Làng Stepantsikovo Và Cư Dân - Bút Ký Từ Nhà Chết

Lượt đọc: 364 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VII - NHỮNG MỐI QUEN BIẾT ĐẦU TIÊN. PETROV
VII NHỮNG MỐI QUEN BIẾT ĐẦU TIÊN. PETROV

❊ ❊ ❊

Thời gian cứ qua đi và dần dà tôi cũng sống quen. Những sự kiện hàng ngày trong cuộc đời mới dần dần cũng bớt khiến tôi bức xúc. Những sự cố, những hoàn cảnh, những con người tựa hồ như cứ diễu qua trước mắt. Chấp nhận cuộc sống này là không thể được, nhưng từ lâu tôi đã phải công nhận đó là một sự đã rồi. Tất cả những ngộ nhận còn sót lại trong lòng tôi thì tôi giữ kín trong tâm khảm càng sâu càng tốt. Tôi đã không lang thang trong trại như người mất tích và cũng không để lộ nét buồn trên mặt. Những cái nhìn tò mò hoang dã của tù nhân cũng không thường dừng lại nơi tôi, không theo đuổi tôi một cách trắng trợn cố tình nữa. Còn tôi thì quả thật, tôi cũng đã quá quen với cái nhìn đó và như thế là tôi rất vui. Tôi đã đi dạo quanh khắp trại như ở nhà mình, thuộc hết vị trí của mình trong lán trại và thậm chí đã quen với các đồ vật mà trước đây tôi nghĩ rằng trong đời mình tôi sẽ không không bao giờ có thể quen được. Thường cứ mỗi tuần một lần tôi lại đi gọt một nửa râu tóc. Cứ thứ Bảy vào giờ nghỉ việc người ta lại gọi lần lượt chúng tôi ra cắt tóc tại trạm gác (những người không chịu đi cắt thì tự chịu trách nhiệm), tại đó thợ cắt tóc của tiểu đoàn cắt gội cho chúng tôi bằng nước lạnh và không thương tiếc khi dùng cái dao cạo râu cùn bậc nhất, đến nỗi bây giờ tôi vẫn thấy ớn lạnh toàn thân khi nghĩ về cực hình này. Tuy nhiên, ít lâu sau chúng tôi cũng tìm được cách chống đỡ: ông Akim Akimych chỉ cho tôi một tù nhân, vốn trước là lính. Anh ta nhận cạo râu cho bất kỳ ai bằng dao cạo riêng giá có một cô-pếch và kiếm ăn bằng cách đó. Nhiều tù khổ sai đã tìm đến anh ta để tránh các tay dao kéo của trại, hơn nữa họ là những người không phải yếu đuối. Mọi người gọi anh bạn dao kéo này là thiếu tá, không hiểu vì sao lại như thế, và anh ta có cái điểm gì giống với thiếu tá thì tôi cũng không biết. Giờ đây khi tôi viết những dòng này, tôi lại hình dung ra anh thiếu tá ấy - một chàng trai dong dỏng, gầy gầy, trầm tĩnh, khá là sâu sắc, suốt ngày đắm chìm vào công việc, trong tay lúc nào cũng có một đoạn thắt lưng da để suốt ngày đêm mài con dao cạo đến mức không thể nào mài sắc hơn nữa, dường như anh chấp nhận nghề này là mục đích trọn cuộc đời mình. Thực sự là anh hết sức hài lòng khi có con dao bén ngọt và khi có người đến cạo: anh gội nước nóng, tay chân nhẹ nhàng, đường cạo êm ái như nhung. Rõ ràng là anh thấy thỏa mãn và tự hào với nghệ thuật của mình và thoải mái đón nhận đồng tiền kiếm được, tựa hồ đó là công việc hoàn toàn nghệ thuật chứ không phải vì tiền. Anh chàng A. đã một lần bị tên thiếu tá thật trừng trị nặng nề vì tội khi nhận làm chỉ điểm đã có lần nhắc đến tên anh thợ cắt tóc của chúng tôi và bất cẩn gọi anh ấy là thiếu tá. Tên thiếu tá thật nổi trận lôi đình hết cấp “Mày biết không, thằng mất dạy kia, mày biết thiếu tá là thế nào không! - hắn quát lên, miệng sùi bọt. - Mày có hiểu thiếu tá là thế nào không? Nó là thằng tù khổ sai mạt hạng mà mày dám gọi nó là thiếu tá, mà lại gọi trước mặt tao lúc tao đang ngồi đây!...” Chỉ có tên A. mới sống nổi với con người ấy.

