Vào sáng Chủ nhật, ngày 16 tháng 9 năm 1798, con tàu thư tín đi Hamburg nhổ neo rời Yarmouth; và tôi, lần đầu tiên trong đời, ngắm nhìn quê hương chìm khuất dần xa. Ngay tại khoảnh khắc ấy—trong tất cả các nhà thờ lớn, nhà thờ nhỏ, nhà nguyện và điện thờ, nơi mà phần lớn, tôi hy vọng, đồng bào tôi đang tụ họp lúc bấy giờ—tôi dám chắc rằng chẳng có nổi một lời cầu nguyện nào thành kính dâng lên Thiên đàng hơn lời cầu nguyện mà tôi đã hướng về đất nước mình khi ấy.
“Thế là,” (tôi nói với một quý ông đang đứng cạnh,) “chúng ta đã rời khỏi quê hương rồi.”
“Vẫn chưa, vẫn chưa đâu!” ông đáp, rồi chỉ ra biển; “Cả nơi này nữa, cũng là xứ sở của người Anh.”
Câu nói đùa dí dỏm ấy làm tinh thần tôi phấn chấn hẳn lên, tôi đứng dậy và quan sát những bạn đồng hành đều đang ở trên boong tàu. Tổng cộng chúng tôi có mười tám người, cụ thể là: năm người Anh, một nữ quý tộc người Anh, một quý ông người Pháp cùng người hầu của ông ta, một người Hanover cùng người hầu, một người Phổ, một người Thụy Điển, hai người Đan Mạch, một cậu bé lai, một thợ may người Đức cùng vợ (cặp vợ chồng nhỏ con nhất mà tôi từng thấy), và một người Do Thái.
Tất cả chúng tôi đều ở trên boong; nhưng chẳng mấy chốc tôi đã nhận thấy những dấu hiệu hoang mang. Người quý bà lui về cabin với vẻ bối rối, và nhiều gương mặt xung quanh tôi bắt đầu mang sắc thái sầu thảm, tái xanh như loài ếch; chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ, số người có mặt trên boong đã giảm đi một nửa.
Tôi cảm thấy chóng mặt nhưng không nôn mửa, và cơn chóng mặt cũng sớm qua đi, chỉ để lại một cơn sốt nhẹ cùng cảm giác chán ăn mà tôi cho là phần lớn do thứ khí độc nồng nặc (saeva Mephitis) từ vùng nước tù dưới đáy tàu; và tình trạng ấy chắc chắn không hề thuyên giảm bởi những sản phẩm “xuất khẩu” từ dưới cabin phát ra.
Tuy nhiên, tôi vẫn đủ sức khỏe để nhập bọn với những hành khách còn tráng kiện. Một người trong số họ đã nhận xét rất đúng ý rằng vị thần cười Momus hẳn đã tìm ra một cách dễ dàng hơn để nhìn thấu ruột gan con người, thay vì đặt một khung cửa sổ trước ngực họ; ông ta chỉ cần cho họ làm một chuyến đi biển bằng tàu thư tín là đủ.
Tôi nghiêng về ý kiến cho rằng một con tàu thư tín vượt trội hơn hẳn xe ngựa công cộng trong việc phá vỡ vỏ bọc khép kín giữa người với người. Trên xe ngựa, tư thế đơn điệu dễ đưa ta vào giấc ngủ, và thời gian kết thúc hành trình đã được ấn định rõ ràng khiến mỗi cá nhân bận tâm đến những người họ sắp gặp hơn là những kẻ đang đồng hành cùng họ.
Nhưng ở trên biển, sự tò mò được khơi gợi mạnh mẽ hơn, chí ít là vì phẩm chất dễ chịu hay khó chịu của bạn đồng hành mang ý nghĩa lớn lao hơn đối với bạn, do ta chẳng thể biết chắc mình sẽ phải chung đụng với họ trong bao lâu. Hơn nữa, nếu các bạn cùng đồng hương, điều đó bắt đầu tạo nên sự gắn kết và tình anh em; còn nếu đến từ những quốc gia khác nhau, sẽ có thêm những kích thích mới cho cuộc trò chuyện, nhiều điều để hỏi và nhiều điều để sẻ chia.
Tôi nhận ra mình đã khơi gợi được sự quan tâm không hề nhỏ ở những người Đan Mạch. Lúc nãy tôi đã lủi vào chiếc xuồng trên boong rồi thiếp ngủ đi; nhưng rồi bị đánh thức vào khoảng ba giờ chiều bởi một người trong số họ, kẻ bảo rằng họ đã tìm kiếm tôi ở mọi xó xỉnh và nài nỉ tôi gia nhập nhóm của họ để cùng nâng ly.
Anh ta nói tiếng Anh trôi chảy đến mức khiến tôi hoàn toàn chẳng tài nào lý giải nổi sự sai sót kỳ lạ, thậm chí buồn cười trong cách phát âm của anh ta. Tôi bước đến và tìm thấy một số loại rượu vang tuyệt vời cùng đĩa tráng miệng gồm nho và dứa.
Mấy người Đan Mạch đã đặt cho tôi biệt danh là “Bác sĩ Thần học” (Doctor Teology), và với bộ trang phục toàn một màu đen, đôi giày lớn cùng đôi bít tất len đen, quả thực tôi trông rất giống một nhà truyền giáo phái Giám lý. Tuy nhiên, tôi từ chối tước hiệu ấy.
“Thế anh là gì? Một người giàu có sao? Không!—Một thương gia? Không!—Một nhân viên du lịch của hãng buôn? Không!—Một nhân viên văn thư? Không!—Hay là một nhà triết học (un Philosophe) chăng?”
Đó là quãng thời gian trong đời mà trong mọi cái tên hay thân phận có thể có, tôi căm ghét nhất cái mác “un Philosophe”. Nhưng tôi đã quá mệt mỏi với việc bị tra hỏi, và thà làm một kẻ vô danh, hoặc tệ nhất chỉ là một khái niệm trừu tượng về con người, còn hơn là tiếp tục đôi co; thế là tôi cúi đầu chấp nhận cả hàm ý mỉa mai trong từ “un Philosophe”.
Người Đan Mạch bấy giờ liền thông báo rằng tất cả những người trong nhóm hiện tại cũng đều là Triết gia cả. Quả thực, chúng tôi chẳng thuộc trường phái Khắc kỷ nào đâu, bởi chúng tôi cứ uống, cứ nói rồi lại hát cho đến khi tất cả cùng nhao nhao lên; rồi chúng tôi đứng dậy nhảy múa trên boong một chùm vũ điệu mà xét theo một khía cạnh nào đó, được gọi tên một cách cực kỳ chuẩn xác và hợp lý là những điệu nhảy đảo điên (reels).
Những hành khách đang nằm dưới cabin trong muôn vàn đớn đau của chứng say sóng hẳn đã phải thấy bữa tiệc bợm nhậu của chúng tôi là:
Một giai điệu
Khàn đỗi, bất hòa với nỗi niềm than thở của họ.
Lúc bấy giờ tôi cũng nghĩ thế; và (có lẽ để củng cố cho nhân dạng triết gia mới mang của mình), tôi cũng ngẫm nghĩ xem phần lớn các đức hạnh của chúng ta gắn chặt chẽ đến nhường nào với nỗi sợ cái chết, và ta dành ít sự đồng cảm cho nỗi đau đớn biết bao khi ở đó chẳng hề có chút nguy hiểm nào.
Hai người Đan Mạch là anh em ruột. Người thứ nhất có làn da trắng trong, tóc trắng và lông mày trắng; trông có vẻ khờ khạo, và chẳng có lời nào thốt ra từ miệng ông ta lại đi ngược lại cái vẻ ngoài ấy.
Người thứ hai, kẻ mà theo cách gọi nổi bật hơn tôi đã gọi là “gã Đan Mạch”, cũng có mái tóc trắng nhưng thấp hơn hẳn anh trai, với chân tay mảnh khảnh và khuôn mặt gầy hốc hác rỗ hoa nhẹ. Người này đã khiến tôi phải công nhận tính đúng đắn của một nhận xét cũ rằng: rất nhiều bức chân dung trung thực trong tiểu thuyết và kịch hề của chúng ta từng bị chỉ trích một cách vội vã là sự phóng đại lố bịch, hoặc có lẽ là một thứ không có thật.
Tôi vừa lui về chỗ ngồi quen thuộc trong chiếc xuồng—thì hắn bước đến, ngồi phịch xuống bên cạnh tôi và có vẻ ngà ngà say. Hắn mở đầu câu chuyện bằng một điệu bộ vô cùng hoa mỹ, và như một cách dọn đường cho sự tự mãn của chính mình, hắn nịnh nọt tôi một cách thô thiển đến mức lũ kẻ ăn bám trong kịch cổ xem ra vẫn còn quá ư khiêm tốn nếu đem ra so sánh.
Ngôn ngữ và cách phát âm của hắn kỳ quặc đến mức tôi quyết định phá lệ ghi chép lại một cuộc trò chuyện. Dưới đây là nội dung của nó, tuy có phần được lược bớt, nhưng ở mọi mặt khác đều chính xác như trí nhớ của tôi cho phép.
GÃ ĐAN MẠCH. Trí tưởng tượng đâu! ngôn ngữ đâu! kiến thức bao la đâu! và đôi mắt nào chứ! một chiếc trán trắng như sữa thế kia! Ồ thánh thần ơi! chao ôi, anh đúng là một vị thần!
ĐÁP. Ngài quá khen rồi, thưa Ngài.
GÃ ĐAN MẠCH. Ôi trời! lỡ anh nghĩ là tôi đang nịnh bợ anh thì sao!—Không, không, không! Tôi có mười ngàn một năm—vâng, mười ngàn một năm—vâng, mười ngàn bảng một năm! Nào—và cái đó là cái thá gì chứ? Chỉ là chuyệnn vặt vãnh thôi! Tôi đời nào đổi tấm lòng chân thành của mình lấy gấp mười số tiền ấy. Vâng, anh là một vị thần! Còn tôi chỉ là kẻ phàm trần! Nhưng, bạn hiền của tôi ơi! hãy nghĩ về tôi như một con người đi! Có, có—ý tôi muốn hỏi anh lúc này, bạn hiền của tôi ơi—có phải tôi rất hùng biện không? Có phải tôi nói tiếng Anh rất hay không?
ĐÁP. Quá đỗi tuyệt vời! Tin tôi đi, thưa Ngài! Tôi hiếm khi nghe được cả một người bản xứ nào nói trôi chảy đến thế.
GÃ ĐAN MẠCH. (Siết chặt tay tôi với vẻ đầy xúc động.) Bạn hiền của tôi ơi! tình cảm và lòng trung thành mà chúng ta dành cho nhau mới lớn lao làm sao! Nhưng nói tôi nghe đi, hãy nói cho tôi nghe—Có phải tôi, cứ thỉnh thoảng, lại nói sai sót chỗ nào không? Có phải tôi có điểm nào chưa đúng không?
ĐÁP. Ờ, thưa Ngài! có lẽ những nhà phê bình tinh tế về tiếng Anh sẽ nhận thấy rằng thỉnh thoảng ngài dùng từ “is” (thì/là) thay vì dùng từ “am”. Trong những tầng lớp thượng lưu của chúng tôi, thông thường chúng tôi nói “I am” [tôi là], chứ không nói “I is” hay “I’s”. Xin ngài thứ lỗi nhé! đó chỉ là chuyện nhỏ nhặt thôi.
GÃ ĐAN MẠCH. Ô!—is, is, am, am, am. Vâng, vâng—tôi biết, tôi biết chứ.
ĐÁP. I am, thou art, he is, we are, ye are, they are [Tôi là, anh là, hắn là, chúng ta là, các anh là, họ là].
GÃ ĐAN MẠCH. Vâng, vâng—tôi biết, tôi biết—Am, am, am là thì hiện tại (praesens), còn is là thì quá khứ (perfectum)—vâng, vâng—và are là thì quá khứ hoàn thành (plusquam perfectum).
ĐÁP. Còn từ “art”, thưa Ngài, thì là—?
GÃ ĐAN MẠCH. Bạn hiền của tôi ơi! đó là thì quá khứ hoàn thành—không, không—đó là một lời nói dối to tát; are mới là thì quá khứ hoàn thành—còn art là thì quá khứ-hơn-cả-hoàn-thành (plasquam plue-perfectum)—(rồi vung tay tôi qua lại, ném về phía tôi đôi mắt màu hạt dẻ nhỏ xíu sáng rực, lấp lánh sự tự mãn và hơi men)—Anh thấy chưa, bạn hiền của tôi, rằng tôi cũng có đôi chút học thức đấy chứ?
ĐÁP. Học thức ư, thưa Ngài? Ai dám hoài nghi điều đó? Ai có thể lắng nghe ngài dẫu chỉ một phút, thậm chí ai có thể nhìn ngài mà không nhận ra tầm vóc uyên bác ấy cơ chứ?
GÃ ĐAN MẠCH. Bạn hiền của tôi!—(rồi với vẻ mặt ra điều khiêm nhường và giọng điệu như thể đang suy luận) Tôi nào có thể bàn luận về tôm hùm (prawns) cùng thì hiện tại (imperfectum), thì tương lai (futurum), thì quá khứ-hơn-cả-hoàn-thành (plusquamplue perfectum) và đủ thứ trên đời, bạn hiền của tôi ạ! nếu như không có chút học thức nào cơ chứ?
ĐÁP. Thưa Ngài! một người như ngài chẳng thể bàn luận về bất kỳ chủ đề nào mà không làm lộ rõ chiều sâu hiểu biết của mình.
GÃ ĐAN MẠCH. Tiếng Hy Lạp ngữ pháp, bạn tôi ạ; ha! ha! Ha! (cười vang và vung tay tôi qua lại—rồi đột ngột chuyển sang vẻ cực kỳ nghiêm trang) Giờ tôi sẽ kể cho anh nghe, bạn hiền của tôi ơi! Đã có chuyện xảy ra với tôi mà toàn bộ sử liệu Đan Mạch chẳng ghi chép được tiền lệ nào về bất kỳ ai khác. Vị giám mục đã khảo hạm tôi tất cả các câu hỏi về mọi tôn giáo trong cuốn sách ngữ pháp tiếng Latinh.
ĐÁP. Ngữ pháp ư, thưa Ngài? Chắc ý ngài là ngôn ngữ—
GÃ ĐAN MẠCH. (Hơi tỏ vẻ mếch lòng.) Ngữ pháp chính là ngôn ngữ, và ngôn ngữ chính là ngữ pháp—
ĐÁP. Muôn vàn xin lỗi ngài!
GÃ ĐAN MẠCH. Nào, và tôi khi ấy mới chỉ có mười bốn tuổi—
ĐÁP. Mới chỉ mười bốn tuổi thôi sao?
GÃ ĐAN MẠCH. Không hơn. Tôi mới mười bốn tuổi—và ngài ấy hỏi tôi mọi câu hỏi, về tôn giáo lẫn triết học, và tất cả đều bằng tiếng Latinh—và tôi đã đáp lại ngài ấy tất tần tật, từng câu một, bạn hiền của tôi ạ! tất cả đều bằng tiếng Latinh.
ĐÁP. Một thần đồng! Quả là một kỳ quan đích thực!
GÃ ĐAN MẠCH. Không, không, không! ngài ấy là một giám mục, một giám thị lớn.
ĐÁP. Vâng! một vị giám mục.
GÃ ĐAN MẠCH. Một vị giám mục—chứ không phải kẻ thuyết giáo quèn, không phải một prediger.
ĐÁP. Thưa ngài quý mến! chúng ta đã hiểu lầm nhau rồi. Ý tôi là việc ngài đối đáp bằng tiếng Latinh khi còn ở độ tuổi quá trẻ như vậy là một kỳ tích, nghĩa là một điều phi thường; một việc hiếm khi xảy ra.
GÃ ĐAN MẠCH. Hiếm á! Chẳng có lấy một trường hợp nào được ghi lại trong toàn bộ sử liệu Đan Mạch cả.
ĐÁP. Và kể từ dạo ấy, thưa Ngài—?
GÃ ĐAN MẠCH. Tôi được cử sang Tây Ấn—đến hòn đảo của chúng tôi, và ở đó tôi chẳng còn phải bận tâm gì đến sách vở nữa. Không! không! tôi hướng thiên tài của mình sang ngả khác—và tôi đã kiếm được mười ngàn bảng một năm. Đó chẳng phải là thiên tài sao, bạn hiền của tôi?—Nhưng tiền tài là cái thá gì chứ? Tôi nghĩ kẻ nghèo khó nhất trên đời này cũng bình đẳng với tôi. Vâng, bạn hiền của tôi; khối tài sản nhỏ bé của tôi mang lại niềm vui cho tấm lòng hào hiệp của tôi, bởi vì tôi có thể làm việc thiện—chẳng có ai với khối tài sản khiêm tốn nhường ấy lại từng hành động hào hiệp đến thế—chẳng một ai—không một người đàn ông nào, không một người phụ nữ nào phủ nhận điều đó. Nhưng tất cả chúng ta đều là con của Chúa.
Đến đây, gã người Hanover xen vào, rồi vị khách Đan Mạch kia, người Thụy Điển và người Phổ cũng nhập bọn với chúng tôi, cùng một thanh niên người Anh nói tiếng Đức trôi chảy, người đã dịch lại cho tôi nghe rất nhiều câu chuyện cười của tay người Phổ.
Tay người Phổ là một thương gia du hành đã qua tuổi sáu mươi, một kẻ tráng kiện, cao lớn, vạm vỡ và đậm người, đầy ắp những câu chuyện cười, điệu bộ cùng trò hề, sở hữu tâm hồn lẫn diện mạo của một gã hề mãi võ, kẻ vừa làm bạn cười vừa móc túi bạn. Giữa tất cả những nét mặt buồn cười và điệu bộ buồn cười ấy, vẫn còn sót lại một ánh nhìn chẳng hề bị tiếng cười chạm tới; và ánh nhìn đơn độc ấy mới chính là gương mặt thật, những cái khác chỉ là chiếc mặt nạ của hắn mà thôi.
