KỲ PHÁT BỊ GIAM
9 giờ đêm. Đã ba, bốn hôm nay trời mưa dầm, gió lạnh. Vì thế tuy còn sớm mà thành phố Nam Định im lặng như tờ. Ngã tư Cửa Đông, dưới chiếc tán bằng xi măng cốt sắt, thầy cảnh sát ẩn mình trong chiếc áo tơi vải sơn, y như có vẻ buồn chán về phố xá tẻ ngắt, người qua lại lưa thưa, đợi đến nửa giờ cũng không có lấy một chiếc ô tô đi qua mặt.
Phố Bến Nước lại càng buồn hơn nữa. Trông xa tít về mạn bến tầu, mấy chục ngọn đèn điện đứng chơ vơ bên vệ đường nhựa bóng nhoáng như sơn. Dưới mấy chiếc ao tù trong đám sen Nhật Bản, lũ ễnh ương thi nhau ì ọp…
Lủi thủi từ đằng xa một chú khách già, vai khoác chiếc hòm tây sắt, đi lại. Vai so, da mặt xanh xám, thỉnh thoảng chú lại rao phá sa, phá sa bằng một giọng rè rè, rõ là tiếng một tay cự phách trong làng dân bẹp.
Đến đầu phố Carreau[1], chú đi chậm bước lại dưới ánh đèn 100 nến ngay góc phố, hai mắt chú càng có vẻ thâm quầng sâu lõm. Hiệu tạp hóa khách lớn nhất thành Nam ngay đầu phố lúc ấy cũng bắt đầu đóng cửa. Trong một hiệu cao lầu anh hầu sáng vắng khách đương ngáp dài bên những treo thịt bò, lạp xường, hành ớt, tuy rằng lúc ấy ở ngay trên gác, tiếng lạch cạch của bàn mạt chược đang vui vẻ đánh. Qua hiệu sách giữa phố, chú khách bán lạc rang khẽ liếc mắt nhìn chiếc đồng hồ treo trên tường về phía bên tay phải. Trong hiệu mấy cô bé con đương đùa nghịch nhau bên chồng báo chí, tiếng cười nói lẫn với khúc phong cầm gian trong đưa ra.
Chú khách khẽ nói:
- Hà ma, mới có 9 giờ 35!
Qua phố Carreau, chú rẽ sang Hàng Thiếc. Đi được độ năm, sáu bước, chú đứng dừng lại, núp dưới hiên một nhà bỏ trống, trên cửa có dán giấy cho thuê. Trông trước, trông sau chú bỗng rút chìa khóa trong túi ra, mở khóa cửa, lẩn vào trong nhà. Chú đóng trái cửa lại rồi se sẽ bước lần lên thang gác. Đến bên trước cửa sổ nhìn về phía đằng sau, chú chăm chú nhìn sang gác căn nhà đối diện quay mặt về phố cửa Đông. Trong cửa kính một bóng người qua lại. Chú nhìn một hồi lâu rồi lẩm bẩm:
- Cóc khô! Cóc khô! Sao cái đêm nay lâu thế!
Chú vén tay áo nhìn giờ chiếc đồng hồ đeo tay, ngoảnh lên, ánh đèn trước nhà đối diện đã tắt tự lúc nào. Chú xoa tay cười một mình mà rằng:
- Mình tưởng dễ nó không đi chắc. Nhưng còn kịp chán, chuyến xe lửa đêm tốc hành trong Thanh ra 10 giờ 8 phút mới chạy cơ mà!
Đợi trong dăm phút nữa, chú mở cửa ra sân gác rồi nhanh nhẹn theo bờ tường, trèo sang nhà đối diện. Rút chiếc đèn bấm trong túi ra, chú soi lỗ khóa lúi húi trong giây lát, chú đã mở được cửa mà vào trong gác. Đàng hoàng, chú với tay lên tường bật đèn. Khác hẳn cử chỉ chậm chạp lúc còn đi trong phố, bây giờ chú có vẻ nhanh nhẹn lạ thường. Vội vàng, chú lục hết ngăn kéo này sang ngăn kéo khác, gặp nhiều tập giấy chú chịu khó giở xem từng tờ rồi ở đâu lại xếp gọn vào đấy. Mở một chiếc ngăn tủ, chú rút ra hai ba tập giấy bạc. Chú bĩu môi ra dáng khinh bỉ rồi vất trả, khóa lại tử tế. Mở chiếc tủ búp-phê, chú có ý xem xét kỹ lưỡng từng chiếc đĩa. Chú lẩm bẩm:
- Cóc khô! Không biết thằng cha giấu đâu mà kỹ thế.