Ngay từ ngày đầu tiên trong trại tôi đã mơ ước có ngày tự do. Việc tính đếm bao giờ thì kết thúc những năm tháng tù đầy được thực hiện bằng nhiều hình thức và kiểu cách khác nhau đã trở thành công việc đầy hứng thú của riêng tôi. Thậm chí tôi không còn nghĩ gì đến những việc khác nữa và tin chắc rằng bất kỳ ai bị mất tự do một thời gian nào đó thảy đều hành xử như vậy. Tôi không biết những tù nhân khổ sai khác có tính toán như tôi hay không, nhưng những niềm hy vọng nhẹ nhàng của họ ngay từ đầu đã khiến tôi kinh ngạc. Niềm hy vọng của tù nhân đã mất tự do là thứ tự do hoàn toàn khác so với một con người được sống thật sự. Tất nhiên, một người tự do có hy vọng (chẳng hạn, thay đổi số phận, thực hiện được một công chuyện gì đó), nhưng là anh ta vẫn được sống, được hoạt động; cuộc sống thật vẫn lôi cuốn anh ta trọn vẹn vào dòng trôi của nó. Còn người tù thì khác hẳn. Cứ cho rằng ở đây cũng có một cuộc sống - cuộc sống trong tù, cuộc sống lao dịch -, nhưng bất kỳ ai đã là tù nhân, đã bị đi đày có thời hạn, thì nhất quyết rằng bằng trực cảm anh ta cũng không thể coi số phận mình là một cái gì đó tốt đẹp, trọn vẹn, là một phần của cuộc sống thật. Mọi tù khổ sai đều cảm thấy rằng anh ta không ở nhà mình, mà cứ như đi làm khách vậy. Hai mươi năm anh ta nhìn như thể hai năm và hoàn toàn tin rằng đến năm năm mươi lăm tuổi, ra trại, anh ta vẫn hoàn toàn trẻ trung như bây giờ, lúc ba mươi lăm tuổi. “Chúng ta còn sống nhiều nữa!” - anh ta nghĩ thế và cố tình gạt bỏ mọi sự nghi ngờ và mọi nỗi buồn bực. Ngay cả những tù khổ sai vô thời hạn thuộc đơn vị đặc biệt cũng đôi khi toan tính rằng biết đâu đùng một cái lại có quyết định gửi từ Piter đến: “Chuyển về Nerchinsk làm thợ mỏ và cho được ấn định thời hạn”. Thế là tuyệt vời rồi: về Nerchinsk độ chừng nửa năm, còn gì hơn là theo đoàn rời trại! Sau đó là kết thúc thời hạn ở Nerchinsk và thế là... Một người đầu đã bạc cũng tính toán như vậy!

Ở Tobolsk tôi đã nhìn thấy những người bị trói dựa tường. Ông ta ngồi trên một cái xích dài độ một sazhen[1], cạnh ông ta có cái giường sắt. Ông ta bị trói vì cái tội gì đó khủng khiếp đã phạm phải ở Sibir. Tội này phải tù đến năm năm, thậm chí mười năm. Phần lớn là bọn ăn cướp. Chỉ duy nhất có người này tôi thấy như thuộc loại quý phái đã từng là quan chức ở đâu đó một thời nào đó. Ông ta ăn nói ôn hòa, nụ cười hiền dịu. Ông ta chỉ cho chúng tôi xem cái xích, xem làm cách nào nằm được xuống giường cho thoải mái hơn. Thật là nhẹ nhàng như một con chim đặc biệt! Nói chung những người như thế này bao giờ cũng ứng xử ôn hòa và có vẻ hài lòng, thế nhưng ai cũng khắc khoải mong muốn sớm được mãn hạn. Ông ta mong muốn cái gì nhỉ? Ông ta mong thế này: mong thoát khỏi căn phòng ngột ngạt, ẩm ướt có những cái cửa vòm thấp tè để được bước ra sân trại... thế thôi. Ông ta không bao giờ được ra sau trại. Chính ông cũng biết rằng những kẻ được tháo xích thì khi ở trại cũng bị xiềng cho đến khi chết. Ông biết thế nhưng ông vẫn khát khao mong mỏi sớm được kết thúc thời gian bị xích, bởi vì nếu không có niềm hy vọng ấy thì làm sao ông có thể sống qua được năm năm hay sáu năm bị xích, làm sao ông có thể không chết hoặc không phát điên? Liệu có thể ngồi một hạn tù như thế nữa không?