Gã người Hanover là một thanh niên béo múp míp, da tái nhợt, có cha từng kiếm được khối tài sản kếch xù ở London với tư cách là nhà thầu cung cấp quân lương. Hắn dường như muốn ganh đua với phong thái của những thanh niên giàu có người Anh. Hắn là một kẻ tốt bụng, không phải là không có kiến thức hay chữ nghĩa; nhưng lại là một tên công tử bột hết chỗ nói.
Hắn có thói quen lui tới Viện Thứ dân và từng phát biểu, theo lời hắn kể, với rất nhiều tràng pháo tay tán thưởng trong một hội quán tranh biện. Để chuẩn bị cho việc này, hắn tỏ ra chăm chỉ đến đáng khen: vì hắn đã thuộc làu cuốn Từ điển Phát âm của Walker, và với chất giọng khiến tôi nhớ mạnh mẽ đến gã người Scotland trong truyện *Roderic Random* – kẻ tự nhận dạy cách phát âm tiếng Anh – hắn liên tục tham vấn phán đoán vượt trội của tôi xem liệu tôi có phát âm từ này hay từ kia một cách đúng đắn, hay đúng “vẻ tinh tế đích thực” hay không.
Khi hắn nói, dù chỉ là nửa tá câu đi nữa, hắn luôn đứng dậy: và tôi chẳng thể tìm ra động cơ nào khác ngoài sự thiên vị của hắn dành cho cụm từ thanh lịch được sử dụng phóng khoáng trong các bài diễn văn của các nhà lập pháp Anh quốc: “Trong lúc tôi đang đứng đây phát biểu.”
Gã người Thụy Điển – kẻ mà vì những lý do sẽ sớm lộ diện, tôi sẽ gọi bằng danh xưng “Quý tộc” (Nobility) – là một người đàn ông có những đường nét khuôn mặt thô kệch, mặt rỗ chàm, với làn da trông có màu sắc như một thanh củi sắt nung đỏ đang nguội dần. Hắn tỏ ra bám víu một cách thảm hại vào gã Đan Mạch; tuy nhiên, hắn lại là kẻ có hiểu biết nhất và lý trí nhất trong nhóm. Quả thực, cung cách và cách trò chuyện của hắn cho thấy hắn vừa là một người từng trải vừa là một quý ông.
Lão Do Thái ở dưới hầm tàu; vị quý ông người Pháp thì đang nằm bệt trên boong vì quá mệt đến mức tôi chẳng thể quan sát được gì về ông ta, ngoại trừ sự chăm sóc ân cần của người đầy tớ dành cho mình. Bản thân tội nghiệp kia cũng vô cùng mệt mỏi, chốc chốc lại chạy ra mạn tàu, mắt vẫn không rời khỏi chủ nhân, nhưng rồi lại quay về ngay lập tức và ngồi xuống bên cạnh ông, lúc thì đỡ đầu, lúc thì lau trán cho ông và trò chuyện suốt bằng những giọng điệu êm dịu nhất.
Đã có một vụ lục đục gia đình mang tính chất vô cùng buồn cười diễn ra dưới cabin giữa gã thợ may người Đức nhỏ thó và người vợ bé nhỏ của hắn. Hắn đã thuê hai chiếc giường, một cho mình và một cho vợ. Điều này khiến người vợ nhỏ thỏm thấy đó là một hành động tàn nhẫn; bà nài nỉ người thủy thủ trưởng bằng những giọng điệu thảm thiết nhất rằng bà là vợ hợp pháp của hắn. Thủy thủ trưởng và cậu bé phục vụ cabin đã đứng về phía bà, mắng mỏ gã đàn ông vì tội thiếu dịu dàng với rất nhiều sự hài hước, rồi nhấc bổng hắn ném vào chung khoang với người vợ đang say sóng của mình. Vụ cãi vã này rất thú vị đối với tôi, vì nhờ đó mà tôi có được một chiếc giường – thứ mà nếu không có vụ này thì tôi đã chẳng thể có được.
Vào buổi tối, lúc bảy giờ, sóng cuộn cao hơn, và gã Đan Mạch, nhờ sự tròng trành mạnh hơn nữa, đã nôn ra bớt những thứ hắn vừa nốc vào để lấy chỗ nạp thêm nhiều thứ khác. Thức uống khoái khẩu của hắn là đường pha brandy, nghĩa là một chút nước ấm với một lượng lớn brandy, đường và nhục đậu khấu.
Cậu thiếu niên phục vụ cho hắn, một đứa trẻ lai da đen mắt lánh, có khuôn mặt tròn phúc hậu, đúng bằng màu da của lớp vỏ hạt óc chó. Gã Đan Mạch và tôi lại ngồi đối diện nhau trong chiếc xuồng cứu sinh của tàu. Cuộc trò chuyện, mà lúc này thực ra giống một bài diễn văn hơn là một cuộc đối thoại, đã trở nên hoang đường vượt ngoài mọi thứ tôi từng nghe.
Hắn bảo rằng hắn đã kiếm được một gia tài kếch xù trên hòn đảo Santa Cruz, và giờ đang trở về Đan Mạch để tận hưởng nó. Hắn huyên thuyên về phong cách sống mà hắn dự định theo đuổi, và những đại sự mà hắn tự đặt ra để khởi xướng, cho đến khi hơi men tiếp sức cho sự tự mãn của hắn, và sự tự mãn cùng tính ba hoa lại tiếp sức cho hơi men, khiến hắn nói năng như một kẻ mất trí — nài nỉ tôi đi cùng hắn sang Đan Mạch — ở đó tôi sẽ thấy tầm ảnh hưởng của hắn đối với chính phủ, và hắn sẽ giới thiệu tôi với nhà vua, v.v., v.v.
Cứ thế hắn vừa mơ mộng lớn tiếng, vừa chuyển hướng sang chủ đề chính trị đại cương với một giọng điệu trữ tình không kém, diễn thuyết hệt như một thành viên của Hội Tương ứng (Corresponding Society) về (chứ không phải bàn về) các Quyền của Con người, và cam đoan với tôi rằng, bất chấp khối tài sản của mình, hắn coi kẻ nghèo khổ nhất trên đời này cũng bình đẳng với hắn.
“Mọi người đều bình đẳng, bạn hiền của tôi ạ! Tất cả đều bình đẳng! Chúng ta đều là con của Chúa. Kẻ nghèo nhất cũng có những quyền lợi giống như tôi. Jack! Jack! Thêm chút đường và brandy nữa nào! Kìa nhìn gã đó xem! Hắn là người lai—nhưng hắn là bình đẳng của tôi.—Đúng lắm, Jack! (lấy đường và brandy). Nào ngài đây! Hãy bắt tay với quý ông này mau! Bắt tay với tôi đi, đồ chó! Kìa, kìa!—Chúng ta đều bình đẳng, bạn hiền của tôi ơi! Tôi nói chuyện có giống Socrates, Plato và Cato không—họ đều là những triết gia, hỡi nhà triết học thân mến của tôi! Toàn là những vĩ nhân!—và Homer với Virgil cũng vậy—nhưng họ là những nhà thơ. Vâng, vâng! Tôi biết tất tần tật về chuyện đó!—Nhưng ai có thể nói được điều gì lớn lao hơn thế này chứ? Chúng ta đều bình đẳng, đều là con của Chúa. Tôi có mười ngàn một năm, nhưng tôi cũng chẳng hơn gì kẻ hạ tiện nhất đời này. Tôi chẳng có sự kiêu ngạo nào cả; thế mà, bạn hiền của tôi ơi! tôi có thể nói: hãy làm đi! và việc đó được làm ngay. Ha! ha! ha! bạn hiền của tôi! Nào, nhìn vị quý ông kia kìa (chỉ về phía Quý tộc) ông ấy là một nam tước Thụy Điển—anh sẽ thấy ngay thôi. Này! (gọi với theo gã người Thụy Điển) lấy hộ tôi một chai rượu vang dưới cabin lên nào.
THỤY ĐIỂN.—Này Jack! xuống lấy cho chủ mày một chai rượu vang dưới cabin đi.
ĐAN MẠCH.—Không, không, không! Cậu đi đi—cậu tự đi lấy đi—cậu đi lấy ngay đi!
THỤY ĐIỂN.—Pha!—
ĐAN MẠCH.—Đi đi nào! Đi đi, tôi cầu xin cậu đấy.” Và thế là gã người Thụy Điển đành lủi thủi đi!!
Sau đó, gã Đan Mạch bắt đầu bài diễn văn về tôn giáo, và vì nhầm lẫn tôi là một triết (un philosophe) theo nghĩa lục địa của từ này, hắn bàn về Đấng Tối Cao bằng một giọng điệu hùng biện, rất giống với những tràng lảm nhảm sùng đạo của gã thô lỗ vụng về Thomas Paine trong cuốn *Thời đại lý trí* (Age of Reason), rồi thì thầm vào tai tôi rằng toàn bộ cái trò Chúa Giê-su ấy hóa ra chỉ là sự đạo đức giả khốn kiếp nhường nào.
Tôi dám chắc rằng có rất ít người ít có lý do để tự trách mình vì tội thích chế giễu (persiflage) hơn tôi. Tôi căm ghét nó, dẫu chỉ vì đó là thói hư tật xấu của người Pháp, và cảm thấy tự hào khi tránh được nó, bởi ngôn ngữ của chính chúng ta quá đỗi bộc trực đến mức chẳng có nổi một từ để diễn tả điều đó.
Nhưng trong trường hợp này, sự cám dỗ đã quá đỗi lớn lao, và tôi đành xếp nó vào danh sách những lỗi lầm của mình. Pericles từng đáp lại một trong những người bạn thân thiết nhất của mình – người đã nài nỉ ông trong một vụ việc liên quan đến sinh tử rằng hãy thề một lời thề lập lờ để bảo toàn mạng sống: *Deo amicis opitulari, sed usque ad Deos* [75]. Ngay cả tình bạn cũng phải đặt bước chân cuối cùng và táo bạo nhất của mình ở phía bên này bàn thờ.
Những gì Pericles từ chối làm để cứu mạng một người bạn, bạn có thể đoan chắc rằng tôi sẽ không mạo hiểm làm chỉ để khuấy cái bình sô-cô-la chứa đựng sự tự mãn của một gã say xỉn cho đến khi nó sủi bọt tràn ra ngoài. Ra vẻ mặt nghiêm nghị, tôi tuyên bố mình là một người có đức tin, và thế là lập tức ghi điểm sâu sắc trong lòng hắn.
Hắn lui về cabin của mình, còn tôi quấn chặt chiếc áo khoác đại cán và ngắm nhìn dòng nước. Một đám mây bọt trắng xóa đẹp đẽ cứ chốc chốc lại lướt qua mạn tàu cùng tiếng gầm vang, và những đốm sao lửa nhỏ xíu nhảy múa, lấp lánh rồi tắt ngấm trong đó; để rồi thỉnh thoảng, những dải mây bọt trắng ấy lại tách khỏi mạn tàu, mỗi dải mang theo một chòm sao nhỏ của riêng mình, lao vút đi trên mặt biển và biến mất khuất tầm mắt hệt như một toán quân Tartar phóng qua vùng đồng hoang.
Trời lạnh, cabin thì đang tuyên chiến không khoan nhượng với khứu giác của tôi, và tôi thấy thật may mắn vì có chiếc áo khoác đại cán của mình — một tấm áo thô nặng nề, cổ áo cao đáng kính, khi lật ngược lại có thể đóng vai trò như một chiếc mũ ngủ khá ổn thỏa.
Khi ngước nhìn hai hoặc ba ngôi sao sáng đang đung đưa theo nhịp chuyển động của cánh buồm, tôi thiếp đi lúc nào không hay, nhưng rồi bị đánh thức vào lúc một giờ sáng, ngày thứ Hai, bởi một trận mưa rào. Tôi buộc phải đi xuống cabin, nơi tôi ngủ rất say và thức dậy với một cảm giác thèm ăn tuyệt vời vào giờ ăn sáng, lúc này lỗ mũi tôi — giác quan dễ tính nhất trong tất cả — đã quen với, hoặc thực ra là đã tê liệt trước thứ khí độc mephitis ấy.
Thứ Hai, ngày 17 tháng 9, tôi có một cuộc trò chuyện dài với gã người Thụy Điển, kẻ nói về gã Đan Mạch với sự khinh bỉ cay đắng nhất, miêu tả hắn là một tên ngốc, giàu sổi; nhưng hắn cũng xác nhận những lời khoác lác của gã Đan Mạch về khối tài sản kếch xù mà hắn đã kiếm được trước tiên với tư cách là một luật sư, và sau đó là một chủ đồn điền.
Từ gã Đan Mạch và từ chính hắn, tôi thu thập được thông tin rằng hắn quả thực là một nhà quý tộc Thụy Điển, kẻ đã nướng sạch một gia tài vốn chẳng lấy gì làm lớn cho lắm, và đã sang nhượng toàn bộ tài sản cho gã Đan Mạch – người mà giờ đây hắn hoàn toàn phụ thuộc vào. Hắn có vẻ chịu đựng rất ít nỗi đau từ sự xấc xược của gã Đan Mạch. Hắn vô cùng nhân đạo và ân cần đối với nữ hành khách người Anh – người đang phải chịu đựng những đau đớn khủng khiếp nhất, và cho người phụ nữ ấy, hắn đã làm rất nhiều việc nhỏ nhặt với sự dịu dàng và tinh tế dường như chứng minh được một tấm lòng lương thiện đích thực.
Quả thực, cung cách và cách trò chuyện chung của hắn không chỉ dễ chịu mà thậm chí còn rất cuốn hút; và tôi đã cố gắng tự thuyết phục rằng sự vô cảm của hắn trước thói hống hách của gã Đan Mạch chính là sự kiên định mang tinh thần triết học. Bởi dù gã Đan Mạch lúc này đã hoàn toàn tỉnh táo, bản chất của hắn vẫn rỉ ra qua từng lỗ chân lông. Và sau bữa ăn trưa, khi hắn lại ngà ngà hơi men, cứ mỗi mười lăm phút hoặc có khi thường hơn, hắn lại hét tướng lên với gã người Thụy Điển: “Này Quý tộc, đi làm việc này đi! Ngài Quý tộc!—kể cho các vị đây nghe câu chuyện thế này thế nọ,” với một sự ngạo mạn hẳn đã gây ra sự kinh tởm và căm ghét, nếu như những lời lảm nhảm thô tục của hắn về các quyền thiêng liêng của sự bình đẳng, kết hợp với sự tàn phá tơi bời ngữ pháp đại cương cũng như tiếng Anh, không làm cho nó trở nên hài hước một cách không thể cưỡng lại.
Lúc bốn giờ, tôi quan sát thấy một con vịt trời đang bơi lội trên sóng, một con vịt trời đơn độc lẻ loi. Thật khó mà tưởng tượng được trông nó lại có vẻ thú vị đến nhường nào giữa vùng sa mạc nước tròn vo, vô định ấy.
Tôi đã gắn kết cảm giác mênh mông tột cùng ấy với đại dương, nên tôi cảm thấy vô cùng hụt hẫng khi mất hút bờ bãi, trước sự chật hẹp và gần gũi đến kỳ lạ của đường chân trời. Mới hay những hình ảnh tưởng tượng thật bất lực biết bao trong việc thỏa mãn những cảm giác mơ hồ gắn liền với từ ngữ.
Vào buổi chiều, cánh buồm được hạ xuống kẻo chúng ta đâm phải bờ biển – nơi chỉ có thể nhìn thấy ở một khoảng cách gần. Và vào lúc bốn giờ sáng thứ Ba, tôi bị đánh thức bởi tiếng hô: “Đất liền! Đất liền!”
Đó là một hòn đảo đá xù xì nằm ở đằng xa phía bên trái chúng ta, gọi là Heiligeland, rất quen thuộc với nhiều hành khách đi từ Yarmouth đến Hamburg – những kẻ từng bị thời tiết bão bùng ép phải trải qua những tuần lễ giam cầm mệt mỏi trên đó, bị lột sạch tiền bạc bởi những đòi hỏi cắt cổ của đám khốn nạn cư dân trên đảo. Ít ra thì các thủy thủ đã thông báo với tôi như thế.—Khoảng chín giờ, chúng ta nhìn thấy đất liền, trông có vẻ suýt chẳng nổi đầu lên khỏi mặt nước, thấp lè tè, phẳng lì và ảm đạm, với những ngọn hải đăng và mốc giới dường như thổi hồn và ngôn ngữ vào cái vẻ ảm đạm ấy.
Chúng ta tiến vào cửa sông Elbe, lướt qua Neu-werk; dẫu lúc này mới chỉ có bờ phải con sông là hiện ra trước mắt. Trên bờ ấy, tôi nhìn thấy một ngôi nhà thờ và tạ ơn Chúa vì chuyến hải trình bình an, không quên nghĩ về những người thân yêu mà tôi đã để lại ở nước Anh với tất cả niềm trìu mến.
Vào lúc mười một giờ cùng buổi sáng đó, chúng ta đến Cuxhaven, tàu thả neo và xuồng cứu sinh được hạ xuống để đưa gã người Hanover cùng vài người khác lên bờ. Thuyền trưởng đồng ý đưa những người còn lại chúng tôi đến Hamburg với giá mười ghine, trong đó gã Đan Mạch đóng góp phần lớn đến mức những hành khách khác chỉ phải trả nửa ghine mỗi người.
Theo đó, chúng tôi nhổ neo và lướt nhẹ nhàng ngược dòng sông. Tại Cuxhaven, người ta có thể nhìn thấy cả hai bờ sông trong thời tiết quang đãng; nhưng lúc này chúng tôi chỉ có thể thấy bờ phải. Chúng ta lướt qua vô số tàu buôn Anh đã phải neo đậu chờ gió ròng rã nhiều tuần lễ.