Một tiếng động dưới nhà làm cho chú vội vàng tắt điện. Tiếng giầy lộp cộp bước lên thang gác. Đèn điện bật. Một người trạc ba mươi tuổi, to lớn ngơ ngác nhìn quanh phòng. Hắn đến bên bàn giấy rồi nhìn mấy chồng sách, mấy chiếc ngăn kéo rồi mỉm cười. Cởi chiếc áo ba-đờ-suy vắt lên mắc, hắn xoa tay ra dáng khoái chí lắm. Tên khách bí mật lúc nẫy đã biến đâu mất! Có lẽ nghĩ thế nên hắn mở cửa sổ ngoảnh nhìn ra phía ngoài. Mở tủ lấy ra chiếc đèn đun nước, hắn cắm điện đun nước rồi bầy ra bàn hai cốc cà phê, một đĩa đựng đường bằng bạc, một hộp sữa bò đặc.
Rút thuốc lá ra châm hút, hắn ung dung ngồi đợi, mấy ngón tay gõ nhịp xuống bàn. Nước trong ấm đã bắt đầu sủi. Hắn bỗng nói:
- Nào ông khách quý của tôi đâu? Mời ông ra xơi với tôi một cốc cà phê nóng!
Vừa nói, hắn vừa đến bên chiếc tủ áo đứng giơ tay khẽ gõ.
Trong tủ, một tiếng người vui vẻ nói ra.
- Entrez!Mời vào!
Hai cánh cửa tủ mở, chú khách bước ra. Chú giơ tay bắt tay người to lớn và nói:
- Ông Bá Vy, tôi rất lấy làm hân hạnh được gặp ông. Tôi xin tự giới thiệu…
Người to lớn nói:
- Bất tất giới thiệu, tôi vẫn nghe danh Kỳ Phát, bây giờ mới được gặp mặt. Mời ông ngồi chơi, bận sau ông lại có gặp tôi đi vắng, xin ông cứ mở cửa dưới nhà mà vào tự nhiên cho!
Kỳ Phát - phải, chính tên khách già bán lạc rang là Kỳ Phát trá hình - cũng cười mà rằng:
- Vâng được phép ông, bận sau có dịp tôi sẽ lại chơi luôn. Bây giờ ông hãy cho tôi xem chậu nước để rửa mặt, kẻo chất collodion tuy làm được thành những vết nhăn trên trán nhưng nó co da lại, khó chịu lắm.
Nói xong, Kỳ Phát lại bàn rửa mặt, mở nước rửa. Chàng xoa xà phòng, vừa quay lại bảo Bá Vy rằng:
- Ông nhận ngay được ra tôi, thế mới biết nghề trá hình của tôi còn vụng về lắm lắm.
Bá Vy thú thực:
- Không, ông trá hình giỏi lắm, tôi thực không nhận được, nhưng tôi đoán chỉ có ông mà thôi.
Kỳ Phát rửa mặt xong thì nước vừa sôi, Bá Vy pha cà phê, ân cần mời Kỳ Phát:
- Ông xơi đường hay xơi sữa?
- Vâng, ông để mặc tôi, hai miếng là đủ, tính tôi không thích ngọt.
- Tôi quen thói mất rồi, tối đến không có cốc cà phê sữa thì không chịu được.
Hai người thù địch ngồi đối diện nhau nói toàn những câu khách sáo. Kỳ Phát lúc đó có cảm tưởng vừa bắt tay một võ sĩ trên đài, hai bên tuy cùng cười nói nhưng trong bụng đã rắp lát nữa sẽ cho nhau những quả đấm rất hiểm rất đau.
Kỳ Phát bỗng dằn mạnh chiếc cốc lên bàn rồi nói:
- Bất tất chúng ta phải giữ miếng nhau mãi nữa, ta nói thẳng ngay là hơn. Ông Bá Vy, tôi muốn xem chiếc đĩa cổ.
- Tôi bị trộm lấy mất rồi!
- Ông bất tất phải nói dối, tôi biết chắc rằng chiếc đĩa ấy còn ở trong nhà này, cũng như tôi biết rõ rằng: ông đã hơi biết manh mối về kho tàng kia!