Tôi cảm thấy rằng công việc là thứ có thể cứu sống tôi, củng cố cho tôi sức khỏe, vóc dáng, còn nếu tâm hồn thường xuyên bất an, tinh thần bị kích động, không khí lán trại ngột ngạt thì có thể tôi bị hủy hoại hoàn toàn. “Thường xuyên ra ngoài trời, hàng ngày làm việc đến mệt, chịu khó mang các vật nặng thì ít nhất như thế cũng là mình tự cứu mình, - tôi nghĩ vậy, - như thế là mình tự củng cố mình, mình sẽ được khỏe khoắn, mạnh mẽ, sảng khoái và không già đi”. Tôi đã không nhầm. Công việc và vận động thật là có ích. Tôi thấy khủng khiếp khi nhìn một ông bạn (cũng là gốc quý tộc) héo tàn đi trong trại như một cây nến. Ông cùng vào trại với tôi, lúc ấy ông còn trẻ tuổi, xinh trai, nhanh nhẹn, mà khi ra thì đã tàn đi một nửa, đầu thì bạc, chân thì lỏng, cứ đi là thở. Nhìn ông ta tôi nghĩ “Không, tôi muốn sống và tôi sẽ sống”. Thế nhưng ban đầu tôi lại bị chính anh em tù nhân hành hạ về tội tôi say mê công việc và suốt một thời gian dài họ đầu độc tôi bằng sự khinh bỉ và nụ cười diễu. Nhưng tôi không nhìn lại ai và nhẹ nhàng bước đi đâu đó, chẳng hạn đi nung thạch cao hoặc tán thạch cao - một trong những công việc đầu tiên mà tôi học được. Đó là việc nhẹ. Bọn quản lý kỹ thuật tùy khả năng mà sẵn sàng giảm nhẹ công việc cho anh em quý tộc, điều ấy suy cho cùng cũng chẳng phải móc ngoặc gì cả, mà chỉ là hợp lý thôi. Thật kỳ lạ là lại đi yêu cầu một người yếu ớt bằng nửa người khác, không bao giờ lao động, lại phải làm công việc của một người lao động thực sự. Tuy nhiên sự “nuông chiều” đó không phải bao giờ cũng được thực hiện, thậm chí nó còn được thực hiện một cách dường như lén lút: những người ngoài cuộc theo dõi chuyện này gắt gao lắm. Rất nhiều khi chúng tôi phải làm những việc nặng nhọc, và khi đó thì hiển nhiên nhà quý tộc phải chịu một sức nặng gấp đôi. Làm thạch cao thường được cử đi ba bốn người, là những người già cả hoặc yếu đuối, trong đó có cả chúng tôi, hơn nữa họ còn điều đến một người công nhân biết việc thực sự. Người đó thường là một anh chàng cố định, làm việc luôn mấy năm. Bây giờ là ông Almazov, một người mập mạp, khắc khổ và khô khan, luống tuổi, ít giao tiếp và hay cáu bẳn. Ông ta khinh chúng tôi lắm. Thế nhưng ông ta lại ít nói, thậm chí còn lười không thèm gắt mắng chúng tôi nữa. Nhà kho, nơi chúng tôi làm thạch cao, nằm bên bờ sông hoang vắng và dốc đứng. Mùa đông, nhất là vào những ngày tối tăm mà đứng nhìn ra sông và nhìn tít sang bờ bên kia thì thấy thật là buồn. Có một cái gì đó đau thương đè nặng trái tim trong khung cảnh hoang dã mông lung. Nhưng còn nặng lòng hơn nữa là khi có ánh mặt trời sáng lên rực rỡ trên nền tuyết trắng vô biên; lúc ấy tôi chỉ muốn làm sao chắp cánh bay được tới miền thảo nguyên bắt đầu từ bờ bên kia rồi trải dài xuống phía Nam như một tấm thảm liền mạch đến chừng một ngàn năm trăm vérsta[2]. Ông Almazov thường bắt đầu công việc một cách lặng lẽ và nghiêm khắc, và dường như chúng tôi thấy xấu hổ khi không thể giúp ông đúng cách, khiến ông phải cố tình xoay xở một mình, cố tình không nhờ chúng tôi, dường như nhằm làm sao cho chúng tôi cảm thấy được lỗi lầm của mình đối với ông và phải hối hận vì chính mình là kẻ vô dụng. Toàn bộ công việc của chúng tôi chỉ còn là nhóm lò nung đống thạch cao đã xếp trong đó, đống này thường là chúng tôi khuân đến cho ông. Ngày hôm sau, khi thạch cao đã nung xong, là phải rỡ lò. Mỗi người chúng tôi mang một cái cối nặng, xếp đầy một hòm thạch cao và bắt đầu giã nhỏ. Đây là công việc rất dễ chịu. Thạch cao nhanh chóng biến thành đám hạt trắng lấp lánh, mịn màng, đẹp mắt. Chúng tôi dơ lên những chiếc búa nặng, tạo ra những âm thanh lịch bịch mà chính chúng tôi cũng thấy vui tai. Rồi cuối cùng chúng tôi cũng thấy mệt mỏi, nhưng lại thấy trong lòng nhẹ nhõm; má thì đỏ hồng lên và máu chạy nhanh hơn trong huyết quản. Lúc này ông Almazov nhìn chúng tôi với con mắt độ lượng, như người ta nhìn bọn trẻ nhỏ. Ông hút tẩu ra chiều khoan dung và không thể không thưa thốt đôi câu khi cần phải nói. Ông đối với mọi người vẫn thế, nhưng thực bụng là một người đôn hậu.

Một việc khác mà tôi được cử đi làm - đó là đi quay bánh xe mài trong xưởng thợ. Đó là chiếc bánh xe to và nặng. Quay nó phải tốn nhiều sức, nhất là khi thợ mài (người của xưởng) đang mài một cái gì đó, chẳng hạn như cột lan can, những chân bàn to làm đồ công vụ cho một quan chức nào đó, phải dùng gần như cả một thân gỗ. Trong trường hợp đó một người không thể làm nổi, thường phải hai người - tôi với một người nữa cũng dòng quý tộc, tên là B. Trong suốt mấy năm, nếu như cần phải mài một cái gì đó thì công việc ấy thuộc về chúng tôi. Anh B. là người yếu ớt, còi cọc, hãy còn trẻ mà đã đau ngực. Anh nhập trại ước độ một năm trước tôi cùng với hai người bạn nữa cùng nhóm - một ông già suốt ngày đêm trong trại lúc nào cũng lâm râm cầu nguyện (vì vậy mà các trại nhân đều kính nể ông) và ông đã qua đời lúc có tôi ở đó. Một người nữa hãy còn rất trẻ, tươi tắn, hồng hào, khỏe mạnh và dũng cảm, mà trên đường đi anh ta đã phải cõng một người bạn tù mệt mỏi theo chế độ bán áp giải đi suốt bảy trăm véc-sta. Chúng ta cũng cần thấy tình bạn giữa họ với nhau. Anh B. là người có trình độ học vấn tuyệt vời, cao thượng, có tính cách, rộng lượng, nhưng đã tha hóa và ốm đau quặt quẹo. Tôi với anh ấy quản lý bánh xe mài. Công việc ấy thậm chí cũng làm chúng tôi thích thú. Nó cho tôi những cảm xúc tuyệt vời.