Chẳng mấy chốc cả hai bờ sông đều hiện rõ, đều phẳng lì và minh chứng cho sức lao động của con người bằng sự ngăn nắp đến tột cùng. Ở bờ trái, tôi thấy một hoặc hai ngôi nhà thờ ở đằng xa; còn ở bờ phải, chúng ta lướt qua những ngọn tháp chuông, cối xay gió, nhà tranh, cối xay gió, những ngôi nhà riêng đơn độc, cối xay gió rồi lại cối xay gió, những ngôi nhà riêng ngăn nắp và tháp chuông. Đó là các cảnh vật hiện ra theo đúng trình tự ấy.
Hai bên bờ rất xanh tươi và được trồng cây cối trông không kém phần thanh lịch. Cách Cuxhaven ba mươi lăm dặm, đêm sập xuống, và vì việc điều hướng trên sông Elbe khá hiểm trở, chúng ta liền thả neo.
Nơi nào, tôi tự hỏi, vầng trăng đang treo lơ lửng trước mắt bạn hỡi người bạn dấu yêu của tôi? Còn với tôi, nó treo lơ lửng trên bờ trái sông Elbe. Ngay sát phía trên mặt trăng là một khối mây đen thẳm khổng lồ, trong khi một dải mây vô cùng mảnh cắt ngang chính giữa vầng trăng, vừa hẹp, vừa mỏng lại vừa đen hệt như một dải ruy-băng tang.
Con đường ánh trăng dài run rẩy trải dài trên mặt nước vươn tới tận đuôi tàu chúng ta, lấp lánh mờ ảo. Chúng ta nhìn thấy hai hoặc ba đốm sáng từ bờ phải, có lẽ phát ra từ các phòng ngủ.
Tôi cảm nhận được sự tương phản nổi bật giữa sự tĩnh lặng của dòng sông uy nghi này – nơi có hai bên bờ trù phú bóng dáng con người cùng đàn gia súc – giữa sự tĩnh lặng về đêm của dòng sông đông đúc này với thứ âm thanh bất tận, sự hỗn độn và những chấn động ầm ĩ của chốn hoang vu cô độc ngoài đại dương.
Những hành khách ở khoang dưới đều đã lui về giường ngủ; và tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp của khung cảnh tĩnh mịch này nhờ hoàn cảnh vừa mới rời khỏi họ.
Bởi suốt buổi tối hôm đó, tay người Phổ đã trưng trổ mọi tài nghệ để thu hút gã Đan Mạch – kẻ đã kết nạp hắn vào hàng ngũ những kẻ bám đuôi mình. Chàng thanh niên người Anh tiếp tục dịch những câu nói đùa của người Phổ cho tôi nghe. Tất cả chúng – không ngoại trừ một câu nào – đều báng bổ và đáng ghê tởm, nhưng một số ít cũng đủ dí dỏm, và vài tình huống do chính hắn tự kể lại có giá trị như những minh họa sinh động về phong tục tập quán của các vùng đất mà hắn từng đặt chân đến.
Năm giờ sáng thứ Tư, chúng ta nhổ neo, nhưng chẳng mấy chốc lại buộc phải thả neo xuống lần nữa do một lớp sương mù dày đặc mà thuyền trưởng e rằng sẽ kéo dài suốt cả ngày; nhưng khoảng chín giờ thì sương tan, và chúng ta chầm chậm lướt đi, sát ngay bên bờ một hòn đảo vô cùng xinh đẹp cách Cuxhaven bốn mươi dặm, khi gió vẫn tiếp tục lặng.
Hòn đảo nhỏ hay doi đất này dài chừng một dặm rưỡi, có hình dáng như chiếc nêm, rợp bóng cây với những khoảng rừng thưa xanh mướt mắt, và càng trở nên thú vị hơn bởi những ngôi nhà trang trại vô cùng ngăn nắp tọa lạc trên đó. Nó có vẻ được sinh ra cho chốn ẩn dật chứ không phải sự cô độc — một nơi đủ sức quyến rũ bạn bè của một người, đồng thời ngăn chặn những vị khách vãng lai phiền toái.
Hai bên bờ sông Elbe lúc này trở nên tươi đẹp hơn, với những đồng cỏ trù phú và hàng cây chạy dọc mép nước hệt như một bức tường thấp; và ẩn hiện phía sau chúng là những ngôi nhà ngăn nắp cùng (đặc biệt ở bờ phải) vô số ngọn tháp nhọn màu trắng, đen hoặc đỏ.
Gu thẩm mỹ bản năng dạy con người ta xây dựng những ngôi nhà thờ ở các vùng đất phẳng với những ngọn tháp nhọn cao vút; vì chúng chẳng thể quy chiếu vào bất kỳ vật thể nào khác, nên chúng vươn lên như một ngón tay thầm lặng chỉ về phía bầu trời và các vì sao, và thỉnh thoảng, khi phản chiếu ánh sáng rực rỡ của một buổi hoàng hôn vừa rực rỡ vừa đượm buồn, chúng trông giống như một ngọn kim tự tháp lửa đang cháy bùng hướng về thiên đàng.
Tôi nhớ có một lần, và chỉ duy nhất một lần, được nhìn thấy một ngọn tháp trong một thung lũng hẹp của miền núi non. Hiệu ứng mang lại không chỉ tầm thường mà còn nực cười, khiến tôi bất giác liên tưởng đến một chiếc chụp nến; sự cận kề của ngọn núi cao sừng sững nơi chân tháp đã bóp méo nó hoàn toàn, tước đi mọi sự kết nối của nó với bầu trời hay mây gió.
Cách Cuxhaven bốn mươi sáu dặm Anh và cách Hamburg mười sáu dặm, ngôi làng Veder của Đan Mạch làm rạng rỡ bờ trái với ngọn tháp màu đen của nó, và sát ngay bên cạnh là thôn xóm Schulau mang vẻ đẹp hoang dã, điền viên.
Cho đến tận lúc này, cả bờ phải lẫn bờ trái – xanh mướt đến tận mép nước và phẳng lặng ngang bằng mặt sông – trông hệt như bờ của một con kênh trong công viên. Cây cối và nhà cửa đều thấp lè tè như nhau, có lúc những tán cây thấp vượt lên trên những ngôi nhà còn thấp hơn, có lúc những ngôi nhà thấp lại nhô lên trên những tán cây còn thấp hơn nữa.
Nhưng đến Schulau, bờ trái đột ngột dâng cao bốn mươi hoặc năm mươi thước, sừng sững nhìn xuống dòng sông bằng bức tường mặt tiền thẳng đứng bằng cát, lác đác vài khóm xanh. Dòng sông Elbe tiếp tục hiển hiện một1 cảnh tượng ngày càng sống động bởi vô số thuyền đánh cá và những đàn mòng biển bay lượn vòng quanh, vừa là những đối thủ ồn ào vừa là bầu bạn của ngư dân; cho đến khi chúng ta đến Blankaness – một ngôi làng vô cùng thú vị nằm rải rác giữa những tán cây phân tán, trải trên ba ngọn đồi chia làm ba khu vực.
Mỗi ngọn trong ba ngọn đồi đều sừng sững hướng ra sông với những vách cát trơ trụi, hòa nhịp một cách kỳ ảo với những chiếc thuyền có cột buồm trơ trọi đang xếp hàng dọc theo bờ. Giữa mỗi mặt tiền là một thung lũng xanh tươi rợp bóng cây, thung lũng sau sâu hơn thung lũng trước.
Nói tóm lại, đây là một ngôi làng lớn được cấu thành từ những ngôi nhà riêng lẻ, mỗi ngôi nhà nằm giữa khu rừng nhỏ hoặc vườn cây ăn trái của riêng mình, và mỗi nhà đều có lối đi riêng biệt: một ngôi làng với mê cung những lối đi, hay đúng hơn là một khu xóm gồm những mái nhà! Nó là nơi sinh sống của ngư dân và thợ đóng thuyền, bởi thuyền của vùng Blankaness rất được săn đón trên toàn bộ tuyến đường thủy sông Elbe.
Tại đây, lần đầu tiên chúng tôi nhìn thấy những ngọn tháp của thành phố Hamburg; và từ đây trở đi, cho đến tận Altona, bờ trái sông Elbe đẹp một cách lạ lùng nếu xét đến vị thế là vùng phụ cận của một thành phố thương mại theo thể chế cộng hòa – mang cái vẻ đẹp, hay đúng hơn là sự xinh xắn, đủ sức cám dỗ thị dân rời bỏ phố xá để về với thiên nhiên, mà vẫn thỏa mãn được gu thẩm mỹ họ từng bồi đắp chốn thị thành.
Những ngôi nhà mùa hè và các công trình kiểu Trung Hoa rải rác khắp nơi dọc theo những bờ cao xanh ngắt; những ván gỗ của các ngôi nhà trang trại để mộc không trát vữa và được sơn phết rực rỡ với hai màu xanh lá và vàng; và hầu như chẳng có cây nào không bị cắt tỉa tạo hình để gợi nhớ con người về quyền năng và trí tuệ của chính họ thay vì sự khôn ngoan của tự nhiên.
Tuy nhiên, đó vẫn là những nhịp cầu kết nối giữa thành thị và thôn quê, và tốt hơn nhiều so với cái thói làm bộ làm tịch chuộng thứ thị hiếu và niềm vui mà thói quen sinh hoạt đã tước đi quyền tận hưởng của con người. Hãy bước qua chúng vào các ngày thứ Bảy và Chủ nhật cùng những thị dân Hamburg đang phì phèo tẩu thuốc, những người phụ nữ và trẻ em đang yến tiệc trong các vọng lâu bằng cây hoàng dương và cây thủy tùng, và nơi đây sẽ tự khắc khoác lên mình một vẻ đẹp tự nhiên của riêng nó.
Vào lúc bốn giờ chiều thứ Tư, chúng tôi rời tàu, và sau khi chật vật lách qua những khối thuyền bè khổng lồ dường như làm tắc nghẽn cả khúc sông Elbe rộng lớn từ Altona trở lên, cuối cùng chúng tôi cũng cập bến tại nhà Boom House, Hamburg.
Gửi một nữ quý tộc.
RATZEBURG.
Meine liebe Freundinn,
Hãy nhìn xem tiếng Đức tuôn trào từ tôi tự nhiên đến nhường nào, dẫu tôi chưa ở đất nước này đến sáu tuần! — suôn sẻ gần bằng tiếng Anh của người hàng xóm Amtsschreiber (thư ký công cộng) của tôi, kẻ cứ mỗi khi chúng tôi gặp nhau, dẫu là nửa tá lần trong cùng một ngày, chưa bao giờ quên chào tôi bằng câu — “—-ddam your ploot unt eyes, my dearest Englander! vhee goes it!” — quả thực đây là một minh chứng cho sự rộng lượng lớn lao từ phía ông ta, bởi những từ ngữ ấy chính là toàn bộ vốn tiếng Anh mà ông ta có.
Tuy nhiên, tôi có một lý do chính đáng hơn là mong muốn trưng trổ sự thành thạo của mình: tôi muốn làm bạn có thiện cảm với một thứ tiếng mà từ việc học nó, tôi đã tự hứa hẹn sẽ thu nhặt được nhiều điều bổ ích, đồng thời cũng là phương tiện để truyền tải một niềm vui mới đến bạn và em gái bạn trong những buổi đọc sách mùa đông của chúng ta.
Và còn cách nào tốt hơn để làm điều đó ngoài việc chỉ ra sự quan tâm đầy hào hoa của nó dành cho phái nữ chứ? Hậu tố “ess” trong tiếng Anh của chúng tôi, tôi tin là chỉ giới hạn ở các từ bắt nguồn từ tiếng Latinh, như actress (nữ diễn viên), directress (nữ giám đốc), v.v., hoặc từ tiếng Pháp, như mistress (bà chủ), duchess (nữ công tước) và tương tự thế.
Nhưng hậu tố “inn” trong tiếng Đức cho phép chúng ta chỉ định phái tính trong mọi mối quan hệ có thể có của cuộc sống. Chẳng hạn, phu nhân của ngài Amtmann là Frau Amtmanninn — vợ của viên thư ký (nhân tiện đây, cô ấy là người phụ nữ đẹp nhất mà tôi từng thấy ở Đức cho đến nay) là die allerliebste Frau Amtsschreiberinn — phu nhân đại tá là die Frau Obristinn hoặc Colonellinn — và thậm chí vợ của mục sư cũng là die Frau Pastorinn.
Nhưng tôi đặc biệt thích từ Freundinn của họ, không giống như từ amica của người La Mã, nó hiếm khi được sử dụng ngoài nghĩa đẹp đẽ và trong sáng nhất của nó.
Giờ đây, tôi biết người ta sẽ nói rằng một người bạn vốn dĩ đã là một thứ gì đó hơn cả một người bạn, khi một người cảm thấy sự bứt rứt muốn diễn giải với chính mình rằng người bạn này là nữ giới; nhưng tôi phủ nhận điều đó — ít nhất là theo nghĩa mà người ta sẽ đưa ra lời phản đối ấy.
Tôi thà mạo hiểm mang tội tà giáo còn hơn từ bỏ niềm tin của mình rằng có một giới tính trong tâm hồn chúng ta cũng như trong những tấm y phục dễ mục nát của chúng; và kẻ nào không cảm nhận được điều đó, chưa bao giờ thực sự yêu một người chị — thậm chí còn chẳng có nổi khả năng yêu thương một người vợ như cô ấy xứng đáng được yêu, nếu quả thực cô ấy xứng đáng với cái tên thiêng liêng ấy.
Giờ thì tôi biết, người bạn hiền dịu của tôi ạ, bạn đang lẩm bẩm trong miệng điều gì rồi — “Anh ta đúng là thế đấy! Cứ chạy theo bọt nước đầu tiên mà sự ngẫu nhiên thổi bay khỏi bề mặt trí tưởng tượng của anh ta; trong khi người ta đang sốt sắng muốn biết anh đang ở đâu và đã thấy những gì.”
Thế thì được thôi! Rằng tôi đã ổn định tại Ratzeburg, cùng với những động cơ và chi tiết về hành trình của tôi đến đây, sẽ kể cho bạn nghe. Bức thư đầu tiên của tôi gửi cho anh ấy, thứ mà không nghi ngờ gì nữa đã làm cho cả nhà bạn được mở mang tầm mắt, đã kể lại việc tôi cập cảng an toàn tại Hamburg ở các bậc thềm sông Elbe, ngay tại Boom House.
Trong lúc đứng trên bậc thềm, tôi bị thu hút bởi những con người trên chiếc thuyền qua sông chạy tuyến từ Hamburg đến Haarburg một hay hai lần mỗi ngày. Nó chật ních những con người đủ mọi quốc gia, mặc đủ loại trang phục; tất cả đàn ông đều ngậm tẩu trên miệng, và những chiếc tẩu này đủ hình thù và kiểu cách — thẳng và uốn lượn, đơn giản và phức tạp, dài và ngắn, bằng sậy, đất sét, sứ, gỗ, thiếc, bạc và ngà voi; hầu hết đều có dây xích bạc và nắp đậy bầu tẩu bằng bạc.
Tẩu thuốc và ủng chính là hai đặc điểm phổ biến đầu tiên của những người đàn ông Hamburg có thể đập vào mắt một du khách chân ướt chân ráo.
Nhưng tôi lại quên mất lời hứa viết nhật ký nhiều nhất có thể rồi. — Do đó, chiều ngày 19 tháng 9. Người bạn đồng hành của tôi, người mà bạn nhớ là nói tiếng Pháp cực kỳ chuẩn mực, đã hình thành một kiểu quen biết thân tình với vị di dân nọ — một người trông có vẻ hiểu biết và có cung cách của một quý ông hoàn hảo.
Ông ấy chừng năm mươi tuổi hoặc hơn chút ít. Bất cứ điều gì khó chịu trong phong cách của người Pháp do thái quá về mức độ, thì nay đã được làm dịu đi bởi tuổi tác hoặc nỗi bất hạnh; và tất cả những gì đáng yêu trong thể loại ấy, sự nhanh nhẹn và tinh tế trong những cử chỉ quan tâm nhỏ nhặt, v.v., vẫn còn đó, mà không hề vồn vã, khoa tay múa chân hay tỏ ra quá mức háo hức.
Phong thái của ông thể hiện sự bác ái tỉ mỉ của một người Pháp lịch lãm, được tiết chế bởi sự điềm đạm của tính cách Anh quốc đã gạt đi vẻ rụt rè vốn có. Có một sức hút kỳ lạ trong nhân cách của một quý ông khi bạn dùng từ này một cách đầy sức nặng, và lại theo đúng nghĩa của thuật ngữ mà việc cảm nhận dễ hơn là việc định nghĩa.
Nó không bao gồm việc sở hữu sự xuất chúng cao cả về đạo đức, cũng chẳng nhất thiết phải có cả những ân huệ tô điểm cho phong thái. Tôi đang mường tượng ra một người mà cuộc đời khó lòng vượt qua nổi sự soi mói dẫu là ở tòa án danh dự, chứ đừng nói đến tòa án lương tâm; và phong thái của ông ta, nếu quan sát kỹ, thậm chí có phần gợi lên sự vụng về hơn là sự thanh lịch: thế mà bất kỳ ai trò chuyện với ông đều cảm nhận và công nhận đó là một quý ông.
Bí mật của vấn đề này, tôi tin là nằm ở chỗ sau đây — chúng ta cảm nhận sự hiện diện của tư chất quý ông bất cứ khi nào, trong mọi hoàn cảnh giao tiếp xã hội, từ điều tầm thường nhất cho đến việc quan trọng, qua toàn bộ chi tiết phong thái và cử chỉ của một người, và bằng sự tự nhiên của một thói quen, người ấy thể hiện sự tôn trọng đối với người khác theo cách đồng thời ngụ ý trong cảm xúc của chính mình sự chờ đợi mang tính thói quen và chắc chắn về sự tôn trọng tương ứng từ họ dành cho mình.
