Các tu sĩ sống như những người nông dân Việt Nam. Họ dậy sớm khi mặt trời chưa mọc. Họ ngủ trên tấm phản dài trải nhiều rơm. Mùa đông, đêm dường như dài và lạnh; múa hè thì nóng bức. Những chiếc chiếu lúc đầu cứng quá; nhưng rồi họ đã cảm thấy nằm chiếu có cái hay, dần dà họ quen đi. Tất cả đọc kinh rồi đi làm.
Một buổi sáng, thầy Dominique gặp người kỳ cựu của làng. Ông già chống chiếc gậy gỗ màu đen, quan sát ngôi nhà của họ.
- Cái nhà này tên gọi là gì? - Ông già hỏi bằng tiếng Việt.
- Nó không có tên.
- Tất cả các miếu thờ của chúng tôi đều có một cái tên.
- Tên nó là: ngôi nhà của Chúa.
- Mỗi sinh vật đều là nhà của Chúa.
Người tu sĩ suy nghĩ một lát rồi nói:
- Nhà của chúng tôi có tên gọi là: Nhà thờ của sự bình yên.
Ông cụ già mỉm một nụ cười khó tả. Ông hài lòng cáo lui. Thầy Dominique sung sướng.
Cuộc viễn chinh của nước Pháp có nhiệm vụ phải giúp cho Nguyễn Ánh khôi phục lại ngôi vua. Người ta thích được thấy nhà thờ là vũ khí cuối cùng còn lại.
Trưa, mọi người ăn cơm giữa đồng ruộng, bữa ăn rất thanh đạm. Họ đã làm quen với rượu nấu bằng gạo; các dì cũng bị choáng váng chút ít vì say; nhưng thứ rượu đó quả có làm cho người ta thêm gân cốt. Cơm tối thì họ dọn ở ngay cửa ra vào. Họ ngồi ăn trên những chiếc ghế dài, trong bụi bặm của buổi hoàng hôn. Mặt trời lặn rất nhanh, làm cho đỏ rực chân trời, biển lúa màu da cam và rừng núi xanh. Nó khuất đi sau rặng núi phía Tây. Mặt đất lao xao những âm thanh phức tạp của ban đêm: những ruộng lúa phản chiếu lại bầu trời. Người ta nghe tiếng các loài động vật trong các bụi bờ. Trời vẫn nóng, đôi người tưởng ngạt cả thở. Các thày dòng cởi chiếc áo sơ mi vải bông của họ ra; mồ hôi nhỏ giọt trên người họ. Các dì cũng vậy, họ hơi bứt rứt vì áo dính chặt vào da thịt, thỉnh thoảng họ lại phải nhè nhẹ quẫy mình.
Họ không ngừng tìm tòi khám phá ra những cái mới xung quanh. Nước Việt Nam quả là tuyệt đẹp. Buổi đầu, có một bà già giúp họ nấu nướng, dọn cơm cho họ ăn chung. Các giáo sĩ tập ăn cơm bằng những chiếc que tre gọi là “đôi đũa”. Họ ăn cơm gạo hẩm trong những cái bát nhỏ bằng sành. Những buổi chiều ngày lễ, họ lại thấy những thức ăn khác: đôi khi cả những con nhộng tẩm bột rán, màu hồng và dòn tan. Xơ Jeanne gỡ những cái kén trắng ra khỏi tàu lá chuối, ném vào trong một chậu nước lợ âm ấm. Ngày lễ Noel, bà già nấu cho họ ăn món chả cá: một loại cá câu ở các nhánh xa xôi của sông Mê Kông, nấu với mỡ chó. Nhiều lúc họ bị bệnh. Những lúc đó, họ ăn một bát xúp to gọi là “phở”. Nước dùng của phở rất đặc có trộn vài cọng hành, hạt sen và thịt bò tái. Mọi người đều yêu mến đất nước này.