Tôi cũng đặc biệt yêu thích công việc dọn tuyết, nhất là sau những trận bão tuyết rất thường xảy ra vào mùa đông. Sau một ngày đêm bão nổi thì có nhà ngập tuyết đến lưng cửa sổ, có nhà thì ngập gần hết. Những ngày đó, khi bão vừa dứt và mặt trời vừa lên là chúng tôi bị lùa ra thành những đám lớn, có khi toàn trại phải xuất kích để dọn tuyết cho những ngôi nhà công vụ. Mỗi người được phát một cái xẻng, mọi người chung một nhiệm vụ, có những việc rất đáng ngạc nhiên, khó lòng làm được và mọi người phải chung tay tiến hành. Loại tuyết xốp vừa mới rơi xuống, mặt trên mới hơi hơi đóng cứng thì dễ dàng bắt xẻng. Chúng tôi xúc từng tảng lớn hắt vung vãi ra xung quanh, lúc bay lên không trung chúng hóa thành lớp bụi trắng lấp lánh. Xẻng cứ thế cắm phầm phập vào lớp tuyết trắng loang loáng dưới ánh mặt trời. Anh em tù nhân làm việc đó lúc nào cũng vui. Khí trời mùa đông tươi mát cộng với hoạt động cơ bắp làm ai cũng thấy nóng ấm. Mọi người vui hẳn lên, bắt đầu cười nói, hò hét, khích bác lẫn nhau. Rồi bắt đầu chơi ném tuyết, họ chơi đến nỗi chỉ một phút sau là có những người nghiêm túc, những người không chịu nổi tiếng cười và thói nhộn nhạo, quát lên, và những trò vui tập thể thường kết thúc bằng những câu chửi đổng.

Dần dà tôi cũng mở rộng phạm vi quen thuộc. Tuy nhiên, chính tôi lại không nghĩ đến chuyện làm quen; tôi vẫn là người sống không tĩnh tâm, khắc khổ và dè dặt. Các mối giao tiếp của tôi tự nhiên bắt đầu thế thôi. Người đến thăm tôi đầu tiên là anh Petrov. Tôi nói là đến thăm và xin nhấn mạnh vào từ này. Petrov sống trong đơn vị đặc biệt ở cách tôi rất xa. Hiển nhiên là chúng tôi không có quan hệ gì với nhau; giữa chúng tôi cũng không có và không thể có cái gì là chung được. Thế nhưng thời kỳ này Petrov hình như coi là nghĩa vụ hàng ngày phải đến chỗ tôi hoặc giữ tôi bên mình những giờ giải lao, khi tôi đi dạo ra đằng sau trại để tránh xa con mắt mọi người. Ban đầu tôi không thích như thế. Nhưng anh ta đã biết cách làm thế nào để rồi chẳng bao lâu sau những cuộc viếng thăm của anh ta thậm chí còn hấp dẫn tôi, mặc dù nhìn chung anh ta không phải là người quảng giao và hoạt khẩu. Nhìn bên ngoài anh ta là người tầm thước, chắc nịch, khéo léo, năng động, gương mặt khá là dễ coi, da trắng xanh, lưỡng quyền rộng, ánh mắt bạo dạn, hàm răng trắng, mau và nhỏ và lúc nào cũng có mẩu thuốc lá vụn trên môi dưới. Dính thuốc lá trên môi là thói quen của nhiều tù nhân. Anh ta trông trẻ hơn tuổi. Thực tuổi anh là bốn mươi, nhưng trông chỉ độ ba mươi. Đối với tôi bao giờ anh cũng ăn nói thoải mái, coi như là rất ngang hàng với tôi, có nghĩa là cũng rất nghiêm chỉnh và tế nhị. Chẳng hạn, nếu anh thấy tôi muốn được ngồi một mình, thì anh chỉ nói chuyện vài phút rồi để tôi ngồi lại và bao giờ cũng cảm ơn tôi đã chú ý nghe, điều mà anh không thể hiện với ai trong trại bao giờ. Điều đáng chú ý là mối quan hệ như thế giữa chúng tôi được kéo dài không phải chỉ trong những ngày đầu tiên, mà là suốt mấy năm liền và hầu như không bao giờ thu hẹp đi, mặc dù thực sự anh đã là người trung thành với tôi. Ngay đến bây giờ tôi cũng không thể quả quyết được là anh muốn gì ở tôi, vì sao ngày nào anh cũng đến tôi như vậy? Sau này cũng có lúc anh lấy trộm của tôi cái này cái kia, nhưng anh lấy dường như là vô tâm; hầu như không bao giờ anh xin tiền tôi, nghĩa là anh đến không phải vì tiền hoặc vì một quyền lợi nào khác.