Tóm lại, tư chất quý ông xuất phát từ cảm giác Bình đẳng hoạt động như một Thói quen, nhưng vẫn uyển chuyển trước các tầng lớp địa vị, và được bồi đắp mà không bị xáo trộn hay thay thế bởi chúng.
Mô tả này có lẽ sẽ giải thích cho bạn cơ sở của một trong những nhận xét của chính bạn, khi tôi đang dịch sang tiếng Anh cho bạn nghe cuộc đối thoại thú vị về nguyên nhân suy đồi của nghệ thuật hùng biện.
“Những người La Mã cổ đại này quả là những quý ông hoàn hảo làm sao! Tôi ấn tượng, tôi nhớ là mình cũng có cùng cảm giác ấy khi đang đọc bản dịch các cuộc đối thoại triết học của Cicero và thư tín của ông; trong khi ở những bức thư của Pliny, tôi dường như có một cảm giác khác — ông ấy mang lại cho tôi ấn tượng của một quý ông vô cùng lịch lãm.”
Bạn thốt ra những từ ấy như thể bạn cảm thấy rằng bổ ngữ ấy đã làm tổn hại phần thực chất và mức độ gia tăng đã làm thay đổi bản chất. Pliny là triều thần của một vị quân chủ chuyên chế — còn Cicero là một người cộng hòa theo chủ nghĩa quý tộc.
Vì lý do này, nhân cách của một quý ông, theo nghĩa mà tôi đã giới hạn, rất phổ biến ở nước Anh, hiếm hoi ở Pháp, và nếu có thì chỉ tìm thấy ở tuổi già hoặc giai đoạn cuối của tuổi trưởng thành; trong khi ở Đức, nhân cách ấy gần như là một ẩn số. Nhưng phản đề thực sự của một quý ông lại phải tìm kiếm ở những kẻ theo chủ nghĩa dân chủ Anglo-America.
Tôi nợ đoạn đào sâu này như một hành động công bằng dành cho người đàn ông Pháp đáng mến kia, và sự hổ thẹn cho chính bản thân mình. Bởi trong một cuộc tranh cãi nhỏ giữa chúng tôi về chủ đề thơ ca Pháp, ông đã khiến tôi cảm nhận được hành vi tồi tệ của chính mình qua sự quở trách thầm lặng của sự đối lập; và khi sau đó tôi xin lỗi ông vì sự nồng nhiệt trong ngôn từ của mình, ông đã đáp lại tôi bằng một biểu cảm bất ngờ đầy vui tươi cùng một lời khen ngợi tức thì — điều mà một quý ông vừa có thể cất lên với sự đường hoàng vừa có thể đón nhận với niềm vui.
Do đó, tôi rất vui mừng khi thấy chúng tôi đồng ý sẽ, nếu có thể, trọ cùng một nhà. Bạn tôi cùng ông đi tìm khách sạn, còn tôi đi trao những bức thư giới thiệu của mình.
Tôi bước đi với nhịp độ nhanh nhẹn, phấn chấn không hẳn bởi bất cứ thứ gì mình thực sự nhìn thấy, mà bởi cảm giác mơ hồ rằng lần đầu tiên trong đời mình đang đặt chân lên lục địa của hành tinh chúng ta.
Tôi cảm thấy mình giống như một chú chim được phóng thích từng được ấp trong lồng chuồng, giờ đây sau cú vút bay tự do đầu tiên, đang lượn lờ giữa tầng không cao vợi.
Một cách rất tự nhiên, tôi bắt đầu ngạc nhiên trước mọi thứ, có thứ vì quá giống có thứ vì quá khác biệt so với những thứ ở nước Anh — những người phụ nữ Hà Lan với những chiếc mũ che mưa to tướng nhô ra phía trước nửa thước, kèm theo độ phồng xa hoa của những chiếc váy lót phía sau — những phụ nữ Hamburg với những chiếc mũ đội đầu thêu ren có đính bạc, hoặc vàng, hoặc cả hai, viền xung quanh bằng lớp ren cứng nhô ra trước mắt nhưng không quá thấp, để đôi mắt lấp lánh xuyên qua lớp ren ấy — người phụ nữ Hanover với phần trước đầu để trần, tiếp theo là một lớp ren cứng đứng sừng sững như bức tường vuông góc trên mũ, và phía sau mũ là đuôi dài với một lượng khổng lồ ruy-băng nằm hoặc tung bay trên lưng:
Dáng vẻ của họ tựa như lá cờ lộng lẫy
Giương cao thách thức mọi kẻ thù.
Các quý cô đều mặc trang phục Anh, đều đánh phấn hồng, và đều có hàm răng xấu xí: điều mà bạn nhận ra ngay lập tức từ sự tương phản của nó với độ trắng muốt tựa xà cừ quá mức, mang nét gần như hoang dã, cùng sự đều đặn của hàm răng những cô gái nông thôn và nữ gia nhân đang cười nói oang oang. Những người này với đôi bít tất trắng sạch sẽ và những chiếc giày lết không gót, rảo bước dọc theo những con đường dơ bẩn như thể họ được bảo vệ bởi một thứ bùa chú chống lại bụi bẩn: với một sự nhẹ nhàng cũng khiến tôi kinh ngạc — tôi, người luôn coi việc phải cọc cạch bước lên lầu trong một đôi giày lết ở nhà trọ là một trong những điều phiền toái.
Đường phố chật hẹp; đối với cái mũi Anh quốc của tôi thì đủ sức gây khó chịu, và giải thích ngay từ cái nhìn đầu tiên lý do vì sao người ta dùng ủng phổ biến đến thế; chẳng có lối đi riêng nào dành cho người đi bộ; những đầu hồi nhà đều quay ra phố, vài cái mang hình tam giác thông thường và nguyên vẹn như cách gọi của các nhà thực vật học; nhưng phần lớn lại khoét khía và lượn sóng với nét kỳ dị vượt cả người Trung Hoa.
Hơn hết thảy, tôi bị ấn tượng bởi sự ngập tràn của những khung cửa sổ, quá lớn và quá nhiều đến mức những ngôi nhà trông giống như toàn bằng kính. Thuế cửa sổ của ông Pitt, với những khoản phụ thu xinh xắn mọc ra từ đó hệt như những chú cóc con trên lưng một con cóc Surinam, hẳn sẽ cải thiện diện mạo của những ngôi nhà ở Hamburg — những ngôi nhà mang vẻ ngoài mùa hè mỏng manh, không phù hợp với kích thước của chúng, đi ngược lại khí hậu, và ngăn trở cảm giác tĩnh dưỡng cùng sự tự mãn nội tâm mà người ta muốn gắn kết với một ngôi nhà giữa lòng đô thị ồn ào.
Nhưng tôi e rằng một trận hỏa hoạn sẽ là tiền đề bắt buộc để sản sinh ra bất kỳ vẻ đẹp kiến trúc nào ở Hamburg: bởi vì quả thực đây là một thị trấn bẩn thỉu.
Tôi tiếp tục bước đi và băng qua vô số cây cầu xấu xí, với những khối dị dạng bằng bánh xe nước đen ngòm nằm ngay sát bên. Nước cắt ngang thành phố ở khắp mọi nơi, và lẽ ra đã có thể cung cấp cho thiên tài nước Ý tiềm năng của mọi thứ tuyệt vời và tráng lệ nhất trong kiến trúc. Nó đã có thể trở thành đối thủ của Venice, nhưng thay vào đó lại là sự hỗn độn và xấu xí, hôi hám và tù đọng.
Phố Jungfer Stieg (nghĩa là Lối đi của Thiếu nữ), nơi những bức thư giới thiệu dẫn tôi đến, là một ngoại lệ. Đó là một lối đi hay dạo mát được trồng ba hàng cây du, vốn năm nào cũng bị cắt tỉa nên vẫn mảnh khảnh và thấp lùn. Lối đi này chiếm một bên của khúc nước hình vuông, trên đó có rất nhiều thiên nga hoàn toàn thuần hóa, và bơi lội giữa bầy thiên nga là những chiếc thuyền giải trí sặc sỡ chở các quý cô bên trong, được chèo bởi chồng hoặc người yêu của họ. ———
(Một số đoạn đã bị lược bỏ ở đây.) ——— cứ bị làm khó bởi vẻ lịch sự buồn bã và trang nghiêm còn hơn cả bởi thứ tiếng Anh bập bõm, tôi nghe cứ như giọng của một người quen cũ khi nghe thấy người đầy tớ của vị di dân hỏi thăm tung tích mình. Anh ta đến để dẫn đường tôi về khách sạn. Qua bao con phố, tôi rảo bước nhanh chóng, hạnh phúc như một đứa trẻ, và tôi chắc chắn là với vẻ kinh ngạc ngây thơ hiện rõ trong đôi mắt bận rộn của mình, bị cuốn hút bởi những chiếc xe ngựa bằng liếp có các băng ghế di động bắc ngang qua, chiếc này nối tiếp chiếc kia (đó chính là những chiếc xe ngựa cho thuê); bị thu hút bởi những tấm bảng hiệu cửa hàng trên đó tất cả mặt hàng bày bán đều được vẽ lên, vẽ rất chính xác dẫu nằm trong một sự hỗn độn kỳ quái (một sự thay thế hữu ích cho ngôn ngữ tại thương cảng lớn của các quốc gia này); bị thu hút bởi tiếng chuông cửa tiệm và cửa nhà kêu lanh canh không dứt — chiếc chuông treo phía trên mỗi cửa ra vào và bị gõ bởi một thanh sắt nhỏ ở mỗi lần có người ra vào; — và cuối cùng, bị thu hút bởi việc nhìn vào những khung cửa sổ khi tôi bước qua: các quý ông quý bà đang uống cà phê hoặc chơi bài, và các quý ông thì đều ngậm tẩu.
Ước gì mình là họa sĩ, để tôi có thể gửi cho bạn một bức phác thảo về một trong những sòng bài. Chiếc tẩu dài của một quý ông đặt trên bàn, bầu tẩu cách miệng hắn nửa thước, nhả khói ngút ngát như một chiếc lư hương bên ao thả cá — vị quý ông kia, kẻ đang chia bài và dĩ nhiên phải dùng cả hai tay, ngậm tẩu giữa hàm răng, chiếc tẩu thõng xuống giữa hai đầu gối, nhả khói ngay bên mắt cá chân hắn.
Chính Hogarth cũng chưa từng vẽ ra một tư thế và diện mạo méo mó nực cười nào hơn những gì nỗ lực này gây ra; bên cạnh đó cũng không thiếu một trong những khuôn mặt phụ nữ xinh đẹp mà chính Hogarth — người mà nhà châm biếm chưa bao giờ dập tắt được tình yêu cái đẹp vốn thuộc về bản chất một nhà thơ của ông — vẫn thường xuyên và vui sướng đưa vào làm nhân vật trung tâm giữa một đám đông những sự dị dạng hài hước; những nhân vật ấy (sức mạnh của thiên tài thực thụ là thế đấy!) không hề đóng vai trò, cũng chẳng mang ý nghĩa làm nền đối lập; mà lan tỏa qua tất cả và bao trùm lên từng cá thể trong nhóm một tinh thần hòa giải và lòng nhân ái của con người; và ngay cả khi sự chú ý không còn hướng một cách có ý thức về nguyên nhân của cảm giác này nữa, nó vẫn hòa quyện sự dịu dàng của mình vào tiếng cười của chúng ta: và do đó ngăn cản sự vui nhộn đầy tính giáo huấn trước những thói kỳ quặc của tự nhiên hay tật xấu, nết quái đản của đồng loại không bị thoái hóa thành thứ nọc độc căm ghét hay khinh bỉ trong tim.
Khách sạn của chúng tôi, DIE WILDE MANN (với tấm biển hiệu chẳng khác mấy so với ông chủ trọ, kẻ đã cấy ghép vào một khuôn mặt vô cùng găm ghé một nụ cười toe toét không ngớt sẵn sàng phục vụ bất cứ ai, và thực ra giống như một diễn viên đang tự tập tuồng, hắn cứ trưng ra bộ mặt ấy trong lúc chờ đợi cơ hội dùng đến nó) — khách sạn của chúng tôi, tôi phải nói thế, lẫn ông chủ trọ của nó đều chẳng thuộc tầng lớp thượng lưu phong nhã.
Nhưng nó có một ưu thế lớn đối với một lữ khách, đó là nằm ngay khu chợ, và là hàng xóm sát vách của nhà thờ St. Nicholas đồ sộ: một nhà thờ với những cửa hàng và ngôi nhà áp sát vào thân, từ khối u bướu và mụn cóc ấy, ngọn tháp cao dày đặc của nó vươn lên, được quàng một vòng tròn những quả cầu mạ vàng lớn ở gần đỉnh. Chẳng thể mong mỏi một ngôi sao dẫn đường nào tốt hơn thế.
Lâu lắm rồi tôi vẫn còn giữ ấn tượng in hằn trong tâm trí bởi tiếng vang hùng vĩ, lớn lao, dài lâu và run rẩy của chiếc đồng hồ trầm trừng trong nhà thờ này — thứ đã đánh thức tôi dậy lúc hai giờ sáng từ một giấc mơ đầy ưu tư, mà tôi tin là do chiếc đệm lông vũ — thứ được dùng ở đây thay cho chăn đắp — gây ra. Tôi thà mang theo tấm chăn của mình đi muôn nơi như một thổ dân da đỏ hoang dã còn hơn là chịu đựng cái phong tục ghê tởm này.
Chúng tôi phát hiện ra người quen di dân của mình là bạn thâm giao của Abbe de Lisle nổi tiếng; và từ khối tài sản lớn mà ông sở hữu dưới thời quân chủ, ông đã cứu vớt đủ không chỉ để có sự độc lập, mà còn cho cả phẩm giá.
Ông đã làm mếch lòng một số đồng hương di dân ở London — những người từng được ông giúp đỡ bằng những khoản tiền lớn — bằng việc từ chối cấp thêm tiền, và do những âm mưu của họ, ông đã nhận được lệnh phải rời khỏi vương quốc.
Tôi coi đó là một bằng chứng cho sự vô tội của ông khi ông không hề đổ lỗi cho đạo luật người nước ngoài (alien act), cũng chẳng trách vị bộ trưởng từng dùng nó để chống lại ông; và một bằng chứng còn lớn hơn nữa khi ông nói về London với niềm say mê tột độ, và về người cháu gái yêu quý của mình — người đã kết hôn và định cư ở Anh — với tất cả sự nồng nhiệt và niềm kiêu hãnh của một người cha hết mực yêu con.
Một con người bị tống cổ bằng vũ lực khỏi một đất nước, bị ép bán tháo cổ phiếu với tổn thất nặng nề và bị lưu đày khỏi những niềm vui cùng phong cách sống mà thói quen đã biến thành yếu tố cốt yếu cho hạnh phúc của mình, nhưng những cảm xúc chi phối ông vẫn hoàn toàn mang tính riêng tư — sự phẫn nộ vì tình bạn bị phản bội và nỗi đau đớn vì tình cảm gia đình bị cắt đứt — một con người như thế, tôi nghĩ, tôi dám đoan chắc là vô tội trước mọi thứ mật vụ gián điệp dưới bất kỳ dịch vụ nào, nhất là dưới trướng của cái gọi là Đốc chính Pháp (French Directory) hiện tại.
Ông nói với sự ngây ngất về Paris dưới thời Chế độ Quân chủ: thế mà những chi tiết cụ thể cấu thành nên mô tả của ông lại để lại trong tâm trí tôi một niềm xác tín sâu sắc không kém về sự vô dụng của người Pháp, hệt như câu chuyện của chính ông đã làm với sự vô ơn của giới di dân.
Kể từ khi đặt chân đến Đức, tôi chưa từng gặp một cá nhân nào, kể cả trong số những kẻ căm thù Cách mạng, lại mở miệng nói những lời ưu ái, hay dẫu chỉ là sự bác ái dành cho những người di dân Pháp.
Dù niềm tin về tầm ảnh hưởng của họ trong việc tổ chức cuộc chiến tranh thảm khốc này (từ những nỗi kinh hoàng của nó mà miền Bắc nước Đức tự cho rằng mình mới chỉ được hoãn thi hành chứ chưa hẳn đã an toàn) có chiếm một phần trong sự ác cảm chung mà họ phải gánh chịu; thế nhưng tôi vẫn đinh ninh rằng phần lớn hơn nhiều là do lối sống phóng túng của chính họ, do sự phản bội và tàn nhẫn đối với nhau, cũng như sự khốn cùng gia đình hoặc những nguyên tắc đồi bại mà rất nhiều kẻ trong số họ đã mang vào các gia đình bảo hộ mình.
Lồng ngực tôi phồng lên với niềm kiêu hãnh chân chính khi tôi hồi tưởng lại những nhân cách cứng cỏi nhưng đáng mến của các nhà ái quốc Anh — những kẻ từng tìm kiếm nơi ẩn náu ở Lục địa vào thời kỳ Phục hưng! Ôi, xin chớ đem cuộc nội chiến dưới thời Charles vị vua đầu tiên ra để song hành so sánh với cuộc Cách mạng Pháp!
Ở cuộc chiến trước, tính cách con người tràn trề vì sự dồi dào của nguyên tắc; còn ở cuộc chiến sau, nó sục sôi từ sự lên men của cặn bã! Cuộc chiến trước là cuộc nội chiến giữa những đức hạnh và định kiến đạo đức của hai phe; còn cuộc chiến sau là giữa những thói hư tật xấu.
Chiếc ly thủy tinh Venice của chế độ quân chủ Pháp đã vỡ tung và văng tứ tung dưới sự tác động của một thứ độc dược kép.
