Azim nhắc ông ta rằng việc này là để cứu bọn trẻ. Hai người họ còn lập tức tìm thêm những người tình nguyện khác. Họ tìm được phân nửa số đàn ông cần thiết trong số người nhà của các nạn nhân. Nửa còn lại được tập hợp trước khi chiều xuống, vào giờ Maghrib[1]
Ý tưởng của Azim nói tóm lại rất đơn giản, và dựa cả vào khả năng rải quân trong khu phố lẫn may mắn. Ghûl từng bị bắt gặp bốn lần, ở khoảng cách gần, lần nào cũng trong khu El-Gamaliya. Azim hy vọng với những người đàn ông được bố trí trên mái nhà tại các vị trí chiến lược, nếu phải đi qua khu phố, ghûl sẽ không thể không bị bắt gặp. Để làm được điều đó cần phải bao vây trên diện rộng gồm nhiều hẻm nhỏ và những khu nhà hỗn độn. Với sự giúp đỡ của ông già, người bán quần áo và các nhân chứng còn lại, Azim đã lôi kéo và khuyến khích được cỡ ba chục người rình phục. Từng người một được phân lên sân thượng của mỗi khu nhà và phải tuân thủ nghiêm luật không được di chuyển vì bất cứ lý do gì. Sự tham gia của một thầy cả khiến những kẻ cợt nhả im miệng và đảm bảo cho Azim rằng họ sẽ tôn trọng cam kết của mình, vì e sợ về mặt tôn giáo nhiều hơn vì tinh thần trách nhiệm. Thầy cả tham gia cùng họ bởi có người rỉ tai ông về việc đang được chuẩn bị. Người ta đồn rằng một con ghûl đang hoành hành, rằng người ta sẽ tìm ra nó ngay trong đêm. ‘Nếu một tín đồ gặp phải nó thì anh ta sẽ làm gì?’ thầy cả kêu lên rồi yêu cầu được dẫn đến gặp những người tình nguyện. Chỉ duy nhất những lời cầu nguyện thánh Allah là có thể đuổi con quái vật, ông khẳng định trước toàn thể những ánh mắt kính cẩn. Nếu có một sinh vật như vậy đang đi lại trên các con phố của họ, thì đuổi nó đi là việc của ông.
Dù mang phù hiệu cảnh sát, Azim biết mình chẳng có ý nghĩa gì khi đối diện thầy cả, anh chỉ nói là nếu con ghûl bị phát hiện, anh sẽ là người đến tận nơi để chắc chắn rằng đó là một con quái vật và như vậy thì chỉ có thầy cả là người có thể loại bỏ nó. Nếu đó là một tên tội phạm bằng xương bằng thịt thì cảnh sát sẽ lo liệu và bắt hắn.
Azim biết mình quá mạo hiểm. Nếu họ thật sự bắt được tên tội phạm, anh sẽ phải hành động thật nhanh lẹ và khôn khéo. Đám đàn ông này chẳng ngại ngần gì mà không tự tay thi hành án, bỏ qua cả tòa án lẫn xét xử. Thật ra thì anh hy vọng bắt được gì? Một con người hay một con… ghûl? Sở dĩ anh đi đến nước này là vì hai người làm chứng kiên quyết khẳng định rằng thứ họ bắt gặp không phải là người. Azim không biết nên nghĩ gì. Tất cả đều thiên về giả thiết mang tính huyền thoại… Tuy nhiên, cỗ xe lu của nền giáo dục phương Tây và những niềm tin lý tính đã ăn sâu vào nếp nghĩ của anh, từ khi học trường cảnh sát. Anh không thể chối cãi rằng sâu thẳm tâm can, anh tin phía sau thảm kịch là một lời giải thích hèn hạ thuộc về con người.
Mặt trời lặn trong lúc mọi người chuẩn bị vài món đồ ăn và một cái chăn để chống chọi với đêm dài đang chờ đợi phía trước tản về vị trí quan sát của mình. Một người bán văn phòng phẩm ở Khan el-Khalili[2], có cháu nằm trong số những người tình nguyện, chấp nhận cho tất cả những người canh gác mượn đèn để dùng làm tín hiệu. Ai nhìn thấy một hình thù đội mũ trùm đầu đi lại khác thường người đó được lệnh phải thắp đèn ngay lập tức và huơ nó về hướng điểm quan sát cao nhất, nơi Azim trấn giữ.