Tôi cũng không biết vì sao, nhưng bao giờ tôi cũng có cảm giác rằng nói chung là anh không sống cùng tôi trong trại, mà ở một nơi nào đó xa xôi trong một ngôi nhà khác, một thành phố khác, mà là chỉ ghé qua vào trại để nghe ngóng tin tức, để thăm nom tôi, để xem chúng tôi sống như thế nào. Lúc nào anh ta cũng vội vàng đi đâu, dường như bỏ ai ở đâu và ở đó người ta đang chờ anh, dường như anh chưa làm hết một việc gì đó ở đâu đó. Thế nhưng dường như anh lại không bận rộn gì mấy. Cái nhìn của anh cũng có vẻ lạ lùng, đó là cái nhìn chăm chú, có nét mạnh dạn, lại có đôi chút châm biếm. Anh thường nhìn như về phương xa, nhìn thấu qua các đồ vật, dường như đằng sau cái vật thể trước mắt anh cố thấy một cái gì đó xa hơn. Điều đó làm anh có vẻ như người đãng trí. Đôi khi tôi đã cố gắng nhìn: từ chỗ tôi Petrov sẽ đi đâu? Có người chờ anh ở đâu? Nhưng từ nhà tôi anh chỉ vội vã đi đâu đó trong trại hoặc xuống nhà bếp, đến ngồi cạnh một người nào đó trong số những người ham chuyện, chăm chú lắng nghe, đôi khi cũng tham gia câu chuyện, có lúc rất say sưa, rồi sau đó không biết vì sao bỗng nhiên bỏ cuộc và im lặng. Nhưng dù anh có nói hay là ngồi im thì ai cũng thấy rõ rằng anh chỉ láng cháng thế thôi, rằng anh vẫn có công chuyện ở đâu đó và nơi ấy đang có người chờ anh. Điều lạ lùng hơn cả là anh chẳng hề có công chuyện ở đâu cả; anh sống hoàn toàn nhàn hạ (tất nhiên là trừ những công việc bắt buộc của trại). Anh chẳng có tài cán gì, tiền bạc thì hầu như không bao giờ có, nhưng anh cũng không ham hố đồng tiền. Vậy thì anh nói chuyện gì với tôi? Những câu chuyện của anh thật lạ lùng, giống như bản thân anh vậy. Chẳng hạn, hễ thấy tôi một mình lững thững ra đằng sau trại là lập lức anh quay ngoắt theo tôi. Anh đi bao giờ cũng nhanh, quay người đánh loáng là bước. Mình đi một bước là dường như anh đã chạy đến gần.

- Chào ông.

- Chào anh.

- Tôi không làm phiền ông đấy chứ?

- Không.

- Tôi muốn hỏi ông về Napoleon. Có phải ông ta là bà con với một người mà năm mười hai vẫn còn sống hay không? (Petrov là lính được quân đội nuôi từ bé và là người có học.)

- Bà con à?

- Người ta gọi ông ta là gì? Có phải là tổng thống không?

Câu hỏi của anh bao giờ cũng ngắn gọn, nhát gừng, dường như anh muốn biết rất nhanh một điều gì đó, giống như anh đang lục tìm trong sổ tra cứu một điều gì đó rất hệ trọng không thể nào trì hoãn được.

Tôi giải thích cho anh biết ông ta là tổng thống gì và nói thêm rằng có thể sắp tới ông ta sẽ là hoàng đế.

- Lại thế sao?

Tôi giải thích cho anh bằng mọi lý lẽ rằng sẽ như vậy. Petrov chăm chú nghe, hiểu cặn kẽ, hình dung được ngay, thậm chí anh ghé hẳn tai về phía tôi.

- Vậy thưa ông Aleksandr Petrovich, tôi xin hỏi ông một điều: người ta bảo có một loài khỉ tay dài xuống đến gót chân và cao bằng con người, có đúng vậy không?

- Đúng thế.

- Vậy chúng là khỉ gì?

Tôi biết đến đâu nói hết đến đó.

- Bây giờ chúng sống ở đâu?

- Ở những vùng đất ấm. Đảo Sumatra chẳng hạn.

- Đảo ấy ở Mỹ, đúng không? Có người nói rằng ở đó người ta đi bằng đầu xuống đất, phải vậy không?

- Không phải là bằng đầu xuống đất. Đó là anh hỏi về hiện tượng đối cực, vậy thôi.

Tôi giải thích cho anh châu Mỹ là thế nào và cố gắng cho anh biết đối cực là gì. Anh nghe rất chăm chú tựa hồ đến đây chỉ cốt để nghe chuyện đối cực.

- À ra thế. Năm ngoái tôi có được đọc về nữ bá tước Lavaliere. Sách do hạ sĩ Arefiev cho mượn. Chuyện ấy có thật hay chỉ là bịa, thưa ông? Truyện của ông Duma ấy.

- Chắc hẳn là chuyện hư cấu.

- Thế thôi, xin chào ông. Cám ơn ông nhé.

Và Petrov biến mất. Thực ra là hầu như chưa bao giờ chúng tôi nói những chuyện khác với những chuyện đã nói như thế này.