Ngày 20 tháng 9. Tôi được giới thiệu với ông Klopstock, người em trai của nhà thơ, người sau đó lại giới thiệu tôi với Giáo sư Ebeling — một con người hiểu biết và hoạt bát, dẫu bị điếc; quả thực là điếc đặc, đến mức việc trò chuyện với ông là một sự nhọc nhằn đau đớn, khi chúng tôi buộc phải thả những viên ngọc ngôn từ của mình vào một chiếc kèn nghe tai khổng lồ.
Từ nhà văn hóa lịch thiệp và tốt bụng này (tôi hy vọng giới văn nhân Đức nói chung đều giống với mẫu vật đầu tiên này), tôi đã nghe được một câu chơi chữ tiếng Ý khá hay và một giai thoại thú vị.
Khi Napoleon ở Ý, vì bị chọc tức bởi một hành vi bội phản nào đó, ông đã nói lớn và đầy phẫn nộ giữa một đám đông rằng: — “Đó là một câu tục ngữ đích thực, *gli Italiani tutti ladroni*” — (nghĩa là, người Ý toàn là những kẻ cướp bóc). Một phụ nữ đã can đảm đáp lại rằng: — “*Non tutti; ma BUONA PARTE*” — (không phải tất cả, nhưng có một phần lớn, hoặc chính là Buonaparte).
Điều này, tôi phải thú nhận, lọt vào tai tôi như một trong rất nhiều câu nói hay có thể thốt ra. Giai thoại thứ hai còn giá trị hơn; vì nó minh họa cho các phương thức và thủ đoạn gieo rắc sự mị dân của người Pháp.
Hoche từng nhận được rất nhiều thông tin về địa hình đất nước từ một bản đồ cực kỳ chi tiết và chuẩn xác, mà người tạo ra nó, theo ông nghe ngóng, đang cư trú tại Duesseldorf. Trong trận tập kích chiếm Duesseldorf của quân đội Pháp, Hoche đã ra lệnh từ trước rằng ngôi nhà và tài sản của con người này phải được bảo toàn, và giao phó việc thực hiện mệnh lệnh đó cho một sĩ quan mà ông hoàn toàn tin tưởng vào đội quân của hắn.
Khi phát hiện ra sau đó rằng người đàn ông này đã trốn thoát trước khi trận tập kích bắt đầu, Hoche đã thốt lên: “Hắn có lý do gì đâu phải trốn chạy! Chính vì những con người như thế, chứ không phải chống lại họ, mà nước Pháp mới gây chiến và chấp nhận đổ máu những người con của mình.”
Bạn hẳn còn nhớ bài sonnet của Milton —
Vị chinh vương vĩ đại xứ Emathia từng hạ lệnh tha thứ
Cho ngôi nhà của Pindarus khi đền đài tháp cổ
Đổ rạp xuống mặt đất ———
Giờ thì dẫu nhà chế bản đồ Duesseldorf có đứng ở vị thế liên hệ với vị thi hào xứ Thebes giống như con ốc sên – kẻ vạch đường đi của mình bằng những đường chất nhầy trên bức tường nó bò qua – đối với chú đại bàng đang bay vút hướng về mặt trời và vỗ cánh chống lại giông bão; thì điều đó cũng không đồng nghĩa rằng kẻ Jacobin của nước Pháp không thể là một vị tướng dũng mãnh và một chính trị gia cừ khôi hệt như kẻ điên xứ Macedonia.
Từ nhà Giáo sư Ebeling, ông Klopstock cùng người bạn của tôi ghé thăm tư gia của chính ông, nơi tôi được ngắm nhìn bức tượng bán thân tuyệt đẹp của người anh trai ông.
Có một vẻ vĩ đại trang nghiêm và nặng nề ngự trị trên gương mặt ông, rất khớp với những hình dung trước đó của tôi về phong cách và thiên tài của ông. — Ở đó, tôi cũng được chiêm ngưỡng một bức chân dung vô cùng tuyệt mỹ của Lessing — người có các tác phẩm hiện là đối tượng ngưỡng mộ chính của tôi.
Đôi mắt của ông cực kỳ giống mắt tôi, nếu có khác thì có lẽ hơi to và lồi hơn một chút. Nhưng phần dưới khuôn mặt cùng chiếc mũi của ông — ôi, một biểu cảm tinh tế tột cùng của sự thanh lịch và nhạy cảm biết bao! — Chẳng hề thấy chút chiều sâu, trọng lượng hay sự bao quát nào trên chiếc trán ấy.
Toàn bộ gương mặt dường như nói lên rằng Lessing là một con người của những cảm xúc bồng bột và nhục cảm; của một trí tưởng tượng năng động nhưng phù du; sắc sảo; nhưng sự sắc sảo ấy không nằm ở việc quan sát cuộc đời thực tại, mà ở sự sắp đặt và điều phối thế giới lý tưởng, nghĩa là trong gu thẩm mỹ và siêu hình học.
Tôi đoan chắc với bạn rằng tôi đã viết chính những dòng này vào sổ tay khi bức chân dung hiện ra trước mắt, và lúc đó tôi chẳng biết gì về Lessing ngoài cái tên của ông và việc ông là một nhà văn Đức lỗi lạc.
Chúng tôi tiêu tốn hơn hai tiếng đồng hồ cho một bữa ăn trưa tệ hại tại nhà hàng ăn bình dân (*table d’hote*).
“Sự kiên nhẫn tại một quán ăn bình dân của Đức, mỉm cười với thời gian.” Người Đức là những đầu bếp tồi tệ nhất châu Âu.
Người ta dọn ra cho cứ mỗi hai người một chai rượu vang thông thường — luân phiên giữa vang Rhenish và Claret; nhưng trong những dinh thự của giới thượng lưu, giữa vô số khoảng nghỉ dài đằng đẵng của bữa ăn, những người hầu lại chuyền tay nhau những ly rượu vang đậm đà hơn.
Tại nhà Lãnh chúa Culpin, chúng được dọn theo thứ tự sau đây:
Burgundy — Madeira — Port — Frontiniac — Pacchiaretti — Old Hock — Mountain — Champagne — lại Hock lần nữa — Bishop, và cuối cùng là Punch.
Một định lượng kha khá, tôi tưởng tượng thế! Món ăn cuối cùng tại quán ăn bình dân, tức là những lát thịt lợn quay (vì tất cả các món lớn đều được bưng ra, cắt nhỏ, chuyền vòng quanh trước rồi mới đặt lên bàn), ăn kèm mận hầm và các loại trái cây ngọt khác, tiếp theo là phô mai và bơ cùng các đĩa táo, khiến tôi nhớ đến Shakespeare [76], và Shakespeare đã xúi giục tôi đi xem vở kịch hài Pháp.
Chúa tôi ơi! Sao nó còn tồi tệ hơn cả những vở kịch hiện đại của Anh nữa chứ!
Màn đầu tiên thông báo cho tôi biết một tòa án quân sự sắp được triệu tập xét xử Bá tước Vatron — kẻ đã rút gươm chống lại Đại tá, anh vợ của hắn.
Các sĩ quan cầu xin cho hắn — vô ích! Vợ hắn, em gái Đại tá, nài xin với muôn vàn đớn đau giông bão — vô ích! Cô ta lên cơn cuồng phong và ngất lịm đi, khép lại màn nhung thứ nhất!
Sang màn thứ hai, án tử hình được tuyên cho Bá tước — vợ hắn vẫn cuồng loạn và phát cuồng hệt như trước; còn hơn thế nữa (cái con người chăm chỉ ngoan ngoãn ấy!) thì cô ta chịu chết chẳng làm hơn được nữa.
Màn thứ ba và cũng là màn cuối, người vợ vẫn cuồng loạn, cuồng loạn thực sự! — đám lính chuẩn bị nổ súng, chiếc khăn tay thực sự đã rơi xuống; thì bỗng nhiên! Ân xá! Ân xá! vang lên từ hậu trường: và một vị hoàng tử nào đó bước vào, ân xá cho Bá tước, còn người vợ thì vẫn cuồng loạn, chỉ khác là vì vui sướng; thế thôi đó!
Ôi quý cô thân mến! đây là một trong những trường hợp mà tiếng cười đi liền với sự u sầu: bởi đó chính là thể loại kịch hiện được thay thế ở khắp mọi nơi cho Shakespeare và Racine.
Bạn thừa biết rằng tôi đang bạo hành chính cảm xúc của mình khi ghép những cái tên ấy lại với nhau. Nhưng dẫu tôi có nghĩ tệ hại đến đâu về kịch nghiêm túc của Pháp, ngay cả trong những tác phẩm hoàn mỹ nhất của nó; và dẫu tôi có quyền phàn nàn đến mức nào về sự bóp méo vĩnh viễn ngôn ngữ của nó, cũng như sự kết nối và chuyển đổi tư duy mà Tự nhiên đã gán cho các trạng thái cảm xúc; thì dẫu vậy, những vở bi kịch Pháp vẫn là những tác phẩm nghệ thuật nhất quán và là sản phẩm của sức mạnh trí tuệ to lớn.
Duy trì sự vừa vặn trong các phần, và sự hài hòa trong tổng thể, chúng tạo nên một bản chất của riêng mình, dẫu đó là một bản chất giả tạo. Chúng vẫn kích thích tâm trí khán giả tư duy năng động, vươn tới sự hoàn hảo lý tưởng.
Tâm hồn không bị đánh trơ ra thành những cảm giác thuần túy bởi sự đồng cảm vô giá trị với những khổ đau thông thường của chính chúng ta, hay sự tò mò trống rỗng trước những điều bất ngờ, thiếu đi sự trang nghiêm của ngôn ngữ hay tình huống khiến trí tưởng tượng phải kinh ngạc và đắm say.
Tôi muốn hỏi đám đông đang xô đẩy nhau đến với những vở bi kịch giả tưởng và hài kịch đẫm lệ của Kotzebue cùng đám bắt chước hắn rằng: Các người đang tìm kiếm điều gì vậy?
Là kịch hài chăng? Nhưng trong kịch hài của Shakespeare và Moliere, hiểu biết của tôi càng chính xác bao nhiêu, và tôi suy ngẫm càng sâu sắc bao nhiêu, thì niềm thỏa mãn hòa quyện vào tiếng cười của tôi lại càng lớn bấy nhiêu.
Bởi dẫu những phẩm chất mà các tác giả này miêu tả quả thực buồn cười, xét về thể loại hay mức độ, và buồn cười một cách tinh tế, thì chúng vẫn là sự phát triển tự nhiên của tâm trí con người, và là thứ mà với ít nhiều sự thay đổi về lớp lang xiêm y, tôi có thể áp dụng vào trái tim mình, hoặc ít nhất là cho toàn bộ các tầng lớp đồng loại.
Biết bao lần các nhà luân lý học và siêu hình học đã phải nhờ cậy đến những trích dẫn – không chỉ từ các nhân vật bi kịch, mà ngang ngửa như thế từ Jaques, Falstaff, và thậm chí từ đám hề, kẻ ngốc của Shakespeare, hay từ Lão hà tiện, kẻ bệnh hoang tưởng và kẻ đạo đức giả của Moliere – để có được những minh họa tuyệt vời nhất cho các chân lý phổ quát và quy luật phụ trợ của tư duy, hành động con người!
Đừng nói rằng tôi đang ca ngợi những thứ trừu tượng: bởi những đặc trưng giai tầng ấy – thứ cấu thành nên tính giáo huấn của một nhân vật – lại được điều chỉnh và cụ thể hóa trong từng cá nhân của Kịch Shakespeare đến mức chính cuộc đời cũng không kích thích rõ nét hơn cảm giác về tính cá thể thuộc về sự tồn tại thực tế.
Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng một trong những thuộc tính thiết yếu của hình học lại không kém phần thiết yếu đối với sự xuất sắc của kịch nghệ, và (nếu tôi có thể nhắc đến tên ông mà không mang tiếng khoe chữ trước một nữ quý tộc), Aristotle do đó đã yêu cầu nhà thơ phải lồng ghép cái phổ quát vào trong cái cá thể.
Sự khác biệt chính là, trong hình học, chân lý phổ quát tự nó ở vị trí cao nhất trong ý thức, còn trong thơ ca, đó là hình thái cá thể mà chân lý được khoác lên mình.
Đối với người xưa, và không kém phần đối với các nhà viết kịch kỳ cựu của Anh và Pháp, cả kịch hài lẫn bi kịch đều được coi là những thể loại thơ ca. Họ không tìm kiếm trong kịch hài chỉ để làm chúng ta cười, càng ít làm chúng ta cười bằng những nét mặt nhăn nhó, những tai nạn ngôn từ, tiếng lóng thời thượng, hoặc việc khoác áo cho những đạo đức tầm thường bằng các phép ẩn dụ rút ra từ tiệm buôn hay nghề thợ thuyền của nhân vật; họ cũng không hạ mình trong bi kịch để nịnh hót sự tán thưởng của khán giả bằng cách tái hiện trước mặt họ những bản sao y chang chính bản thân tầm thường của họ trong mọi sự tầm thường hiện hữu, hay tác động vào sự đồng cảm ì ạch của họ bằng thứ bi cảm chẳng đáng tôn trọng hơn những giọt nước mắt say xỉn ủy mị.
Các cảnh bi kịch của họ nhằm mục đích tác động đến chúng ta thật đấy, nhưng nằm trong ranh giới của niềm vui, và hòa quyện với hoạt động của cả trí hiểu biết lẫn trí tưởng tượng của chúng ta.
Họ muốn đưa tâm trí bay bổng đến cảm giác về sự vĩ đại tiềm năng của nó, và cấy gieo những mầm mống của sự vĩ đại ấy trong lúc tạm thời lãng quên cái “thứ thấp hèn mà chúng ta đang là” cùng trạng thái đặc thù mà mỗi người tình cờ vướng phải; tạm ngưng những ký ức cá nhân và ru ngủ chúng giữa âm thanh của những tư tưởng cao cả hơn.
Khoan đã! — (tôi dường như nghe thấy đại diện của đám đông đáp lại, và chúng ta hãy lắng nghe hắn. Tôi là nguyên đơn, còn hắn là bị cáo.)
BỊ CÁO. Khoan đã! Các vở kịch tình cảm hiện đại của chúng tôi chẳng phải ngập tràn đạo đức Cơ đốc giáo tuyệt vời nhất sao?
NGUYÊN ĐƠN. Đúng vậy! Đúng y hệt chừng ấy, và chính xác là phần đó, thứ mà các anh có thể thực hành mà chẳng cần đến một nhân đức Cơ đốc giáo nào — chẳng cần đến một sự hy sinh nào thực sự đau đớn cho các anh! — đúng chừng ấy để nịnh hót các anh, khiến các anh ra về với sự hài lòng về chính trái tim mình, và hoàn toàn hòa giải với những thói hư tật xấu của bản thân — những thứ vốn chẳng bao giờ có thể bị coi là quá tồi tệ, khi chúng lại được bầu bạn với những kẻ cao sang nhường ấy và đi tay trong tay với biết bao lòng trắc ẩn cùng sự hào hiệp; một thứ nịnh hót đáng ghê tởm đến mức các anh sẽ nhổ nước bọt vào mặt kẻ dám thốt ra nó trước mặt các anh trong một buổi gặp riêng tư, trừ phi các anh hiểu nó như một lời mỉa mai lăng mạ, nhưng các anh lại đón nhận nó với sự thỏa mãn vô biên, khi các anh chia sẻ đống rác rưởi ấy cùng cả đàn heo và húp lấy húp để từ một cái máng ăn chung! Không một Caesar nào được phép bước đi trên sân khấu của các anh — không Antony, không vị Hoàng tử Đan Mạch nào, không Orestes, không Andromache!
B. Không: hoặc càng ít những kẻ đó càng tốt. Một thị dân bình thường ở London hay Hamburg thì can cớ gì mà dính dáng đến các ông hoàng bà chúa của các anh, cùng những anh hùng ngoại giáo thời đi học cũ kỹ chứ? Hơn nữa, ai nấy đều nhẵn mặt cốt truyện rồi; và chúng ta còn có thể cảm thấy sự tò mò nào nữa——
N. Sao hỡi ngài, chẳng lẽ không tò mò vì phong cách ư? — không vì ngôn ngữ tuyệt diệu của nhà thơ ư? — không vì các tình huống, sự tác động qua lại của các luồng cảm xúc ư?
B. Ngài vội vàng quá đấy, thưa ngài! Sự tò mò duy nhất mà chúng tôi cảm thấy nằm ở cốt truyện: và làm sao chúng tôi có thể lo lắng về đoạn kết của một vở kịch, hay bị bất ngờ bởi nó, khi chúng tôi đã nhẵn thín kết cục nó ra sao rồi chứ?
N. Xin lỗi vì đã ngắt lời anh! Giờ thì chúng ta hiểu nhau rồi. Vậy các anh tìm kiếm trong một vở bi kịch – thứ mà người khôn kẻ ngoan thuở xưa coi là nỗ lực cao cả nhất của thiên tài nhân loại – sự thỏa mãn hệt như thứ các anh nhận được từ một cuốn tiểu thuyết mới toanh, cuốn lãng mạn Đức mới nhất, và những món trân vị thời thượng khác chỉ có thể thưởng thức một lần duy nhất.
Nếu các anh mang những cảm xúc ấy sang nghệ thuật chị em là Hội họa, thì Nguyện đường Sixtine của Michael Angelo và Phòng tranh Kinh thánh của Raphael sẽ chẳng thể mong mỏi lấy một chút ưu ái nào từ các anh. Các anh đã biết tất tần tật về chúng từ trước; và chắc chắn là quá quen thuộc với các chủ đề của những bức tranh ấy còn hơn cả những câu chuyện bi kịch thời kỳ lịch sử hay anh hùng.
Do đó, việc các anh ưu ái các tác giả đương thời là hoàn toàn nhất quán: bởi những vĩ nhân thời trước, ít ra là những kẻ từng được tổ tiên chúng ta coi là vĩ nhân, rất ít khi tìm cách thỏa mãn loại tò mò này, đến mức họ dường như coi cốt truyện chẳng khác mấy so với việc họa sĩ nhìn tấm vải bạt của mình: đó là cái nền để họ trưng trổ sự xuất sắc tương xứng của mình, chứ không phải cái để dựa dẫm vào.