Các thầy Dominicain đều là trí thức. Họ chăm chú đọc sách và viết. Thỉnh thoảng họ đi ra ngoài một chút. Xơ Catherine ghi lại những suy nghĩ của mình trên những tờ giấy dày. Nhật ký của dì giống như một bài thơ trường thiên: dì kể lại cuộc sống mới của mình. Phong cảnh được miêu tả trong đó tuyệt đẹp. Cả trong lúc bị bệnh, chiều chiều dì vẫn tiếp tục ghi chép về đất nước Việt Nam. Dì rất yêu mến nhân dân Việt Nam, đông và tốt bụng, những đồng lúa xanh rờn thẳng cánh cò bay. Ðôi khi dì cũng có nghĩ tới nước Pháp, nhớ tới gia đình. Dì cầu nguyện bằng lời cầu kinh của người lính: “Lạy Chúa! xin hãy ban cho con sức mạnh để kính yêu Người”. Dì viết về cuộc sống chung của họ. Sự khâm phục của mình đối với thầy Dominique. Nhật ký của dì là một nơi trú ẩn, ở đó dì muốn được cách ly với mọi người ngoài: ở đó chỉ có Chúa biết dì mà thôi.
Mùa đông 1792 dài như vô tận. Ngay từ Noel, trời đã bắt đầu mưa. Đất cát trở nên tơi xốp, nhưng việc cứ phải ra đồng. Buổi tối, người ta ngồi sát lại bên nhau quanh bếp lửa. Thầy Dominique chọn một chỗ xa xa, thầy muốn được ngồi một mình. Thấy viết những bức thư dài trên những cuộn giấy ngả màu vàng ố. Thư từ chất đống trong một cái thùng gỗ đen. Vị giáo sĩ giao cho những chiếc tàu thả neo gần Sài Gòn. Những chiếc tàu ấy mỗi lúc một vắng. Chẳng có ai đọc những bức thư này, kể cả cha bề trên dòng Saint – Martin – d'Aubray mà thầy Domonique báo các lại về tiến trình của chuyến đi truyền giáo của họ, và gia đình thầy cũng không.
Những tháng rét kéo dài một cách uể oải. Một buổi tối thầy Dominique âm thầm thu mình trong sự vắng lặng cô đơn, xơ Catherine đi đến với thầy: thầy đang khóc.
Ở phía Bắc Sài Gòn, một vài thầy dòng Jesuites (dòng Tên) đã rao giảng Phúc Âm tại tỉnh Bình Định: họ đã bị tàn sát. Họ đã để lại một cuốn sách học vần latin-hóa; cuốn sách này đã được phổ biến rất nhanh. Những ký tự ghi ý hiểu chữ Hán đã mất chỗ đứng, chỉ còn lại trên các cột nanh đình chùa. Thời kỳ này, cộng đồng cơ đốc giáo Bà Ðiểm là một trong những cộng đồng cơ đốc giáo quan trọng nhất của Việt Nam. Một mảng lớn nông dân đã theo đạo. Thầy Dominique cứ mỗi chủ nhật làm một lễ. Những tập quán truyền thống vẫn rất nặng nề, nhưng thầy cảm thấy được ơn Chúa giúp đỡ. Một vài người đã bắt đầu dạy Phúc Âm. Nhiều nông dân từ những làng xung quanh đến: người Pháp quả thật là siêng năng và vui tươi.
Các giáo sĩ ít khi nhận được tin tức từ nước Pháp. Thỉnh thoảng có một tu sĩ Pháp hoặc người nước ngoài, một thầy dòng Tên, đặt chân lên đất Nam Bộ. Họ ở lại vài ngày trước khi quay trở lại Xrilanca hoặc Xiêm: Việt Nam không phải là đất đón khách. Nhờ vậy mà các thầy và các xơ mới biết được những sự biến đổi xáo trộn ở nước Pháp. Ðối với họ, tất cả những chuyện đó có vẻ xa xôi làm sao! Những tin tức này chỉ là cái phản ánh rải rác của quá khứ mà thôi: thế giới của họ không còn như trước nữa.
Họ nói tiếng Việt nhưng vẫn giữ một khoảng cách với mọi người; những sự khác biệt vẫn còn rất lớn. Trong sự đơn độc ấy, họ tìm hiểu chính lòng mình: dục vọng ít đi. Sự sôi động của các thành thị Pháp, họ coi như vô hiệu và cái bề ngoài chỉ là chuyện nước chảy mây bay. Tuy chẳng nhận thấy có cái gì mới trong mình, các tu sĩ cảm thấy họ đang đi tới gần cái cơ bản. Họ đã học tập được cái tinh thần thoát tục. Họ sống không dục vọng. Lần đầu tiên, họ khỏi phải hôn lên những chiếc nhẫn to sù của các vị giám mục. Những chiếc áo dài màu sắc quá âm u; còn tiếng latin thì khó quá. Họ dạy kinh bằng tiếng Pháp. Họ kính Chúa qua những người nông dân nghèo khó vô danh này.