Tôi bắt đầu thăm dò về anh. Ông M. là người biết mối giao hảo của chúng tôi, ông cũng đã cảnh báo với tôi rồi. Ông nói rằng trong đám tù khổ sai có nhiều người làm cho ông khiếp hãi, đặc biệt là thời gian đầu vào trại, nhưng không có ai, thậm chí cả Gazin, cũng không gây cho ông ấn tượng khủng khiếp như anh Petrov này.

- Trong đám tù khổ sai anh ta là người quyết liệt nhất và can đảm nhất, - ông M. nói, - anh ta dám làm mọi việc, không từ việc gì, nếu như anh ta nổi cơn đồng bóng. Anh ta có thể cắt cổ ông, nếu anh ta chợt nghĩ đến chuyện đó. Anh ta sẽ cắt tiết ông mà không nhíu mày suy nghĩ và không hối hận gì cả. Tôi còn nghĩ đến chuyện là anh ta đầu óc không được bình thường.

Nhận xét ấy của ông khiến tôi chú ý đặc biệt. Nhưng ông M. lại không thể cho tôi biết rõ vì sao anh ta lại có vẻ như vậy. Và có một việc kỳ lạ: sau đó suốt mấy năm liền tôi biết Petrov, ngày nào tôi cũng nói chuyện với anh; lúc nào anh cũng chân thành quấn quít bên tôi (mặc dù tôi không biết được ngọn nguồn vì sao) và trong suốt mấy năm trời ấy mặc dù anh vẫn sống trong trại một cách khôn ngoan và quả thật không làm điều gì khủng khiếp cả, nhưng cứ mỗi lần tôi nhìn anh ta và nói chuyện với anh thì tôi lại tự khẳng định rằng ông M. nói đúng, và rằng có thể Petrov là con người quyết liệt nhất, quả cảm nhất và không hề biết kiềm chế bản thân. Vì sao tôi lại cứ có cảm giác như thế thì tôi cũng không thể nào biết được.