Chẳng có tác phẩm nào, giống như một câu chuyện hay tiểu thuyết, lại thể hiện sự nghèo nàn về phát minh trong các tình tiết, hay ít sự bận tâm hơn trong việc đan cài chúng lại với nhau, như cuốn *Don Quixote* của Cervantes.
Những người ái mộ nó cảm thấy muốn lật ngược lại và đọc lại một chương trước đó ít nhất mười lần cho mỗi lần họ cảm thấy sự háo hức muốn đọc lướt về phía trước: hoặc mở cuốn sách ở những phần họ nhớ rõ nhất, hệt như chúng ta thường xuyên thăm viếng những người bạn mà ta yêu quý nhất, những kẻ có nhân dạng và hành động ta tường tận nhất.
Trong tác phẩm của Ariosto thần thánh (như cách đồng bào của ông gọi vị nhà thơ cưng này của họ), tôi hoài nghi không biết có nổi một câu chuyện nào do chính ông tự phát minh ra, hay những yếu tố của nó lại không hề quen thuộc đối với độc giả của dòng “truyện lãng mạn cổ”.
Tôi xin bỏ qua những người Hy Lạp cổ đại — những kẻ thậm chí còn cho rằng một điều kiện cốt lõi cho cốt truyện bi kịch là bản chất của nó phải được biết trước từ lâu. Việc từng có ít nhất năm mươi vở bi kịch mang cùng một tựa đề hẳn là một trong những động cơ quyết định Sophocles và Euripides chọn *Electra* làm chủ đề.
Nhưng Milton —
B. À vâng, Milton thì đúng thế thật! — nhưng chẳng phải Tiến sĩ Johnson và những vĩ nhân khác nói với chúng ta rằng giờ đây chẳng ai thèm đọc Milton nữa nếu không phải vì bị bắt buộc làm bài tập sao?
N. Càng tồi tệ hơn cho những ai mà điều đó đúng với họ! Nhưng sao các anh lại giả vờ ngưỡng mộ Shakespeare? Phần lớn, nếu không muốn nói là toàn bộ, các vở kịch của ông đều vốn dĩ là những vở kịch tủ, xét về mặt tên tuổi và các biến cố chính. Toàn bộ các cốt truyện làm nền móng cho chúng đều đã tồn tại sẵn trong các biên niên sử, khúc ca dân gian hoặc bản dịch của các nhà văn đương thời hoặc tiền bối người Anh. Sao tôi cứ phải lặp lại câu hỏi: Các anh giả vờ ngưỡng mộ Shakespeare làm gì cơ chứ? Có phải, ngõ hầu các anh chỉ đang giả vờ ngưỡng mộ ông ấy?
Tuy nhiên, một khi các anh đã gạt bỏ một lần cho tất cả những sự kiện và nhân vật nổi tiếng của lịch sử, hay của sử thi thơ ca, các anh đã lấy cái gì để thay thế chúng? Nào vị thần bi kịch của các anh đã trang bị cho chiếc bình và gươm dao của nàng những ai? Phải nói là nàng thơ tình cảm mới đúng, kẻ mà các anh đã đưa lên ngai vàng của bi kịch ấy? Những anh hùng nào đã được nàng dựng lên trên đôi giày ống cao của mình?
B. Ôi! Những người bạn tốt và hàng xóm sát vách của chúng tôi — những thương gia chân chất, những thủy thủ dũng cảm, những sĩ quan phục viên đầy khí phách, những nhà bác ái Do Thái, những kỹ nữ đức hạnh, những người thợ đồng thau nhân hậu, và những tay bắt chuột đẫm chất tình cảm! — (hơi bặm trợn chút đỉnh, nhưng tất cả các nhân vật hào hiệp, nhân hậu của chúng tôi đều hơi thô lỗ hoặc mang tư tưởng chán ghét loài người, và tất cả những kẻ chán ghét loài người của chúng tôi lại vô cùng nhân hậu.)
N. Nhưng tôi xin anh hãy nói cho, trong những hành động vĩ đại hay thú vị nào mà những con người như thế có thể dấn thân vào cơ chứ?
B. Họ vung tay vung chân phát rất nhiều tiền; kiếm của hồi môn hậu hĩnh cho các chàng trai cô gái vốn đã có đủ mọi phẩm chất tốt đẹp; họ hống hách át vía các lãnh chúa, nam tước và thẩm phán hòa bình (bởi họ gan lì chẳng kém Hector!) — họ giải cứu xe ngựa đúng khoảnh khắc chúng sắp rơi xuống vực sâu; bế bổng trẻ sơ sinh ngay trước mắt các đạo quân đối địch; và một số diễn viên của chúng ta diễn vai một gã đàn ông vạm vỡ cường tráng hoàn hảo đến mức các nhà viết kịch của chúng ta – những kẻ luôn nhắm đến các diễn viên trong đầu – hiếm khi quên biến nhân vật nam ưa thích của họ trở nên khỏe mạnh như Samson. Và rồi họ thực hiện những cú nhảy vĩ đại làm sao!!
Và những gì diễn ra trên sân khấu thậm chí còn gây ấn tượng mạnh mẽ hơn cả những gì được diễn xuất. Tôi từng nhớ một vụ nổ điếc tai nhức óc đến mức tôi chẳng thể nghe nổi một từ nào của vở kịch suốt nửa màn sau đó; và một chút thuốc súng thật được châm lửa vào cùng thời điểm ấy, tỏa mùi cho tất cả khán giả ngửi thấy, khiến tính chân thực của khung cảnh thật đáng kinh ngạc!
N. Nhưng làm sao các anh có thể gắn kết với những con người và hành động ấy thứ sự phụ thuộc của hàng ngàn sinh mạng vào số phận của một người — thứ mang lại một sức hút cao cả nhường ấy cho các nhân vật của Shakespeare và các nhà viết kịch bi kịch Hy Lạp? Làm sao các anh có thể gắn kết với chúng thứ cảm xúc siêu việt nhất trong mọi cảm xúc: quyền năng của định mệnh và sức mạnh chi phối của thiên đàng – thứ dường như tôn vinh những nhân vật gục ngã dưới cú đánh không thể cưỡng lại của nó?
B. Ôi, toàn là những ảo tưởng vớ vẩn! Chúng ta tìm kiếm và tìm thấy ngay trên sân khấu hiện tại những nhu cầu và niềm đam mê của chính mình, những nỗi bực dọc, mất mát và túng quẫn của chính mình.
N. Vậy là chính cái bản chất cằn cỗi tiểu nhân của các anh mới là thứ các anh khao khát được tái hiện trước mắt mình? — chứ không phải bản chất con người ở đỉnh cao và sự cường tráng của nó ư? Nhưng chắc chắn các anh có thể tìm thấy cái trước với mọi niềm vui và nỗi buồn của nó một cách thuận tiện hơn ngay trong chính ngôi nhà và giáo xứ của mình.
B. Đúng vậy! Nhưng ở đây có một điểm khác biệt. Vận may thì mù quáng, nhưng nhà thơ thì mở to mắt, và ngoài ra còn chiều chuộng hết mực hệt như vận may hay thay đổi. Ông ấy khiến mọi thứ xoay chuyển chính xác theo cách chúng ta ao ước. Ông ấy làm chúng ta thỏa mãn bằng cách miêu tả những kẻ ta căm ghét hoặc khinh bỉ là đáng ghét hoặc đáng khinh.
N. (nói nhỏ.) Nghĩa là, ông ấy thỏa mãn lòng đố kỵ của các anh bằng cách bôi nhọ những kẻ bề trên của các anh.
B. Ông ấy khiến tất cả những kẻ đạo đức cứng nhắc làm bộ làm tịch tỏ ra cao sang hơn hàng xóm cuối cùng đều lộ nguyên hình là những tên đạo đức giả đê tiện, phản tề và nhẫn tâm; còn những gã dân chơi có máu mặt – những kẻ nâng ly uống rượu và ôm gái phóng túng như nhau – lại chứng minh mình mới là những người có danh dự đích thực, và (để không một khán giả nào phải ra về trong ấm ức) cải tà quy chính ngay ở cảnh cuối, không để lại chút hoài nghi nào trong tâm trí các quý cô rằng họ sẽ trở thành những người chồng tuyệt vời và cực kỳ chung thủy: dẫu có vẻ thật tiếc khi họ buộc phải tus bỏ đi những phẩm chất từng khiến họ trở nên thú vị đến thế! Hơn nữa, kẻ nghèo bỗng chốc hóa giàu sang; và trong lựa chọn hôn nhân cuối cùng, chính tầng lớp giàu có quyền quý cũng bị buộc phải thú nhận rằng: ĐỨC HẠT LÀ SỰ CAO QUÝ ĐÍCH THỰC DUY NHẤT, VÀ MỘT NGƯỜI PHỤ NỮ XINH ĐẸP CHÍNH LÀ CỦA HỒI MÔN CỦA CHÍNH NÀNG!!
N. Tuyệt vời! Nhưng các anh đã quên béng những tia chớp rực rỡ của lòng trung quân, những lời ca tụng ái quốc dành cho Nhà vua và Nước Anh Cũ — những thứ đặc biệt nếu được chuyển tải qua một phép ẩn dụ từ tàu thuyền hay tiệm buôn, vẫn thường xuyên khẩn khoản nài xin và chưa bao giờ thất bại trong việc đón nhận những tràng pháo tay tán thưởng của công chúng! Tôi ghi nhận sự khôn ngoan của các anh vì đã bỏ sót nó. Bởi toàn bộ hệ thống kịch nghệ của các anh chính là một thứ Chủ nghĩa Jacobin về mặt đạo đức và trí tuệ thuộc loại nguy hiểm nhất, và những tràng lảm nhảm tầm thường về lòng trung quân ấy chẳng khác gì sự đạo đức giả ở các nhà viết kịch của các anh, còn sự đồng cảm của chính các anh với chúng lại là một sự tự lừa dối thô bỉ. Bởi toàn bộ bí mật của sự nổi tiếng kịch nghệ đối với các anh nằm ở sự hỗn loạn và đảo lộn trật tự tự nhiên vạn vật, nguyên nhân và hệ quả của chúng; nằm ở việc kích thích sự bất ngờ bằng cách miêu tả các phẩm chất phóng khoáng, tình cảm tinh tế và ý thức danh dự nhạy bén (những thứ vốn được các anh coi là như thế) ở những con người và tầng lớp xã hội mà kinh nghiệm dạy chúng ta ít mong đợi nhất; và ở việc thưởng thức bằng mọi sự đồng cảm – vốn là quyền lợi chính đáng của đức hạnh – những kẻ tội phạm đã bị pháp luật, lý trí và tôn giáo rút phép thông công khỏi sự quý trọng của chúng ta!
Và giờ thì — chúc ngủ ngon! Quả thực! Lẽ ra tôi đã có thể viết trang giấy cuối cùng này mà chẳng cần phải đặt chân sang Đức; nhưng tôi tưởng tượng mình đang trò chuyện với bạn ngay bên lò sưởi của bạn, và bạn có nghĩ đó là một niềm vui nhỏ bé khi tôi thỉnh thoảng quên đi việc mình không có mặt ở đó hay không? Hơn nữa, bạn và những người bạn tốt khác của tôi đã chấp nhận tôi với con người nguyên bản của tôi, và từ bất kỳ nơi nào tôi viết thư, bạn cũng sẽ mong đợi phần “Hành trình” của tôi sẽ bao gồm cả những chuyến du ngoạn trong chính tâm trí mình.
RATZEBURG.
Chẳng một chú cá nhỏ nào được thả trở lại dòng nước, chẳng một con ruồi nào được thả tự do khỏi bàn tay trẻ thơ, lại có thể tận hưởng nguyên tố của mình một cách phơi phới hơn tôi trong ngôi nhà sạch sẽ và yên bình này, cùng khung cảnh tuyệt diệu nhìn ra thị trấn, những lùm cây và hồ nước Ratzeburg từ khung cửa sổ nơi tôi đang viết.
Tinh thần và cả sức khỏe của tôi, tôi tưởng chừng như bắt đầu suy kiệt dưới tiếng ồn, bụi bẩn và không khí không lành mạnh của khách sạn Hamburg. Tôi rời khỏi đó vào Chủ nhật, ngày 23 tháng 9, với một bức thư giới thiệu từ nhà thơ Klopstock gửi cho viên Amtmann của Ratzeburg. Amtmann đón tiếp tôi niềm nở và giới thiệu tôi với vị mục sư đáng kính – người đồng ý cung cấp chỗ ăn ở cho tôi trong khoảng thời gian không dưới một tháng.
Chiếc xe ngựa tôi ngồi lớn hơn đáng kể so với xe ngựa chở khách của Anh, mang lại tỷ lệ và nét tương đồng thô kệch tương tự như tai voi so với tai người. Phần mui của nó được cấu thành từ những tấm ván trần đủ màu sắc, có vẻ từng là các phần từ những vách ốp tường khác nhau.
Thay vì cửa sổ, người ta dùng rèm da với một lỗ kính nhỏ ở mỗi tấm: chúng hoàn toàn phát huy tác dụng che khuất tầm nhìn bên ngoài và lùa cái lạnh bên trong. Do đó, tôi chẳng thể quan sát được gì nhiều ngoài các quán trọ và trang trại nơi xe dừng bánh.
Tất cả chúng đều y hệt nhau, ngoại trừ kích thước: một căn phòng lớn như nhà kho, có gác xép chứa cỏ khô bên trên, rơm rác lòa xòa thành từng chùm qua các khe ván cấu thành trần nhà và sàn gác xép. Từ căn phòng này, vốn được lát đá như đường phố, đôi khi một, đôi khi hai căn phòng nhỏ hơn được ngăn vách ở một đầu. Những phòng này thường được lát sàn.
Trong căn phòng lớn, gia súc, lợn, gia cầm, đàn ông, phụ nữ và trẻ em cùng sinh sống trong một cộng đồng hòa thuận; tuy nhiên vẫn có vẻ sạch sẽ và tiện nghi mộc mạc. Tôi đã đo thử một trong những ngôi nhà này. Nó dài một trăm thước. Các căn phòng được cắt ra từ một góc. Giữa chúng và các khu chuồng gia súc có một khoảng không gian nhỏ, và chỗ này rộng bốn mươi tám thước, nhưng rộng ba mươi hai thước ở khu vực có chuồng; dĩ nhiên, các chuồng đều sâu tám thước ở mỗi bên.
Đầu của những con bò, v.v., đều quay về phía căn phòng; thực ra là chúng ở ngay trong phòng, thế nên chí ít chúng cũng có được niềm an ủi là được nhìn thấy mặt nhau. Nuôi nhốt chuồng là phổ biến ở vùng này của Đức — một tập quán mà các nhà nông học và nhà thơ có lẽ sẽ ôm giữ những quan điểm trái ngược nhau — hoặc chí ít là có những cảm xúc rất khác biệt.
Phần gỗ bên ngoài của những công trình này được để nguyên không trát vữa, giống như những ngôi nhà cổ của chúng ta, và được sơn màu đỏ với xanh lá, khiến các công trình trông rất rực rỡ và đan cài như khảm ô. Từ cách Hamburg ba dặm cho đến tận Molln, cách đó ba mươi dặm, cảnh sắc nông thôn theo tầm mắt tôi nhìn thấy là một vùng bằng phẳng chết chóc, chỉ được tô điểm thêm bởi các khu rừng. Đến Molln, cảnh sắc trở nên tươi đẹp hơn.
Tôi quan sát thấy một hồ nước nhỏ gần như được bao quanh bởi các lùm cây, và một dinh thự thấp thoáng thuộc sở hữu của Quốc vương Anh quốc, do viên Thanh tra Rừng ngự trị.
Chúng tôi mất khoảng thời gian tương đương để di chuyển quãng đường ba mươi lăm dặm từ Hamburg đến Ratzeburg, so với lúc đi từ London đến Yarmouth — một trăm hai mươi sáu dặm.
Hồ Ratzeburg kéo dài từ nam lên bắc, dài khoảng chín dặm, và bề rộng dao động từ ba dặm đến nửa dặm. Cách điểm cực nam khoảng một dặm, nó bị chia thành hai phần – dĩ nhiên là rất không đồng đều – bởi một hòn đảo; hòn đảo này được nối liền bởi một cây cầu và một dải đất hẹp với bờ bên này, và bởi một cây cầu khác có chiều dài vô tận với bờ bên kia, tạo thành một eo đất hoàn chỉnh.
Thị trấn Ratzeburg được xây dựng trên hòn đảo này. Nhà của mục sư hay nhà xứ, cùng với nhà của Amtmann, Amtsschreiber và nhà thờ, tọa lạc gần đỉnh của một ngọn đồi thoai thoải xuống dải đất hẹp và chiếc cầu nhỏ – nơi qua một cánh cổng quân sự tráng lệ, bạn bước chân lên hòn đảo thị trấn Ratzeburg.
Nơi này bản thân nó lại là một ngọn đồi nhỏ, qua việc leo lên và đi xuống, bạn sẽ đến được cây cầu dài và qua đó sang bờ bên kia.
Vùng nước nằm về phía nam thị trấn được gọi là Hồ Nhỏ, tuy nhiên nó hầu như thâu tóm toàn bộ vẻ đẹp của cả hồ lớn – với những bờ hồ vừa đủ thường xuyên xanh tươi và quang đãng để làm nổi bật hiệu ứng tráng lệ của những lùm cây tuyệt đẹp chiếm phần lớn chu vi của chúng.
Từ những khúc cua, đường vòng và vết khía của bờ hồ, khung cảnh thay đổi hầu như sau mỗi mười bước chân, và tổng thể mang một vẻ đẹp hùng vĩ kiểu cách, một sự uy nghi dịu dàng.
