Hà Nội nay đang còn thiếu nhiều tượng đài rất cần cho bộ mặt một Thủ đô nghìn năm văn hiến, hơn nữa tượng đài cũng sẽ góp phần nâng cao trình độ hiểu biết về địa lí, lịch sử, danh nhân từ ngàn xưa để lại, nâng cao lòng yêu nước và tự hào về Đất nước, về Thủ đô, từng được thế giới ca ngợi là Thủ đô của phẩm giá con người.
Báo Thể thao Văn Hóa Hà Nội số 28 ngày 8 tháng 6 năm 1998 đưa tin thành phố đang mở cuộc thi các mẫu tượng đài và đang cân nhắc các nơi đặt các tượng đài ấy. Đó là một tin mừng cho Hà Nội, chứng tỏ lãnh đạo thành phố đã nhìn về tương lai, có thể thỏa mãn ao ước của người Hà Nội từ bao năm nay, tạo ra nét mới trong lòng dân cả nước và du khách muôn phương khi về thăm Hà Nội.
Trước đây ít tuần lễ, báo chí cũng đã nêu vấn đề này như một gợi ý ngay từ khi cái mầm cây mới cựa mình thoát ra khỏi vỏ, để cái cây sẽ được trồng là cây gì ở đâu, tránh một sự đã rồi đáng tiếc như cây hoa gạo cửa đền Ngọc Sơn, khi báo chí lên tiếng thì nó đã chết hẳn, chỉ còn cách chặt đi mà không thể cứu được nữa (cây gạo ấy bị hạ ngày 8/6/1998), hoặc tượng đài chiến thắng Ngọc Hồi chỉ còn chìm khuất trong lau cỏ bên đường sắt xuôi Nam, hoặc tượng đài vua Quang Trung cũng vì không cân nhắc nơi đặt nên đã chìm khuất vào sau gò Đống Đa, lặng im với tịch mịch thời gian và không gian, người đi qua gò Đống Đa mà không rẽ vào chiêm ngưỡng.
Sự cân nhắc dựng tượng đài biểu tượng điều gì, tượng nhân vật nào và sẽ đặt ở đâu, quả là một khó khăn, bởi nhiều lí do xã hội, chính trị, văn hóa...
Thật đáng tiếc chúng ta phá bỏ tấm bia nói về nhân vật Alecxandre de Rhodes ở vườn hoa đền Bà Kiệu, một nhân vật tuy là người nước ngoài nhưng lại có công rất lớn với nền văn hóa Việt Nam, người phát minh ra chữ quốc ngữ cho dân tộc ta ngày nay, một thứ chữ dễ đọc, không như chữ Hán, chữ Nôm học mười năm chưa dễ đã thông. Tấm bia này cần sớm được dựng lại tại Hà Nội. Cũng may, khi Thị trưởng Hà Nội năm 1945 ông Trần Văn Lai cho phá bỏ các tượng đài do thực dân dựng lên, để xóa đi một thời nô lệ, ông vẫn cho giữ lại pho tượng nhà bác học Pasteur, con người, dù là người Pháp, nhưng có công với toàn nhân loại, trong đó có chúng ta.
Với nhãn quang nhìn sâu và nhìn xa của lãnh đạo thành phố, đương nhiên có sự chỉ đạo của Trung ương, cộng thêm sự uyên bác của nhiều chuyên gia về Hà Nội, công việc chọn và tìm nơi dựng các tượng đài sẽ được cân nhắc kĩ lưỡng, tránh được vết xe đổ một thời ấu trĩ hoặc duy ý chí.
Chuẩn bị 1000 năm Thăng Long, phải có biểu tượng Thăng Long, phải dựng tượng Lý Công Uẩn, là rất phải lẽ, nhưng nước ta cũng còn rất nhiều danh tướng, danh nhân, như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, có thể tính đến hàng trăm nhân vật, việc chọn ai và kích cỡ thế nào cho thỏa đáng, là vấn đề không thể không cẩn trọng. Đương nhiên, rất nhiều nhân vật chúng ta không có chân dung chính xác, mà chỉ bằng vào tấm lòng của người nay mà tưởng tượng, bằng vài tài năng của các nhà điêu khắc, bằng vào sự thẩm duyệt của người có trách nhiệm... nhưng tượng đài không như một cái cây hoa, một tấm biển, mà nó phải được trường tồn, vượt thời gian, lưu lại cho nhiều đời sau chiêm ngưỡng.