Đêm tràn xuống các con hẻm. Các cánh cửa chớp lần lượt đóng lại, trong khi những ngọn đèn đường hiếm hoi chiếu sáng phố xá dần được thắp lên. Sức nóng giảm dần, cùng với đó là hàng trăm mùi hương bồng bềnh khắp El-Gamaliya dồn ngược về phía các quán hàng đóng kín, các chuồng bò và tầng áp mái bình yên trở lại. Những câu chuyện, những cuộc tán gẫu, tiếng hò hét và cãi cọ chìm vào sau những bức tường cổ.
Những ngôi sao bắt đầu lấm tấm mọc trên trần nhà của thế giới, ngày càng nhiều. Azim im lặng ngắm nhìn chúng. Như thể trái đất chỉ còn là một tòa nhà và bầu trời là một tòa nhà khác, anh nghĩ, hai vị hàng xóm trong vũ trụ gửi ánh sáng cho nhau, ánh sáng của những gia đình đang quan sát nhau nhưng không nhìn thấy nhau, hàng triệu cuộc sống ở cách nhau hàng triệu ki lô mét.
Bóng hình các tháp Hồi giáo như chao đảo trên nền nổi của vũ trụ. Phía xa, các thầy báo giờ kinh đang lên tiếng gọi cầu nguyện.
Nhiều giờ trôi qua.
* * *
Héliopolis, thành phố bằng phẳng, thành phố của những cây cột với những vòm cung hình móng ngựa và vòm trang trí hình ngoặc nhọn, thành phố với những con phố rộng rãi và sạch sẽ được xây theo phong cách Hồi giáo hợp mốt.
Jeremy xuống tàu điện đối diện quảng trường Héliopolis rồi từ đó đi bộ thêm một đoạn để đến biệt thự Keoraz nằm ngay cạnh sân gôn. Một bức tường bao cao ba mét bảo vệ chốn tôn nghiêm của nhà triệu phú. Con người này ưa riêng tư và yên tĩnh.
Một nơi để tránh những cái nhìn tò mò, bảo vệ những hoạt động đen tối của ông ta… Jeremy rung cái chuông nhỏ trước hàng lưới thép, người gác cổng nhanh chóng xuất hiện và đưa anh vào ngay khi biết anh là ai.
Tòa biệt thự theo lối kiến trúc La Mã được xây trên đỉnh một ngọn đồi nhân tạo nhỏ, ta vào đó qua một lối đi rải sỏi kêu lạo xạo giữa một biển cỏ được chăm sóc hoàn hảo. Lên đến trên cao, Jeremy dừng lại vì sững sờ. Hai mươi mét cuối cùng chạy trên một mặt nền lát đá hoa cương màu đen, hai bên sườn trồng sung Ai Cập mạ bạc và vàng, cùng hai bể nước rất dài đổ đầy thủy ngân phản chiếu dải Ngân hà cực kỳ rõ nét. Những ngọn nến được thắp cách nhau năm bước chân để làm nổi rõ vẻ hào nhoáng của hàng hiên. Bên cạnh đám lá làm bằng bạc và vàng là những chiếc chuông cùng chất liệu treo lủng lẳng trên cành, nhạy đến mức rung rinh theo cả bước chân các khách mời.
Jeremy nhón chân đi qua cảnh trí phi thường đó, ngạc nhiên trước vẻ nhịp nhàng của bước chân mình trên sàn. Người gác cổng vẫn đi trước anh, làm đám lá kim loại rít lên khi ông ta bước qua.
Keoraz xuất hiện cuối đường, đi ra từ tiền sảnh và đứng đợi giữa hai hàng cột trên bậc tam cấp.
“Anh Matheson! Anh thấy khu vườn nhỏ theo kiểu Lưỡng Hà của tôi thế nào?”
“Sạch sẽ.”
Keoraz, hẳn đang mong đợi những lời nhận xét choáng ngợp theo thói thường, sững lại một giây.
“Và rất rực rỡ,” Jeremy nói thêm.
“Tôi phải thú nhận mình không phải tác giả… Tôi cho xây theo mẫu khu vườn của Khumarawayh, một thủ lĩnh Hồi giáo vào triều đại Tulun, anh biết chứ?”
“Không hề.”
“Cuối thế kỷ thứ 9. Cần phải quan tâm đến lịch sử, thám tử ạ, đó là nền tảng của tương lai chúng ta.”