Tháng 5 đến; cái nắng một lần nữa lại trở nên ngạt thở. Bàn tay họ ẩm ướt. Hằng ngày, phải giặt rũ quần áo. Quần áo ngày càng nhẹ hơn, mỏng hơn. Cuối cùng người ta đi ngủ với một chiếc áo vải đơn sơ, vì không khí ẩm ướt của ban đêm. Phụ nữ mất dần đi đôi “hông nữ tu” quá nở nang của họ: công việc đồng áng vất vả nặng nề. Xơ Jeanne cũng đội nón, mặt che khăn như mọi phụ nữ Việt Nam. Da mặt của dì xanh mét.
Phải có trái cây, họ phát hiện ra trái long nhãn, nó giống như những hòn thịt trong veo có lớp vỏ mỏng bọc ngoài, từng chùm như trái nho. Long nhãn ăn rất mát.
Nét mặt các thầy dần dần trở thành hốc hác. Thầy Dominique không còn cái bụng phệ ngày trước nữa; thầy phải cạo râu vì trong râu thỉnh thoảng có con chấy nó bò. Xơ Catherine vẫn đẹp. Người ta đã dần dần chú ý đến cái hình thể của dì. Ông già người Việt đã nói: “Mỗi sinh vật đều là ngôi nhà của Chúa”.
Nhiều thứ bệnh tật xuất hiện mà không có thuốc trị. Từ trên các bụi tre xanh, có những con sâu róm rơi xuống; nó rơi vào da thịt chỗ nào là y như chỗ đó bị lở loét. Người ta tìm cách tự chữa chạy lấy cho mình. Từ mờ sáng, họ ra tắm nước sông Mê Kông.
Lễ Phục Sinh sắp tới. Không thể nào làm lễ được: một cơn lốc đã xảy ra. Cả làng bị tàn phá. Nhà cửa bị đổ, lúa má ngoài đồng bị gió đánh cho nghiêng ngả tơi bời. Phải cấy lại. Không ai bị thương. Bầu trời mờ mịt một màu đen u ám. Không khí im phăng phắc. Thiên nhiên dường như đang chờ đợi ưu tư. Các giáo sĩ đã dâng lời cầu nguyện. Chỉ còn những cây cổ thụ lay chuyển rì rào rồi gãy răng rắc trước sức mạnh của những ngọn gió từ ngoài khơi thổi vào. Xa xa, biển ầm ào gào thét. Những trận mưa như nước xối bắt đầu. Ngày Phục Sinh, thầy Dominique không làm lễ, vì ai cũng bận sửa sang lều trại hoặc ra đồng, người dân Việt Nam chấp nhận số phận của mình một cách nhẫn nhục. Còn người Pháp thì khám phá ra đức tính khôn ngoan.
Phải tiếp tục công việc truyền giảng. Bà Ðiểm đã rất nhanh chóng trở lại là một làng sung sướng. Thầy Dominique quyết định ra đi. Bà Điểm bé nhỏ quá. Các thầy khác thì muốn ở lại. Họ yêu mến nước Việt Nam và cái ngôi làng yên tĩnh này. Họ sợ những núi rừng còn khép kín. Trước đó rất lâu, thầy Dominique đã quen biết Pierre Pigneau de Béhaine; thầy biết rõ ước vọng của vị giám mục này và muốn được đi truyền đạo rộng xa hơn. Cho nên thầy quyết định đi lên phía Bắc.
Sáng tinh mơ, khi bầu trời còn xanh, thầy nhìn về phía những cánh đồng xa xa lẫn lộn với những rặng núi của miền Trung bộ.
Thầy tìm được một người nhận làm kẻ dẫn đường. Người đó tên là Thạch, tiếng Pháp cũng bập bẹ được đôi câu. Làng Bà Điểm cảm ơn anh ta. Thầy Michel và dì Catherine cùng đi với thầy Dominique. Họ mang theo các cuốn kinh thánh của họ cùng với một ít sách, lương thực, ba lô.
Từ sáng sớm, họ lên đường.