Ở phía bắc của Hồ Lớn, ẩn hiện phía trên nó, tôi nhìn thấy bảy ngọn tháp nhà thờ của Luebec ở khoảng cách mười hoặc mười hai dặm, nhưng rõ mồn một như thể chúng chưa đầy ba dặm. Khiếm khuyết duy nhất trong khung cảnh là Ratzeburg được xây dựng hoàn toàn bằng gạch đỏ, và tất cả các ngôi nhà đều lợp ngói đỏ.
Do đó, đối với mắt nhìn, nó hiện lên như một cụm màu đỏ gạch vụn. Thế nhưng chiều nay, ngày 10 tháng 10, lúc năm giờ hai mươi phút, tôi thấy thị trấn đẹp hoàn mỹ, và toàn bộ khung cảnh được làm mềm đi thành một sự đồng điệu hoàn hảo, nếu tôi được phép mượn một thuật ngữ từ giới họa sĩ.
Bầu trời bên trên Ratzeburg và toàn bộ phía đông là một màu xanh chạng vạng thuần khiết, trong khi phía tây bao phủ bởi những đám mây cát nhẹ nhàng. Từ đó, một luồng ánh sáng đỏ thẫm lan tỏa khắp toàn cảnh, hòa quyện không chút gợn sóng với thị trấn đỏ rực, những khu rừng đỏ nâu và những dải sậy đỏ vàng bên rìa hồ.
Hai hoặc ba chiếc thuyền, với những con người đơn độc đang chèo chống, bồng bềnh trôi lên trôi xuống trong thứ ánh sáng phong phú – thứ không chỉ tự thân nó hòa hợp với tất cả, mà còn quy tụ vạn vật vào trong một thể đồng điệu.
Lẽ ra tôi phải kể cho bạn nghe rằng tôi đã quay lại Hamburg vào thứ Năm (ngày 27 tháng 9) để chào tạm biệt người bạn của tôi – người tiếp tục hành trình về phía nam – và trở lại đây vào thứ Hai tuần tiếp theo.
Từ Empfelde, một ngôi làng nằm ở nửa quãng đường từ Ratzeburg đi Hamburg, tôi đi bộ qua những con đường cát sâu thẳm và một vùng đất phẳng ảm đạm: đất đai ở mọi nơi đều trắng bệch, cằn cỗi và tơi xốp quá mức; nhưng càng đến gần thành phố thì cảnh tượng càng trở nên dễ chịu.
Những ngôi nhà nông thôn mát mẻ, nhẹ nhàng, mà bạn có thể nhìn thấu qua để thấy những khu vườn phía sau, với các giàn che, lưới mắt cáo, những bức tường thực vật dày đặc và hàng cây trong các hàng hiên, hành lang; mỗi ngôi nhà đều có hàng rào ngăn nắp phía trước và ghế ngồi màu xanh bên trong hàng rào.
Mọi vật thể, dù là sản phẩm của tự nhiên hay công trình của bàn tay con người, đều ngăn nắp và nhân tạo. Tôi thích nó hơn nhiều so với việc nhà cửa, vườn tược và khu giải trí mang một gu thẩm mỹ cao quý hơn: bởi gu thẩm mỹ cao quý hơn ấy sẽ chỉ là hành vi bắt chước lố bịch.
Tay thương gia bận rộn, lo âu và ham tiền của Hamburg chỉ có thể tiếp thu chứ không thể tận hưởng sự giản dị của tự nhiên. Tâm trí bắt đầu yêu thiên nhiên bằng cách bắt chước những tiện nghi của con người trong tự nhiên; nhưng đó là một bước tiến trong tư duy, dẫu là một bước thấp — và nếu không phải thế, thì vạn vật xung quanh tôi đều cất lên tiếng nói về niềm vui vô tội cùng sự thoải mái của giác quan, và tôi đã hòa mình với sự đồng cảm không chút câu nệ vào những niềm vui cùng sự thoải mái ngay cả của những thương gia bận rộn, lo âu và ham tiền tại Hamburg.
Trong tâm trạng từ ái và bao dung ấy, tôi đã đến được những thành lũy khổng lồ của thành phố. Đó là những chiếc gối xanh khổng lồ, cái này chồng lên cái kia, với những cây cối mọc lên trong các khoảng trống, là những lời thề nguyện và biểu tượng cho một nền hòa bình kéo dài.
Về chuyến trở về của tôi, chẳng có gì đáng để chia sẻ ngoại trừ việc tôi đã thuê xe ngựa bưu điện hạng sang (extra post), tương đương với dịch vụ đổi ngựa trạm ở Anh. Những cỗ xe bưu điện miền bắc nước Đức này là những chiếc xe cút kít bằng liếp không mui.
Một chiếc xe chở rác của Anh quốc quả là một món đồ xa hoa, một kiệt tác cơ khí so với chúng và cả những con ngựa nữa! — một kẻ hoang dã hẳn có thể dùng xương sườn của chúng thay cho ngón tay để làm bảng tính toán.
Bất cứ nơi nào chúng tôi dừng chân, người đánh xe đều cho đám gia súc ăn thứ bánh mì lúa mạch đen sậm màu mà chính hắn cũng ăn, tất cả cùng nhau ăn điểm tâm; chỉ có điều đám ngựa không được pha gin vào nước uống, và người đánh xe thì không có nước để pha vào gin.
Giờ đây và từ nay trở đi là những chủ đề mang lại nhiều sự quan tâm hơn cho bạn, và hướng tới những đối tượng mà tôi đã rời xa bạn để tìm kiếm: cụ thể là giới văn nhân và nền văn chương của nước Đức.
Tin tôi đi, tôi đã bước đi với một ấn tượng kính畏 trong tâm trí khi W—— và tôi hộ tống ông Klopstock đến tư gia của người anh trai ông – nhà thơ Klopstock, nằm cách cổng thành khoảng một phần tư dặm.
Đó là một trong dãy nhà mùa hè bình dân tẻ nhạt (trông chúng là thế), với bốn hoặc năm hàng cây du non cằn cỗi trước các khung cửa sổ, phía bên kia là một bãi cỏ, tiếp theo là một vùng bằng phẳng chết chóc bị cắt ngang bởi vài con đường.
Bất kỳ vẻ đẹp nào (tôi thầm nghĩ) hiện diện trước mắt nhà thơ lúc này, chắc chắn phải hoàn toàn xuất phát từ sự kiến tạo của chính tâm trí ông.
Chúng tôi chờ đợi vài phút trong một phòng khách nhỏ ngăn nắp, được trang trí bằng các bức tượng của hai nàng Thơ và các bản in khắc với chủ đề lấy từ các bài thơ ca tụng (odes) của Klopstock.
Nhà thơ bước vào. Tôi vô cùng thất vọng trước diện mạo của ông, và chẳng nhận ra chút điểm tương đồng nào với bức tượng bán thân. Chẳng có chút chiều sâu tư duy nào trên trán, không có độ nặng trên đôi mày, không có biểu hiện đặc thù nào, dù là đạo đức hay trí tuệ, trong đôi mắt, không có nét khối nào trên tổng thể khuôn mặt.
Ông có chiều cao, nếu có thì là hơi thấp hơn mức trung bình. Ông đi đôi bốt rất lớn mà hai chân ông lấp đầy, vì chúng sưng phồng lên một cách đáng sợ.
Tuy nhiên, dù cả W—— lẫn tôi đều chẳng thể tìm thấy bất kỳ dấu hiệu nào của sự siêu việt hay nhiệt huyết trong diện mạo của ông, cả hai chúng tôi đều ấn tượng ngang nhau bởi sự hoạt bát, cùng sự nhã nhặn sẵn sàng và tử tế của ông.
Ông trò chuyện bằng tiếng Pháp với bạn tôi, và khó nhọc nói vài câu tiếng Anh với tôi. Cách phát âm của ông hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi việc rụng sạch hàm răng trên.
Cuộc trò chuyện bắt đầu từ phía ông bằng việc bày tỏ sự phấn khích tột độ trước việc đầu hàng của phân đội quân Pháp dưới quyền Tướng Humbert. Những hành động của họ ở Ireland liên quan đến ủy ban mà họ đã thành lập, cùng phần còn lại trong hệ thống tổ chức của họ, dường như mang lại cho nhà thơ niềm vui lớn lao.
Sau đó, ông tuyên bố niềm tin đầy hy vọng vào chiến thắng của Nelson, và dự đoán sự xác nhận của nó với một niềm vui sắc bén và đắc thắng. Từ ngữ, giọng điệu, ánh mắt của ông ngụ ý một thái độ chống Pháp mãnh liệt nhất.
Chủ đề chuyển sang văn học, và tôi hỏi bằng tiếng Latinh về lịch sử thơ ca Đức và các nhà thơ tiền bối của Đức. Đến nỗi kinh ngạc lớn của tôi, ông thú nhận rằng mình biết rất ít về chủ đề này.
Quả thực, ông thỉnh thoảng có đọc một hoặc hai tác giả tiền bối của họ, nhưng không đến mức có thể bàn luận về công trạng của họ. Giáo sư Ebeling, ông nói, có lẽ sẽ cung cấp cho tôi mọi thông tin loại này: chủ đề đó đã không khơi gợi sự tò mò đặc biệt ở ông.
Sau đó ông bàn về Milton và Glover, và cho rằng thơ không vần (blank verse) của Glover vượt trội hơn Milton.
W—— và tôi bày tỏ sự ngạc nhiên: và bạn tôi đưa ra định nghĩa cùng quan niệm của mình về thơ hài hòa, rằng nó nằm ở (trên hết thảy là thơ iambic không vần tiếng Anh) sự bố trí khéo léo các nhịp nghỉ và giai điệu, cùng âm hưởng quét qua của toàn bộ các đoạn văn,
với muôn vàn khúc lượn quanh co
Của vị ngọt đan cài ngân dài,
chứ không nằm ở dòng chảy đều đặn, càng không phải ở sự nổi bật của sức mạnh đối chọi của các dòng đơn lẻ — vốn thực chất gây tổn hại cho hiệu ứng tổng thể, trừ khi chúng được đưa vào cho một mục đích cụ thể nào đó.
Klopstock đồng tình và nói rằng ông chỉ giới hạn sự ưu việt của Glover ở các dòng đơn lẻ mà thôi.
Ông kể với chúng tôi rằng ông từng đọc Milton qua một bản dịch văn xuôi khi ông mười bốn tuổi [77]. Bản thân tôi cũng hiểu ông như thế, và W—— đã dịch lại tiếng Pháp của Klopstock đúng như tôi đã diễn giải từ trước.
Ông tỏ ra biết rất ít về Milton hay thực ra là về các nhà thơ của chúng tôi nói chung. Ông bày tỏ sự phẫn nộ lớn đối với bản dịch văn xuôi tiếng Anh cuốn *MESSIAH* của ông. Tất cả các bản dịch đều tệ, rất tệ — nhưng bản dịch tiếng Anh thì chẳng phải là bản dịch — có những trang liền trang không hề có trong bản gốc — và một nửa bản gốc thì chẳng tìm thấy đâu trong bản dịch.
W—— bảo ông rằng tôi có ý định dịch một vài bài thơ ca tụng của ông làm mẫu mực cho thơ trữ tình Đức — khi đó ông nói với tôi bằng tiếng Anh rằng: “Tôi ước gì anh chuyển ngữ sang tiếng Anh một số đoạn tuyển chọn của tác phẩm *THE MESSIAH*, và rửa hận cho người đồng hương của anh thay tôi!” Đó là câu nói sinh động nhất mà ông thốt ra trong suốt cuộc trò chuyện.
Ông kể với chúng tôi rằng bài thơ ca tụng đầu tiên của ông cách bài cuối tới năm mươi năm. Tôi nhìn ông với rất nhiều cảm xúc — tôi coi ông là người cha đáng kính của nền thơ ca Đức; là một con người tốt bụng; một tín đồ Cơ đốc; tuổi bảy mươi tư; với đôi chân sưng phồng khủng khiếp; thế mà vẫn năng nổ, hoạt bát, vui tươi, tử tế và cởi mở.
Mắt tôi có cảm giác như một giọt nước mắt đang chực dâng lên. Trong bức chân dung của Lessing có một bộ tóc giả chải ngược (toupee periwig) – thứ làm tổn hại vô cùng đến hiệu ứng diện mạo của ông — Klopstock cũng đeo thứ y hệt, được phấn trắng và uốn xoăn.
Nhân tiện đây, người già không bao giờ nên dùng phấn bột — sự tương phản giữa một bộ tóc giả lớn trắng như tuyết với màu da của một cụ già trông thật ghê tởm, và những nếp nhăn ở một nơi chốn như thế chỉ hiện lên như những rãnh chứa đầy bụi bẩn.
Đó là niềm vinh dự cho các nhà thơ và vĩ nhân khi bạn nghĩ về họ như những phần của tự nhiên; và bất kỳ điều gì mang tính trò hề hay thời trang đều làm tổn thương bạn ở họ, hệt như khi bạn nhìn thấy những cây thủy tùng đáng kính bị cắt tỉa thành hình những con công thảm hại. — Tác giả của *THE MESSIAH* lẽ ra nên đeo mái tóc bạc tự nhiên của chính mình. — Phấn bột và tóc giả của ông đối với mắt nhìn cũng giống như những gì ngài Virgil dành cho tai nghe vậy.
Klopstock nhấn mạnh rất nhiều về sức mạnh vượt trội mà ngôn ngữ Đức sở hữu trong việc cô đọng ý nghĩa. Ông nói, ông thường dịch các phần của Homer và Virgil, từng dòng một, và một dòng tiếng Đức luôn tỏ ra đủ cho một dòng tiếng Hy Lạp hoặc Latinh.
Trong tiếng Anh, bạn không thể làm điều này. Tôi đáp rằng trong tiếng Anh, chúng ta thường có thể chuyển ngữ một dòng anh hùng ca tiếng Hy Lạp thành một dòng rưỡi trong thước đo anh hùng ca thông thường của chúng ta, và tôi phỏng đoán rằng dòng rưỡi này sẽ được thấy là không chứa nhiều âm tiết hơn một dòng lục bộ (hexameter) tiếng Đức hoặc tiếng Hy Lạp.
Ông không hiểu tôi [78]; và tôi – kẻ muốn lắng nghe quan điểm của ông chứ không phải để chỉnh đốn chúng – cảm thấy vui mừng vì ông đã không hiểu.
Bấy giờ chúng tôi cáo từ ra về. Vào đầu cuộc Cách mạng Pháp, Klopstock từng viết những bài thơ ca tụng chúc mừng. Ông nhận được một số phần thưởng danh dự từ Cộng hòa Pháp (tôi tin là một chiếc vương miện bằng vàng), và giống như Priestley của chúng tôi, ông được mời vào ghế nghị viện, nhưng ông đã từ chối.
Nhưng khi tự do của nước Pháp tự biến đổi thành một nữ thần cuồng nộ, ông đã gửi trả lại những phần thưởng ấy kèm theo một khúc thoái triện (palinodia), tuyên bố sự căm ghét của ông đối với hành vi của họ: và kể từ đó, ông có lẽ đã trở thành một kẻ chống Pháp hơn cả mức cần thiết.
Ý tôi là, trong sự khinh miệt và căm phẫn chính đáng của ông đối với những tội ác và sự ngu ngốc của những kẻ cách mạng, ông tự để mình quên mất rằng bản thân cuộc cách mạng là một tiến trình của Sự quan phòng Thiên thượng; và rằng cũng như sự ngu ngốc của con người là sự khôn ngoan của Chúa, thì những bất chính của họ cũng là công cụ cho lòng tốt của ngài.
Từ nhà Klopstock, chúng tôi đi bộ ra các thành lũy, vừa đi vừa đàm đạo về nhà thơ cùng cuộc trò chuyện của ông, cho đến khi sự chú ý của chúng tôi bị chuyển hướng sang vẻ đẹp và sự kỳ lạ của buổi hoàng hôn cùng những hiệu ứng của nó lên vạn vật xung quanh.
Có những khu rừng ở đằng xa. Một luồng ánh sáng cát trù phú (phải, là một màu sắc đậm hơn nhiều so với màu cát) trải dài trên những khu rừng đang sẫm đen trong ánh lửa rực rỡ.
Bên trên phần rừng nằm ngay dưới ánh sáng mãnh liệt ấy, một lớp sương mù màu thau nổi bồng bềnh. Những hàng cây trên thành lũy, và những con người đang di chuyển qua lại giữa chúng, bị cắt hoặc chia thành các đoạn bằng nhau của bóng râm thâm trầm và ánh sáng màu thau.
Nếu cây cối, cùng thân thể của những người đàn ông và phụ nữ, bị chia thành các đoạn bằng nhau bởi một cây thước hay một chiếc compa, thì các phần cũng không thể đều đặn hơn thế. Mọi thứ khác đều mờ ảo.
Đó là một khung cảnh thần tiên! — và để làm tăng thêm tính chất lãng mạn của nó, giữa những đối tượng đang di chuyển, bị chia cắt thành ánh sáng và bóng tối đan xen ấy, là một đứa trẻ xinh đẹp, ăn mặc với vẻ giản dị thanh lịch của một đứa trẻ Anh, đang cưỡi trên lưng một con dê oai vệ, với chiếc yên cương, dây cương và các trang bị khác vô cùng đắt đỏ và lộng lẫy.
Trước khi khép lại chủ đề về Hamburg, xin cho phép tôi nói rằng tôi đã ở lại thêm một hoặc hai ngày so với dự định ban đầu, nhằm có mặt trong ngày lễ Thánh Michael – vị thánh bảo hộ của Hamburg, với kỳ vọng được chứng kiến sự xa hoa thị chính của nước Cộng hòa thương mại này.