‘Hơn nữa, ông ta còn am hiểu lịch sử, và rất có thể cả những truyền thuyết Ai Cập!’ Jeremy nhận xét, khó lòng che giấu một cái nhếch mép hài lòng. Ông ta ngày càng tương thích với hình mẫu lý tưởng. Keoraz có kiến thức cho phép che giấu tội ác của mình bằng một dàn cảnh gợi nhắc sự tồn tại của con ghûl trứ danh kia.
“Anh lại đây, vào đi nào, ta sẽ dùng khai vị ở sân trong.”
Ông ta cho người gác cổng lui rồi dẫn Jeremy vào nhà, rồi lại từ đó đi ra sân trong, lát gạch vuông, với một bể hứng nước mưa - kiểu La Mã - ở giữa sân. Hai cái xô pha màu tía được trang điểm bằng những chiếc gối dựa màu đen thêu chỉ vàng đã đợi sẵn. Những ngọn đuốc treo bao bọc họ bằng thứ ánh sáng nóng rung rinh. Các bức tường giữa hai cánh cửa phủ đầy tranh vẽ phong cảnh đồng quê.
“Anh ngồi đi. Anh muốn uống gì?”
Jeremy không kịp trả lời.
“Whisky.”
Jezabel đứng giữa khung cửa dẫn tới gian phòng chính.
“Anh luôn uống whisky, phải vậy không?”
Anh gật đầu không nói một lời.
Cô đang vận váy bó màu đỏ, tay cầm ống hút thuốc lá, đầu ống đốt một điếu thuốc.
Keoraz quan sát phản ứng của mỗi người trước khi lên tiếng.
“Tôi có một loại tuyệt hảo. Tôi sẽ đi lấy, anh thứ lỗi nhé, nhưng tôi không chịu nổi đám người làm trong nhà này, tôi đuổi gần hết rồi, nói cho cùng thì không gì bằng tự phục vụ cả.”
Dứt lời ông ta đi ra theo một cửa ngách.
Jeremy, lúc đó đang ngồi, đứng dậy khi Jezabel đi tới.
“Bỏ cái tật ga lăng đó đi,” cô vừa nói vừa ngồi xuống phía đối diện. “Thế nào, đến đây không khó lắm chứ?”
“Anh biết địa chỉ từ trước rồi.”
“Em không nói đến đường đi. Mà là quyết định.”
Một nụ cười mỉm giễu cợt xuất hiện trên đôi môi son của cô.
“Anh, người vốn không chịu gọi em là ‘bà’, đi đến tận ngôi nhà nơi vợ chồng em viên mãn thế này, hẳn lòng tự ái của anh cũng bị tổn thương kha khá nhỉ.”
“Lòng tự ái chẳng liên quan gì ở đây cả.”
“Ồ, vậy hả, thế là gì nào? Đơn giản là sự cảm mến ư?”
“Một sự dịu dàng liên quan đến quá khứ của chúng ta.”
Nụ cười mỉm của cô nở rộng hơn.
“Tất nhiên rồi… Em quên mất, xin lỗi anh nhé.”
Keoraz xuất hiện trở lại với một cái khay trên đặt ba cái ly. Ông ta mời viên thám tử whisky, dành một ly sâm banh cho vợ và ly còn lại cho mình, rồi ngồi xuống sát bên cô.
“Anh bạn ạ, tôi đã dành cả buổi tối cho anh,” ông ta nói.
“Trước tiên, thưa ông, tôi muốn hỏi ông đã đọc bản báo cáo điều tra chưa?”
Nhà triệu phú vừa nhướng một bên lông mày vừa nhìn anh chằm chằm, ánh mắt thích thú.
“Theo ý anh thì sao?”
“Đáng nhẽ mọi việc không nên diễn ra như vậy, tôi rất lấy làm tiếc, xin ông biết cho.”
“Chuyện này liên quan đến lợi ích của tôi, tôi cho rằng mình có toàn quyền bảo vệ những lợi ích đó, dù việc mâu thuẫn với định nghĩa về các trình tự của anh thì cũng mặc. Nơi đây chúng ta ở xa chính quốc, nên các quy định cũng trở nên mềm dẻo hơn, mềm dẻo là lợi thế duy nhất ở xó xỉnh này, không dùng đến nó thì quả là nực cười.”
Jeremy hớp một ngụm rượu rồi quyết định tấn công:
“Ông có thể nằm trong số những người bị tình nghi, việc đọc bản báo cáo điều tra có thể là một vấn đề.”
“Tôi, bị tình nghi ư?”