Về không gian càng cần có sự cẩn trọng hơn. Nghe nói đang cân nhắc nơi đặt tượng Bác Hồ, hoặc tượng Thăng Long là con rồng và tượng Lý Công Uẩn đặt trong khu thành nội, gần điện Kính Thiên xưa v.v... Chúng ta biết khu quân đội hiện nay rất “kín cổng cao tường”, chắc dăm ba chục năm cũng chưa thể thay đổi nhanh chóng, để đông đúc nhân dân và du khách vào đây tự do như khu phố cổ. Vậy có nên đặt tượng đài nơi ấy, nơi chỉ có gió trăng qua lại, như tượng Quang Trung hiện nay?
Ở vườn hoa Chi Lăng đang còn một nhà bia để hoang phế, cái nhà bia giống hệt cái cũ ở vườn hoa đền Bà Kiệu trước đây, từ khi vườn hoa này đặt tượng Lê Nin thì hình như càng hoang phế hơn. Có nhiều ý kiến tán thành nên chuyển tượng Lê Nin về vườn hoa Lê Nin, và sửa sang lại nhà bia này. Nơi đây nên chăng đặt tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, hay tượng Hoàng Diệu, người đã chết cho Thăng Long, Hà Nội và cái Võ Miếu nơi ông tự tận cũng gần khu vực này, với Cửa Bắc, Cột Cờ?
Chúng ta còn có nhiều địa điểm khá đẹp để đặt tượng đài, hình như những nơi ấy sinh ra để chờ có một tượng đài đặt vào. Ngã ba Cầu Chui, ngã ba đường cao tốc Thăng Long - Cầu Giấy, nhất là xung quanh Hồ Gươm, từ vườn Chí Linh đến quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục (chỗ đài phun nước), ngã tư Tràng Tiền - Hàng Khay (Quán Hoa ngày trước), hoặc vườn hoa Cửa Nam, tuy đã thu nhỏ nhưng lưu lượng người qua lại thì “rất Hà Nội”.
Ngã tư Đại Cồ Việt - Kim Liên, cửa ô Đồng Lâm xưa cũng là nơi đáng đặt một tượng đài. Quảng trường Nhà hát Lớn nữa...?
Dựng tượng đài là dựng cái đẹp, dựng lịch sử và văn hóa, mà các yếu tố này phải được nhiều người biết đến hàng ngày, chứ nếu “áo gấm đi đêm”, “mờ mờ nhân ảnh” thì thật phí công, phí của. Hẳn các nhà lãnh đạo, các chuyên gia không quên các vấn đề cốt tử ấy, và đã hoặc đang tìm nơi dựng tượng.
Cũng nghe nói khu nhà Thái học sau Văn Miếu sẽ được dựng lại. Mong sao công trình ở đây không là hộp vuông nhôm kính phá vỡ cảnh quan trang nghiêm và cổ kính của Văn Miếu. Và ở đây cũng có thể đặt một tượng đài, như Chu Văn An chẳng hạn.
Nói trước vấn đề này chẳng khác nào cầm đèn chạy trước xe lửa, nhưng có lẽ nó cũng là sự mong mỏi, niềm mơ ước của hàng triệu người, nói trước cũng không thừa, vì đã rút được kinh nghiệm mấy pho tượng đài đang có, ngày càng lộ ra những nhược điểm về địa điểm.
Hà Nội như chuyến xe đang lăn bánh đến ga 2000 và ga thiêng liêng hơn nhiều: Ga một nghìn tuổi của mình. Ngày ấy hẳn Hà Nội sẽ tưng bừng không kể xiết, trong đó các tượng đài ở những nơi đáng có cũng góp phần không nhỏ.
Những bộ óc thông tuệ và những tài năng chắc đang căng ra để cho Hà Nội sẽ có những tượng đài ở những nơi xứng với nó, chắc sẽ không đến nỗi đi vào vết lỗi lầm trước làm cho tượng đài không có tác dụng giáo dục, không ai biết, khiến nó hầu như không tồn tại.
Người Hà Nội và hàng triệu tấm lòng khác đang khắc khoải đợi chờ sự cân nhắc kĩ càng trong một việc làm lớn rất đáng biểu dương của Hà Nội.
Tháng 6 / 1998