Tuy nhiên tôi cũng xin nhận xét rằng anh chàng Petrov này chính là người muốn giết tên thiếu tá khi anh bị lôi đi chịu trừng phạt và khi tên thiếu tá “may mà thoát chết”, như anh em tù nhân vẫn nói thế, khi hắn rời khỏi chỗ đó một phút trước giờ trừng phạt. Một lần khác, trước khi vào trại, có xảy ra chuyện tên đại tá đã đánh anh trong lúc luyện tập. Chắc hẳn anh đã bị đòn nhiều lần trước mặt hắn, nhưng lần này anh không muốn chịu đựng nữa, nên đã giết tên đại tá của mình một cách công khai, giữa ban ngày ban mặt và trước cả một đoàn quân. Thế nhưng tôi không được biết chi tiết toàn bộ câu chuyện và anh cũng chưa bao giờ kể cho tôi nghe. Tất nhiên, đó chỉ là lúc bùng phát, khi bản chất của mình được bộc lộ ra ngoài trọn vẹn. Nhưng dẫu sao thì những phút bùng phát ấy cũng là rất hãn hữu trong con người anh. Thực sự anh vẫn là con người khôn ngoan và thậm chí là hiền dịu nữa. Anh dấu kín những niềm say mê, thậm chí cả những say mê mạnh mẽ, cháy bỏng. Nhưng than cháy mãi rồi cũng tàn lụi và teo tắt dần đi. Tôi không hề thấy nơi anh có chút gì là huênh hoang, là sĩ diện như ở những người khác. Anh rất ít khi cãi lộn, nhưng cũng không chơi thân với ai, hầu như chỉ thấy chơi với anh Sirotkin, mà cũng chỉ là những lúc cần đến anh ta mà thôi. Một lần tôi thấy anh nổi giận dữ dội. Người ta không đưa cho anh một cái gì đó, một đồ vật gì đó, chia thiếu cho anh một thứ gì đó. Một anh tù nhân lực lưỡng cãi nhau với anh. Đó là anh chàng cao lớn, hung dữ, hay nhạo báng và không hề biết sợ, tên là Vasili Antonov, là dân thường nhưng bị đi tù. Họ quát tháo nhau hồi lâu và tôi nghĩ rằng sự việc sẽ kết thúc bằng một trận đấm đá đơn giản, bởi vì Petrov, mặc dù rất hiếm hoi, nhưng đôi khi vẫn chửi bới như một tên tù mạt hạng. Thế nhưng lần này chuyện đó không xảy ra: Petrov bỗng tái mặt, môi anh run lên và thâm đen lại, hơi thở nặng nề. Anh rời chỗ đứng lên rồi chậm rãi, thật chậm rãi, với những bước chân trần nhẹ nhàng (mùa hè anh rất thích đi chân trần) anh đến gần Antonov. Bỗng nhiên cùng một lúc cả cái lán trại ồn ào ấy bỗng nhiên câm lặng: một con ruồi bay cũng nghe cánh vỗ. Mọi người chờ cái gì sẽ đến. Antonov nhảy bật lên đón đường, mặt cắt không được hột máu. Tôi không chịu đựng nổi, phải bước ra ngoài lán. Tôi tưởng rằng mình chưa kịp bước khỏi bậc tam cấp thì đã nghe tiếng người bị cắt cổ rống lên. Nhưng lần này sự việc không có hồi kết như vậy. Petrov chưa kịp đến gần Antonov thì anh chàng này đã lặng lẽ và nhanh chóng vứt ra cái vật mà hai bên cãi nhau (Chuyện tranh chấp một vật mọn gì đó, một đôi xà cạp). Chắc hẳn là hai phút sau thế nào Antonov cũng chửi bới Petrov một chút để lương tâm yên ổn và để mọi người không chê, để chứng tỏ rằng anh hoàn toàn không phải hèn nhát như thế. Nhưng Petrov không thèm để ý đến chuyện chửi bới, thậm chí không thèm đáp lại: vấn đề không phải là ở chỗ chửi bới và câu chuyện đã có lợi cho anh. Vấn đề là anh rất hài lòng và đã lấy lại được cái vật mọn ấy. Mười lăm phút sau anh lại đã dạo gót trong trại với vẻ hoàn toàn nhàn nhã và dường như anh đang đi tìm xem người ta có nói ở đâu đó một chuyện gì đáng phải tò mò, để được thò mũi vào đó hóng chuyện. Có vẻ như chuyện gì cũng lôi cuốn anh, nhưng không hiểu sao vẫn có những trường hợp anh tỏ ra rất thờ ơ mọi chuyện và anh đi lang thang trong trại chỉ vì không có việc gì làm, cứ phải đi hết chỗ này chỗ nọ. Người ta cũng có thể so sánh anh với một người lao công, một người lao công lực lưỡng, bị mất việc mà chưa có việc mới, trong lúc chờ đợi anh ta phải ngồi không và chơi đùa với bọn trẻ con. Nhiều lúc tôi cũng không hiểu anh sống trong trại này làm gì, sao anh không chạy trốn đi? Anh đã không nghĩ đến chuyện chạy trốn, nếu như anh chỉ nóng lòng mong muốn điều đó. Đối với những con người như Petrov thì lý trí chỉ chiến thắng trước khi họ mong muốn điều gì. Khi đó thì trên cả trái đất này không có gì cản trở được mong muốn của họ. Còn tôi thì tôi tin tưởng rằng anh có thể chạy trốn được một cách khôn khéo, đánh lừa được mọi người, có thể ngồi một tuần không có bánh mỳ ở một nơi nào đó trong rừng hoặc trong đám lau sậy bên bờ sông mép suối. Nhưng rõ ràng là anh chưa có ý nghĩ ấy và hoàn toàn không mong muốn điều đó. Tôi chưa bao giờ thấy anh có nhiều khả năng suy xét, có lối sống đặc biệt khỏe khoắn. Những con người như thế từ khi được sinh ra đã chịu theo một tư tưởng suốt đời đẩy họ đi đây đi đó một cách vô thức; và thế là họ lang thang suốt đời cho đến khi nào tìm được cho mình một công việc hoàn toàn theo ý muốn, đối với họ đầu óc chả có ý nghĩa gì cả. Đôi khi tôi lấy làm ngạc nhiên làm sao một con người như thế, một người đã cắt cổ thượng cấp của mình chỉ vì bị đánh đập, một người như thế mà ở đây lại nằm im chịu đòn được. Anh ta đã mấy lần bị đánh vì tội mang rượu. Cũng giống như tất cả những tù nhân không có nghề riêng, đôi lúc anh cũng làm nghề chở rượu. Nhưng anh nằm yên chịu đòn cứ như là chính mình đồng ý, có nghĩa là ý thức được công việc của mình, nếu không thế thì anh đã không chịu nằm xuống, dù có bị giết chết đi nữa. Tôi còn thấy ngạc nhiên khi anh đã quấn quít với tôi rồi mà vẫn ăn cắp đồ đạc của tôi. Anh ta giở chứng như thế cũng chỉ có từng thời kỳ mà thôi. Anh lấy của tôi tập Kinh Thánh, mà tôi chỉ cho phép mang đi qua lại chỗ này chỗ kia. Con đường chỉ có mấy bước mà anh ta đã kịp tìm được người mua để bán đi, rồi sau uống rượu hết sạch. Quả thật là anh ta rất thèm rượu, mà cái gì đã thèm thì phải được thực hiện. Có một kẻ như thế đã giết chết người để lấy hai mươi lăm xu đem uống rượu, mặc dù vào lúc khác có thể ném đi hàng trăm ngàn đồng. Chiều tối hôm đó chính anh thú nhận với tôi là đã ăn cắp, chỉ có điều không thấy anh bận tâm suy nghĩ và tỏ ra hối hận, anh hoàn toàn vô tư, coi như một sự quá ư bình thường. Tôi đã thử mắng anh ta một trận nên thân, mà quả thật tôi cũng rất tiếc cuốn Kinh Thánh. Anh ngồi lắng nghe không bị kích động, thậm chí rất ngoan ngoãn. Anh đồng ý rằng Kinh Thánh là cuốn sách rất hữu ích, chân thành hối tiếc rằng bây giờ không có sách nữa, nhưng hoàn toàn không hối hận là anh đã ăn cắp. Anh tỏ ra tự tin đến mức tôi thôi không mắng mỏ nữa. Anh đã chịu nghe tôi mắng, rõ ràng là đã hiểu được rằng với hành động như thế thì không thể không mắng chửi được, mà một khi đã mắng chửi rồi thì người chửi sẽ thấy được an ủi, thấy tâm hồn thư thái, nhưng thực chất thì tất cả những cái đó chỉ là chuyện vớ vẩn, một thứ vớ vẩn mà một người nghiêm túc sẽ thấy xấu hổ khi phải nói ra miệng. Tôi có cảm giác rằng anh ta coi tôi là một đứa trẻ con, gần như là hài nhi, không am hiểu cả những điều tầm thường nhất trên đời. Chẳng hạn, nếu như tự tôi nói với anh một chuyện gì đó ngoài khoa học và sách vở, thì tất nhiên anh ta cũng trả lời tôi, nhưng dường như chỉ vì tôn trọng tôi, nên chỉ trả lời mấy câu ngắn ngủi nhất. Tôi vẫn thường hay tự hỏi mình một câu: anh ta cần gì những kiến thức sách vở mà anh vẫn thường hỏi tôi? Thường là trong những câu chuyện như thế thỉnh thoảng tôi cũng đưa mắt liếc xéo sang anh xem anh ta có cười diễu tôi hay không? Nhưng không; thường là anh ngồi nghe nghiêm túc, chăm chú, mặc dù cũng không phải là chăm chú lắm, và đó là tình huống làm tôi bực mình. Những câu hỏi anh đưa ra là rất chính xác, là trúng vấn đề, nhưng dường như anh lại không mấy ngạc nhiên trước những tri thức nhận được ở nơi tôi và anh đón nhận chúng thậm chí là cũng lơ đễnh. Tôi còn cảm nhận thêm rằng đối với tôi anh chẳng phải suy nghĩ gì khi khẳng định rằng không thể nói như nói với những người khác, rằng ngoài chuyện sách vở tôi sẽ chẳng hiểu gì cả và thậm chí là không có năng lực để hiểu, thế cho nên chẳng có gì cần phải làm tôi bất an.