Điều đó lố bịch đến mức ông ta chỉ có thể bật cười.
“Anh mất trí rồi sao, Jeremy?” Jezabel chế nhạo.
“Tôi rất nghiêm túc. Thêm nữa, ông làm gì vào ban đêm, ông Keoraz?”
“Thám tử! Anh ở đây để giải quyết vụ này và giúp tôi hay để tìm cách hại tôi? Anh hãy rõ ràng đi, để tôi còn biết đâu là bạn đâu là thù.”
Jeremy vừa lấy một điếu thuốc lá từ trong bao và châm lửa vừa từ tốn giải thích:
“Tôi không tìm cách gây phiền hà cho ông, thưa ông, tôi chỉ làm việc của mình. Nếu tôi không làm, người ta có thể lợi dụng sai lầm này trong phiên tòa để giải tội cho thủ phạm.”
Anh lấy giọng cao hơn nói thêm:
“‘Làm sao anh có thể loại bỏ bất kỳ ai, thám tử Matheson, trong khi anh thậm chí còn không tra hỏi tất cả những người chủ chốt?’ Câu đó sẽ gây bất lợi cho việc buộc tội của chúng ta khi được nói ra từ miệng các luật sư.”
Keoraz uống một hơi hết nửa ly sâm banh còn lại.
“Rất hay, vậy thì tiếp tục đi, anh muốn biết gì nào?”
Jeremy quan sát ông ta, tìm cách chọc thủng cái vỏ bọc thương nhân kia, để dò xét trạng thái tinh thần thật sự. Không có gì lộ ra ngoài cả. Không gì ngoài vẻ nhẵn nhụi, thể hiện qua đường rẽ ngôi hoàn hảo. Ông ta lạnh lùng hệt một con thằn lằn.
“Tôi đánh giá cao việc này,” cuối cùng viên thám tử nói. “Để bắt đầu thì, ban đêm ông thường ở đâu?”
Thích thú trước câu hỏi, Keoraz đặt một tay lên tay vợ.
“Tại đây, nhà tôi. Và đôi khi tại Mena House, ở Giza.”
“Ông ngủ một mình ư?”
“Câu hỏi này thuộc loại gì đây?”
“Xin ông hãy trả lời.”
Jezabel nói thay:
“Anh biết em mà, Jeremy, lẽ ra anh phải biết mới đúng chứ.”
Jeremy vừa chịu đựng ẩn ý đó vừa cấm trí tưởng tượng của mình trỗi dậy.
“Ông nhà mới là người tôi muốn nghe trả lời,” anh đáp lại.
“Không,” Keoraz khẳng định,. “tôi không ngủ một mình, Jezabel luôn ở cùng tôi.”
“Vậy thì cô ấy là bằng chứng ngoại phạm của ông vào những đêm xảy ra tội ác?”
“Tất nhiên! Nếu như tôi cần phải có một bằng chứng ngoại phạm… Nhưng tôi không nghĩ là chúng ta sẽ đi đến nước này, thám tử ạ.”
Jeremy uống thêm một ngụm rượu bỏng rát.
“Ông cũng phải thừa nhận rằng đó là một bằng chứng ngoại phạm khá mơ hồ,” anh nói,. “chỉ cần ta ngủ say, thì có lẽ khó mà khẳng định được người ngủ cùng có mặt suốt đêm hay không.”
“Tuy nhiên, em khẳng định điều đó,” Jezabel nhấn mạnh.
Jeremy tự ngăn mình không được trả lời. Anh đã đi quá xa, vượt khỏi khuôn khổ nghề nghiệp để thói ghen tuông lẩn vào lập luận, tự anh sẽ làm lời nói của mình mất trọng lượng, biến mình thành kẻ nực cười. Anh giơ một bàn tay lên trước ra hiệu xin lỗi.
“Tốt rồi, tôi cần phải hỏi những câu đó, tôi chắc chắn rằng ông sẽ thông cảm.”
Jezabel uể oải ném đầu mẩu thuốc lá vào cái bể giữa sân. Chồng cô nghiến răng, tránh một cuộc cãi nhau trước mặt viên thám tử. Ông ta chờ cơn giận nguôi đi rồi mới nói:
“Tôi nghĩ đã hiểu rằng đến tận hôm qua vẫn không có hướng điều tra xác đáng nào, mọi việc có tiến triển hơn không?”
“Tôi rất tiếc, nhưng tôi không thể nói chuyện này với ông được, ông đừng coi đây là chuyện cá nhân. Cứ cho là cuộc điều tra vẫn được tiến hành.”