Tuy nhiên, tôi đã phải thất vọng. Chẳng có đoàn rước nào cả, hai hoặc ba bài giảng được đọc cho hai hoặc ba bà già nghe trong hai hoặc ba nhà thờ, và Thánh Michael cùng sự bảo hộ của ông được tầng lớp thượng lưu nguyền rủa tống sang nơi khác khi mọi địa điểm giải trí, rạp hát, v.v., đều đóng cửa vào ngày này.
Ở Hamburg, dường như chẳng có chút tôn giáo nào sất; còn ở Luebec thì nó bị giới hạn ở phụ nữ. Đàn ông có vẻ quyết tâm ly dị vợ mình ở thế giới bên kia, nếu họ không thể làm điều đó ở thế giới này.
Bạn sẽ không dễ dàng tưởng tượng được một cảnh tượng kỳ quái hơn được hiển thị bởi gian giữa rộng lớn của nhà thờ chính tại Luebec, nhìn từ gác xép đặt đàn organ: vì nó chật ních các nữ gia nhân và những người cùng tầng lớp xã hội, và tất cả mũ của họ đều có phần chỏm bằng vàng và bạc, trông nó hệt như một mặt đường khảm toàn vàng và bạc trù phú.
Tôi xin khép lại bức thư này bằng việc chép lại nguyên văn những ghi chép mà người bạn W—— của tôi đã thực hiện về các cuộc trò chuyện của anh với Klopstock, trong những buổi gặp gỡ diễn ra sau khi tôi rời đi.
Trên những ghi chép này, hiện tại tôi chỉ đưa ra một nhận xét duy nhất, và điều đó sẽ có vẻ ngạo man, đó là: những nhận xét của Klopstock về bậc hiền triết đáng kính xứ Koenigsburg theo hiểu biết của chính tôi là mang tính xúc phạm và sai lầm; và hệ thống của ông ấy hoàn toàn không phải là đã bị từ bỏ, mà khắp các trường đại học của Đức, không có lấy một giáo sư duy nhất nào không phải là một tín đồ phái Kant hoặc một môn đệ của Fichte – kẻ có hệ thống được xây dựng trên nền tảng của Kant và phỏng đoán tính chân thực của nó; hoặc cuối cùng, dù là một kẻ đối kháng với Kant về tác phẩm lý thuyết của ông, lại không ôm ấp toàn bộ hoặc một phần hệ thống đạo đức của ông, và tiếp nhận một phần danh pháp của ông.
“Klopstock bày tỏ mong muốn được xem tác phẩm *CALVARY* của Cumberland và hỏi xem nó được đánh giá ra sao ở nước Anh, tôi liền đến hiệu sách của Remnant (nhà sách Anh) nơi tôi kiếm được tờ *Analytical Review*, chứa bài đánh giá về cuốn *CALVARY* của Cumberland.
Tôi nhớ mình từng đọc ở đó một vài đoạn trích của bản dịch thơ không vần tác phẩm *THE MESSIAH*. Tôi đã đề cập điều này với Klopstock, và ông rất khao khát được nhìn thấy chúng. Tôi bước sang nhà ông và đưa cuốn sách vào tay ông.
Khi nhắc đến thi phẩm của chính mình, ông kể với tôi rằng ông bắt đầu viết *THE MESSIAH* năm mươi bảy tuổi; ông dành trọn ba năm ròng cho đề cương mà không sáng tác nổi một dòng nào. Ông cực kỳ bối rối không biết nên thi hành tác phẩm của mình theo phương thức nào.
Chẳng có mẫu mực thành công nào về nghệ thuật làm thơ trong tiếng Đức trước thời điểm này. Ba khúc ca đầu tiên ông viết bằng một thể loại văn xuôi có tiết tấu hoặc nhịp điệu. Dù điều này được thực hiện với nhiều công sức và một chút thành công, nó vẫn cách xa sự thỏa mãn của ông.
Ông từng sáng tác các thể thơ lục bộ (hexameters) cả tiếng Latinh lẫn tiếng Hy Lạp như một bài tập trường lớp, và cũng từng có những nỗ lực trong phong cách làm thơ đó bằng tiếng Đức. Chúng chỉ đạt mức công trạng vô cùng trung bình. — Một hôm, ông bị chấn động bởi ý tưởng về những gì có thể làm theo cách này — ông nhốt mình trong phòng cả ngày, thậm chí nhịn cả bữa trưa, và phát hiện ra rằng đến tối ông đã viết được hai mươi ba dòng lục bộ, chuyển hóa thành thơ một phần những gì ông từng viết bằng văn xuôi trước đó.
Từ lúc đó, hài lòng với nỗ lực của mình, ông không còn sáng tác bằng văn xuôi nữa.
Hôm nay ông thông báo với tôi rằng ông đã hoàn thành đề cương trước khi đọc Milton. Ông vô cùng mê mẩn khi thấy một tác giả từng bước đi trên cùng con đường trước ông. Điều này mâu thuẫn với những gì ông nói trước đó.
Ông không muốn nói về thi phẩm của mình với bất kỳ ai cho đến khi nó hoàn thành: nhưng một số bạn bè từng thấy những phần ông đã hoàn tất đã tra tấn ông cho đến khi ông đồng ý xuất bản một vài cuốn trong một tạp chí. Khi đó, tôi tin là ông còn rất trẻ, chừng hai lăm tuổi.
Phần còn lại được in vào các giai đoạn khác nhau, mỗi lần bốn cuốn. Sự đón nhận dành cho những mẫu vật đầu tiên vô cùng flattering (tán dương).
Ông mất gần ba mươi năm để hoàn thành toàn bộ thi phẩm, nhưng trong ba mươi năm đó, không quá hai năm được dùng cho việc sáng tác. Ông chỉ sáng tác trong những khoảnh khắc thuận lợi; ngoài ra ông còn những bận tâm khác.
Ông tự hào về cấu trúc đề cương những bài thơ ca tụng của mình, và cáo buộc các nhà thơ trữ tình hiện đại có sự thiếu hụt trầm trọng về mặt này. Tôi gán cáo buộc tương tự cho Horace — ông không thèm nghe điều đó — nhưng gác lại cuộc tranh luận.
Ông gọi bài thơ ca tụng *ODE TO FORTUNE* của Rousseau chỉ là một bài tiểu luận đạo đức chia theo khổ.
Tôi nhắc đến bài *ST. CECILIA* của Dryden; nhưng ông tỏ ra không quen thuộc với các nhà văn của chúng tôi.
Ông muốn biết sự phân biệt giữa thơ không vần kịch nghệ và thơ không vần sử thi của chúng tôi. Ông khuyên tôi nên đọc tác phẩm *HERMANN* của ông trước khi đọc *THE MESSIAH* hoặc các bài thơ ca tụng.
Ông tự đắc rằng sớm muộn gì các tác phẩm kịch nghệ của ông cũng sẽ được biết đến ở nước Anh. Ông chưa từng nghe về Cowper.
Ông cho rằng Voss trong bản dịch cuốn *ILIAD* đã bạo hành thành ngữ của người Đức, và hy sinh nó cho người Hy Lạp, khi không nhớ đầy đủ rằng mỗi ngôn ngữ đều có tinh thần và thiên tài riêng biệt của nó.
Ông nói Lessing là nhà văn kịch nghệ hàng đầu của họ. Tôi phàn nàn rằng tác phẩm *NATHAN* quá ư dài dòng tẻ nhạt. Ông nói trong đó không có đủ hành động; nhưng Lessing là nhà văn trong sáng nhất của họ.
Ông nói những lời ưu ái về Goethe; nhưng bảo rằng cuốn *SORROWS OF WERTER* là tác phẩm hay nhất của ông, hay hơn bất kỳ vở kịch nào; ông thích vở kịch được viết đầu tiên hơn những vở kịch còn lại của Goethe.
Vở *ROBBERS* của Schiller bị ông đánh giá là quá quắt đến mức ông không thể đọc nổi.
Tôi nhắc đến cảnh mặt trời lặn. Ông không biết nó. Ông nói Schiller không thể sống thọ. Ông nghĩ *DON CARLOS* là vở kịch hay nhất của ông; nhưng bảo rằng cốt truyện thì không thể gỡ rối nổi. — Rõ ràng là ông biết rất ít về các tác phẩm của Schiller: thực ra, ông nói, ông không thể đọc chúng.
Buerger, theo ông, là một nhà thơ đích thực và sẽ trường tồn; trái lại, Schiller phải sớm bị lãng quên; rằng hắn tự hiến mình cho việc bắt chước Shakespeare – người thường quá quắt, nhưng Schiller thì còn quá quắt gấp mười ngàn lần.
Ông nói rất khinh miệt về Kotzebue, trước hết là một tác giả vô đạo đức, và tiếp theo là thiếu năng lực. Ở Vienna, ông nói, người ta phát cuồng vì hắn; nhưng chúng tôi không coi người dân Vienna là những kẻ khôn ngoan hay hóm hỉnh nhất nước Đức.
Ông nói Wieland là một tác giả quyến rũ, và là một bậc thầy tối cao của ngôn ngữ chính mình: rằng về mặt này Goethe không thể so sánh với ông, và thực ra cũng chẳng ai khác sánh bằng. Ông nói lỗi lầm của Wieland là quá dồi dào đến mức sung mãn.
Tôi kể với ông rằng *OBERON* vừa được dịch sang tiếng Anh. Ông hỏi tôi có mê mẩn thi phẩm đó không.
Tôi đáp rằng tôi nghĩ cốt truyện bắt đầu chùng xuống vào khoảng quyển thứ bảy hoặc thứ tám; và nhận xét rằng thật bất xứng cho một thiên tài khi để sự thu hút của một thi phẩm dài xoay quanh hoàn toàn vấn đề thỏa mãn nhục dục.
Ban đầu ông có vẻ muốn bào chữa điều này bằng cách nói rằng có những chủ đề khác nhau cho thơ ca, và các nhà thơ không muốn bị gò bó trong lựa chọn của họ.
Tôi đáp rằng tôi nghĩ niềm đam mê tình yêu cũng phù hợp với mục đích của thơ ca chẳng kém gì bất kỳ đam mê nào khác; nhưng việc cố định sự chú ý của độc giả suốt một thi phẩm dài chỉ vào sự thèm thuồng thuần túy là một cách làm dễ dãi để lấy lòng.
Ôi! nhưng, ông nói, anh thấy đấy, những thi phẩm như thế làm vừa lòng tất cả mọi người.
Tôi đáp rằng bổn phận của một đại thi hào là nâng con người lên tầm vóc của chính mình, chứ không phải hạ mình xuống tầm vóc của họ.
Ông đồng tình, và thú nhận rằng vì bất kỳ lý do gì đi nữa, ông đời nào viết ra một tác phẩm như *OBERON*.
Ông nói với sự say mê tột độ về phong cách của Wieland, và chỉ ra đoạn Retzia sinh con là đẹp đẽ tinh tế tuyệt mỹ.
Tôi nói rằng tôi không nhận thấy bất kỳ đoạn nào quá nổi bật; nhưng tôi có chừa dung lượng cho những sự bất toàn của bản dịch.
Về những vụ ăn cắp văn chương của Wieland, ông nói chúng được xử lý tinh tế đến mức các vĩ nhân cũng có thể tự hào mà ăn cắp như ông ấy.
Ông coi những cuốn sách và câu chuyện của các nhà văn lãng mạn cổ đại dưới ánh sáng của thần thoại cổ đại, như một thứ tài sản chung, từ đó một người được tự do lấy bất cứ thứ gì anh ta có thể tận dụng tốt.
Một người Anh từng tặng ông những bài thơ ca tụng của Collins, và ông đã đọc chúng với niềm vui thích.
Ông biết rất ít hoặc chẳng biết gì về Gray, ngoại trừ bài *ELEGY written in a country CHURCH-YARD*. Ông phàn nàn về tên hề trong vở *LEAR*.
Tôi nhận xét rằng hắn dường như mang lại một nét hoang dại khủng khiếp cho nỗi đau đớn; nhưng ông vẫn tiếp tục phàn nàn.
Ông hỏi liệu có được công nhận rằng Pope viết thơ có vần điệu khéo léo hơn bất kỳ nhà thơ nào của chúng tôi không — tôi đáp rằng tôi ưu ái Dryden hơn, bởi các câu thơ đôi của ông có sự đa dạng lớn hơn trong chuyển động.
Ông nghĩ lý do của tôi là xác đáng; nhưng hỏi liệu vần điệu của Pope có chính xác hơn không.
Câu hỏi này tôi hiểu là áp dụng cho các âm tiết tận cùng ở cuối câu, và nhận xét với ông rằng tôi tin là vậy; nhưng tôi nghĩ thật dễ dàng để bỏ qua một số sự thiếu chính xác trong âm thanh cuối cùng, nếu âm hưởng chung của dòng thơ là vượt trội.
Tôi bảo ông rằng chúng tôi không quá khắt khe đối với các vần kết thúc dòng như người Pháp. Ông dường như không biết rằng chúng tôi không phân biệt giữa vần nam và vần nữ (tức là vần đơn hoặc vần kép): ít nhất ông đã đặt câu hỏi cho tôi về chủ đề này.
Ông dường như nghĩ rằng không có ngôn ngữ nào đủ hoàn thiện để không thể được làm giàu thêm bởi những thành ngữ vay mượn từ một ngôn ngữ khác.
Tôi nói đây là một tập quán vô cùng nguy hiểm; và bổ sung rằng tôi nghĩ Milton thường làm tổn hại cả văn xuôi lẫn thơ ca của mình khi lạm dụng sự tự do này quá thường xuyên.
Tôi giới thiệu với ông các tác phẩm văn xuôi của Dryden như những mẫu mực của tiếng Anh thuần khiết và bản xứ.
Tôi đang giẫm lên mảnh đất nhạy cảm, vì tôi có lý do để phỏng đoán rằng chính ông cũng từng thong thả đắm mình trong tập quán đó.”
Cùng ngày hôm đó, tôi ăn trưa tại nhà ông Klopstock, nơi tôi có niềm vinh hạnh được gặp gỡ nhà thơ lần thứ ba.
Chúng tôi chủ yếu trò chuyện về những thứ không đâu vào đâu. Tôi hỏi ông nghĩ gì về Kant.
Ông nói danh tiếng của Kant đang suy giảm mạnh ở Đức. Rằng về phần mình, ông không ngạc nhiên khi thấy điều đó, vì các tác phẩm của Kant đối với ông hoàn toàn khó hiểu — rằng ông từng bị đám tín đồ phái Kant làm phiền nhiễu nhiều lần; nhưng hiếm khi có thói quen tranh cãi với họ.
Thói quen của ông là lấy cuốn sách ra, mở nó và chỉ vào một đoạn, rồi nài nỉ họ giải thích nó.
Họ thường cố gắng làm điều này bằng cách thay thế bằng những ý tưởng của chính họ.
Tôi không muốn một lời giải thích về ý tưởng của anh, tôi nói, mà là về đoạn văn đang hiển thị trước mắt chúng ta. Bằng cách này, tôi thường đưa cuộc tranh chấp đến kết luận tức thì.
Ông nói về Wolfe là Nhà siêu hình học hàng đầu mà họ có ở Đức. Wolfe có những kẻ điên cuồng theo sau; nhưng họ khó có thể được gọi là một giáo phái, và thật may mắn cho đến khi sự xuất hiện của Kant, khoảng mười lăm năm trước, nước Đức chưa từng bị quấy rầy bởi bất kỳ giáo phái triết gia nào sất; mà mỗi người đều theo đuổi các cuộc nghiên cứu của riêng mình một cách độc lập không bị kiểm soát bởi các giáo điều của một bậc thầy.
Kant đã tỏ ra đầy tham vọng muốn trở thành người sáng lập một giáo phái; rằng ông đã thành công: nhưng người Đức giờ đây đang tỉnh táo trở lại.
Rằng Nicolai và Engel theo những cách khác nhau đã góp phần giải thiêng cho quốc gia; nhưng trên hết thảy là tính khó hiểu của nhà triết học và triết học của ông ta.
Ông có vẻ hài lòng khi nghe rằng cho đến nay các học thuyết của Kant chưa vấp phải nhiều sự ngưỡng mộ ở Anh — không nghi ngờ gì nữa chúng ta có đủ sự khôn ngoan để không bị bịp bợm bởi một nhà văn dám thách thức lẽ phải và sự hiểu biết thông thường của con người.
Chúng tôi bàn về bi kịch. Ông có vẻ đánh giá cao sức mạnh khuấy động những giọt nước mắt — tôi nói rằng chẳng có gì dễ dàng hơn việc làm ngập lụt khán giả, rằng việc đó được thực hiện hằng ngày bởi những nhà văn tầm thường nhất.
Tôi phải nhắc nhở bạn, người bạn của tôi, thứ nhất: những ghi chép này không nhằm mục đích làm mẫu mực cho sức mạnh trí tuệ của Klopstock, hay thậm chí là “sự uy phong trong đàm thoại,” việc đánh giá điều này thông qua một cuộc trò chuyện ngẫu nhiên, lại với những kẻ xa lạ, và hơn thế nữa lại là người nước ngoài, thì không chỉ bất hợp lý mà còn mang tính bôi nhọ.
Thứ hai: tôi gán cho các nhận xét ít sự quan tâm nào khác ngoài những gì bắt nguồn từ sự nổi tiếng của chính nhân vật đã thốt ra chúng.
Cuối cùng: nếu bạn hỏi tôi, liệu tôi đã đọc *THE MESSIAH* chưa, và tôi nghĩ gì về nó? Tôi đáp — cho đến nay mới chỉ có bốn cuốn đầu tiên; còn về quan điểm của tôi — (những lý do cho nó sẽ trình bày sau) — bạn có thể đoán được nó từ những gì tôi không kìm được mà lẩm bẩm với chính mình, khi vị mục sư tốt bụng sáng nay bảo tôi rằng Klopstock chính là Milton của nước Đức — “Quả là một Milton rất Đức đấy phải không!!!”
Nguyện xin Thiên đàng phù hộ bạn, S. T. COLERIDGE.