Tôi tin rằng thậm chí anh cũng yêu mến tôi và điều đó làm tôi rất ngạc nhiên. Liệu anh ta có coi tôi là người chưa trưởng thành, là kẻ chưa đủ trí khôn hay không, liệu anh có sự cảm thông đặc biệt với tôi hay không, thứ cảm thông bản năng của bất kỳ một thực thể mạnh mẽ nào cũng có đối với một thực thể khác rất yếu kém, không hiểu anh có ngộ nhận tôi như thế hay không... những điều đó tôi không biết được. Và mặc dù những điều đó không ngăn cản anh ta ăn cắp của tôi, nhưng tôi tin rằng khi ăn cắp như thế anh ta có thương xót tôi. Nhưng lại có người bảo: “Ôi dào! Khi nó thò tay ra lấy đồ của tôi, chắc là nó đã nghĩ tôi là cái con người quái gì mà đến của cải của mình cũng không biết đường giữ!” Nhưng có thể chính vì thế mà anh ấy yêu tôi. Một lần chính anh ta có vẻ như vô tình bảo tôi rằng “ông là con người có tấm lòng quá tốt”, rằng “ông là người sống thật đơn giản, thật đơn giản đến mức ai cũng phải thấy thương hại”, rồi một phút sau anh ta nói thêm “Chỉ có ông, ông Aleksandr Petrovich ạ, chỉ có ông là người không để bụng giận ai. Tôi thật lòng nói với ông đấy”.

Đối với những con người như thế trong cuộc đời thường có những trường hợp tự nhiên họ bộc lộ mình một cách thật rõ rệt và đậm nét và tự định hình trong những giờ phút có một hành động hoặc một bước ngoặt gì đó quyết liệt và tổng thể và nhờ đó họ lao vào hoạt động đầy đủ của mình. Họ không phải là những người lắm lời và không thể là những người khởi xướng công việc và chỉ đạo công việc, nhưng họ lại là những người thực thi chủ yếu và những người đầu tiên bắt tay vào việc. Họ bắt tay vào một cách đơn giản, không hô hoán gì đặc biệt, thế nhưng lại là những người đầu tiên vượt chướng ngại chính yếu mà không hề phải đắn đo suy nghĩ, không hề sợ hãi, xông thẳng vào chốn chông gai, rồi đó mọi người phải lao đi theo họ, đi theo một cách mù quáng, đi đến tận bức tường cuối cùng, nơi mọi người thường chết tại đó. Tôi không tin rằng Petrov đã kết thúc tốt đẹp, anh ta đến một phút nào đó sẽ kết thúc tất cả cùng một lúc, còn nếu như trước nay anh ta đã ngã gục thì có nghĩa là trường hợp của anh ta chưa tới. Thế nhưng ai mà biết được? Có thể anh ta sẽ sống đến lúc đầu bạc răng long và sẽ chết già một cách thật là êm thấm và được vô công rồi nghề đi đây đi đó. Nhưng tôi vẫn có cảm giác rằng ông M. nói đúng khi ông bảo rằng trong toàn trại này anh ta mới là người sống quyết liệt nhất.

❀ ❀ ❀

[1] Mỗi sazhen bằng 2,134 m (N.D.).

[2] Mỗi vérsta bằng 1,0668 km (N.D.).

Võ Minh Phú và Lê Đức Mẫn dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.