Keoraz định trả lời nhưng đột nhiên thay đổi hoàn toàn thái độ. Từ vẻ bí hiểm và xa cách, ông ta trở nên gần như dịu dàng.
“Kìa? Sao con lại đứng đây?”
Jeremy dõi mắt nhìn theo khi ông ta đứng dậy đi đến bên một đứa bé trai chừng mười tuổi vừa hiện ra từ sau một trong những cánh cửa bằng gỗ. Đứa bé cũng có dáng dấp sắc sảo như người cha; nó cầm trên tay một con gấu bông và tay kia cầm huy hiệu rửa tội.
“Xin giới thiệu với ông con trai tôi, thưa thám tử. Georges Keoraz.”
Jeremy khẽ ra hiệu cho đứa bé nhưng không nhận được gì đáp lại.
“Nào, lại đây với cha,” Keoraz tiếp tục nói với đứa trẻ bằng giọng dịu dàng không hề hợp với ông ta. “Đáng nhẽ con phải nằm trên giường rồi, ngày mai con có buổi học piano với cô Lentini, và nếu con không ngủ, thì con sẽ không đủ sức để đi tàu điện, việc đó cũng giống như khi đi học, con…”
Ông thương gia ôm con trai vào lòng và thì thầm với cậu bé.
Một bàn tay nóng bỏng lướt qua gối Jeremy.
“Anh sẽ ở lại ăn tối chứ? Chẳng mấy khi anh lại đây, thật tiếc nếu không tận dụng một chút…”
* * *
Mái của tòa nhà nơi Azim đứng canh ở vào trạng thái phản ánh tuổi tác của nó: gây ấn tượng thì ít mà gây lo ngại thì nhiều. Các vết nứt rạch mặt sàn từ đầu này sang đầu kia, còn chi chít hơn cả đường chỉ tay. Ta lên đó qua một cánh cửa sập để ngỏ, từ đó thò lên hai thanh dọc của một cái thang giống như hai cái sừng của một con quỷ đang ẩn nấp.
Những cái chân gỗ chọc vào những cái lỗ thô kệch, được dùng để chống một cái mái bằng vải, bên dưới là hai cái võng rập rình. Một chum nước và một bình đựng quả chà là trên tấm thảm là toàn bộ đồ ăn dự trữ đồng hành với họ.
Azim ngủ lơ mơ trên một cái võng, hơi thở của anh rít lên qua bộ ria. Bạn cùng gác với anh, một tay Khalil nào đó, ngồi tựa vào gờ viền mái thượng, hai cánh tay tựa trên bức tường xây cũ kỹ lung lay. Anh ta đang canh chừng màn đêm.
Trong khi toàn bộ phần còn lại của khu phố ngủ yên trong bóng tối, từ các mạch giao thông chính tỏa lên một thứ ánh sáng dịu do những ngọn đèn đường đang cháy dần lên.
Cả nhóm canh chừng khu El-Gamaliya đã từ nhiều giờ, không có dấu hiệu gì của sinh vật đó.
Khalil nhìn bao quát toàn bộ các địa điểm nơi tín hiệu có thể phát ra. Không một động thái, không một ánh sáng nào.
Giấc ngủ dệt tấm áo choàng im lặng phủ lên thành phố, nhấn chìm những tiếng động, làm trí óc đờ đẫn và thân xác ngã gục.
Chàng thanh niên lăn ra phía sau rồi đứng dậy để lấy một nắm chà là. Viên thám tử ngáy nhè nhẹ, nỗi bồn chồn trong lúc nằm nghỉ khiến anh không được thoải mái lắm.
Phía xa, một cánh cửa đập chát một tiếng, làm Khalil giật nẩy mình.
Azim mở miệng nhiều lần rồi lại chìm sâu vào sức nóng của những cơn mê.
Khalil bắt đầu đi đi lại lại trên mái nhà, vẻ uể oải. Toàn bộ nỗi phấn khích của ngày hôm qua đã tan biến, giờ này tấm lưới thời gian đã lọc hết mọi xúc cảm, chỉ còn lại sự nhàm chán. Khalil đến ngồi lên lan can. Anh vừa nhấm nháp một quả chà là vừa rùng mình.
Chăn của anh ở trên cái võng, anh do dự không biết có nên đi lấy chăn quấn lên người hay không. Đêm bắt đầu trở nên lạnh cũng tương tự như ngày có thể nóng đến ngạt thở, năm nay hơi thở của hoang mạc đã quyết định nuốt chửng mùa xuân để chụp lên Ai Cập một mùa hè sớm. Nếu có thể tránh nạn châu chấu thì đó ít ra cũng là một cái được rồi, Khalil nghĩ. Anh vừa vươn tay lên trời vừa ngáp.
Một mẩu đá rơi ra từ chỗ ngồi tạm bợ của anh, biến mất ngay lập tức trong bóng tối của con phố, dưới đó mười lăm mét. Khalil ngã người ra phía sau.
Trong im lặng tuyệt đối.
Anh chỉ kịp nấc lên vì kinh ngạc. Hai tay anh thõng xuống, lao vùn vụt về phía bờ tường thấp đang lôi anh vào khoảng không. Các ngón tay anh quờ quạng giữa hư không. Và móng tay anh cào phải lớp vữa. Anh dồn sức siết chặt bàn tay và thót bụng lại, phần thân trên nghiêng về phía cái chết đầy nguy hiểm.
Rồi Khalil khẽ khàng lật người theo hướng có lợi, không dám thở. Anh ngã vào giữa những vết nứt của mái nhà rồi run rẩy thì thầm cảm ơn Đức Allah. Chỉ suýt chút nữa, anh đã rơi tan xác xuống nền đất nện phía bên dưới, xương sọ vỡ vụn như một món đồ sứ, óc bắn tung tóe trên đống rác rưởi. Khalil chăm chú nhìn lên các vì sao.
Thật sự là chỉ suýt chút nữa thôi… Nếu cuốn mình trong chăn hẳn anh đã không thoát được.
Không khí với anh đột nhiên trở nên ngọt ngào.
Cái thang gỗ kêu răng rắc. Khalil quay người về phía cửa sập. Không có ai. Anh tiến đến gần, kéo lê đôi giày da mộc trên lớp bụi rồi cúi nhìn xuống hố, tay nắm vào một bên chân thang.
Phía dưới đen ngòm. Khalil không nhìn ra gì cả.
Một bậc thang lại cọt kẹt. Khalil ngồi xổm và thò đầu vào cái hố vuông đen ngòm. Có thể là cô gái ở tầng một chăng?
“Có ai ở đó không?” Anh thì thầm. “Mina, có phải cô không? “
Một hình thù hiện ra, cách mặt anh một mét. Và một cái đầu kỳ lạ trồi ra khỏi đêm đen đối diện anh. Một cặp mắt vàng. Không phải là người.
Khalil nhảy dựng về phía sau và hét lên. Anh tì vào thang để tránh ra xa hơn, cái thang rung lảo đảo. Một tiếng meo dữ tợn từ dưới hố vọng lên, con mèo bị đuổi vừa chạy trốn vừa càu nhàu.
Azim nhanh nhẹn nhảy bật ra khỏi võng và chạy ngay đến bên người cùng gác, một tay đặt lên bao súng đeo bên thắt lưng.
“Có chuyện gì vậy?” Anh lúng túng hỏi, vẫn chưa tỉnh ngủ.
Khalil bật cười, một cái cười nhẹ nhõm.
“Sao? Có chuyện gì?” Azim hỏi, không chung cảm hứng với người cùng gác.
“Không có gì, chỉ là một con mèo. Một con mèo làm tôi sợ. ”
Azim thở một hơi rõ dài trút bỏ toàn bộ sự căng thẳng vừa dồn đống trong lồng ngực. Anh đưa một tay lên vuốt mặt.
Bỗng Khalil nhảy dựng lên.
-Có tín hiệu! Có tín hiệu!
Toàn bộ dấu tích vui vẻ đã rời bỏ chàng thanh niên lúc này đang chỉ ngón trỏ về phía Bắc, đôi mắt muốn lộn tròng.
Azim nhìn theo hướng được chỉ và phát hiện ra, trên đỉnh một tòa nhà nhỏ, một luồng ánh sáng được vẫy từ phải sang trái.
Azim siết chặt nắm tay. Cuối cùng cũng đến lúc.
Con ghûl vừa ra khỏi hang.
❀ ❀ ❀
[1] Giờ cầu nguyện, ngay trước khi hoàng hôn xuống - ngày Ả Rập bắt đầu lúc mặt trời lặn chứ không phải lúc mặt trời lên (chú thích của tác giả).
[2] Khu chợ rất lớn, nổi tiếng tại Cairo (chú thích của tác giả).