Bá Vy ra dáng khinh bỉ, mỉm cười:
- Ông đã biết chắc thế thì từ lúc nẫy đến giờ sao ông không lục tìm cho ra có được không. Trước tôi tưởng ông cũng vào hạng giỏi giang hơn thế này cơ đấy! Ông đánh một dây thép giả làm người gọi tôi lên Hà Nội có việc cần, nhưng từ lúc bắt đầu xe hỏa chạy thì tôi nóng ruột lạ thường. Tôi ngờ đó là một kế “điệu hổ ly sơn” của ông. Thực vậy, đến ga Đặng Xá tôi quả quyết xuống thuê xe về, quả nhiên bắt gặp ông đang lục lọi ở nhà tôi. Ông Kỳ Phát, thủ đoạn của ông chỉ là thủ đoạn của một tên trèo tường khoét vách mà thôi.
Dưới lời mỉa mai của Bá Vy, Kỳ Phát ung dung trả lời:
- Bây giờ ông nói tôi mới rõ, trước tôi cứ tưởng rằng quên lời tổ phụ định chiếm đoạt riêng một mình của cải của ông cha để lại mới là quân ăn cướp cơ đấy.
Như không nén được cơn giận, Bá Vy vùng đứng dậy. Nhanh như cắt Kỳ Phát đã giơ tay đấm chéo vào quai hàm Bá Vy làm cho hắn bị ngã ngất quay xuống sàn.
Nhưng hai bàn tay to lớn bỗng ôm chặt lấy Kỳ Phát. Ngoảnh nhìn lại, chàng nhận ra thằng Nghé. Vùng vẫy, chàng cố vật lộn cùng thằng tù vượt ngục. Giây lát, thắng thế, chàng đã đè được đầu gối lên ngực thằng Nghé nhưng Bá Vy, lúc đó đã hồi tỉnh, thừa cơ hội, vớ lấy chiếc ba toong giơ thẳng cánh nện vào đầu Kỳ Phát. Bị đau, chàng trinh thám trẻ tuổi ngã xuống, bất tỉnh nhân sự.
Tới lúc tỉnh dậy, chàng đã thấy mình bị nhốt vào trong một chiếc buồng chật hẹp. Bốn bề đều kín mít như bưng, buồng chỉ có mỗi một lỗ trống bằng hai bàn tay. Bá Vy đứng ngoài nói vọng vào:
- Ông Kỳ Phát, tôi xin lỗi ông nhé. Nhà tôi chỉ có mỗi chiếc buồng tối nguyên để rửa ảnh này là tiện tiếp ông thôi! Nếu ông thấy bó cẳng quá, muốn ra thì chỉ việc lấy danh dự mà hứa với tôi rằng: “Ra khỏi đây ông sẽ bỏ không theo đuổi việc nhà họ Đặng” là lập tức tôi để ông tự do ngay. Ông hứa đi, tôi tin lời ông lắm.
Kỳ Phát vui vẻ trả lời:
- Xin cám ơn ông. Cũng như ông quen uống cà phê sữa buổi tối, tôi có thói hễ đã dúng tay vào việc gì thì dù sao cũng không chịu bỏ dở dang.
- Vậy tôi bắt buộc phải nhốt ông ở đây suốt đến ngày 17 tháng tám, vì hôm đó, kho tàng kia sẽ về tay tôi rồi. Ông đừng hòng trốn, buồng này kín cả, chỉ có mỗi một cửa thì bằng lim chắc lắm. Nếu ông kêu, thằng Nghé là tên tử thù của ông đứng gác ông sẽ dùng khẩu súng bắn chim tôi giao cho nó mà kết liễu đời ông bằng một phát đạn ghém.
Kỳ Phát cười vang mà rằng:
- Ông lầm, việc gì tôi phải trốn, phải kêu, tôi muốn ra khỏi đây lúc nào chẳng được! Tôi hiện đang cần chỗ tĩnh vì tôi đang có việc nghĩ, nếu tôi bông lông ở ngoài thì tôi lại nghĩ vơ vẩn không sao dò la manh mối được. Vì thế nên tôi xin cảm ơn ông mà nhận thuê căn phòng này trong một tháng. Phải, ông Bá Vy ạ, chỉ trong một tháng, vì hôm nay là 15 tháng hai tây - đến 15 tháng ba tôi sẽ không thuê buồng ông nữa. Tôi cần phải ra vì khi đó chắc tôi nằm đã nghĩ ra manh mối vụ này, vả lại, đến trung tuần tháng ba, trời bắt đầu sang hè, ở cái buồng chật hẹp này sao được hợp vệ sinh, ông nhỉ!
Chẳng muốn nghe lời giễu cợt của Kỳ Phát, Bá Vy tức tối quay đi… Kỳ Phát cả cười, chạy đến bên lỗ trống gọi với:
- Ông Bá Vy ơi! Ông nhớ dặn đầu bếp nhá: sáng tôi quen ăn 11 giờ, chiều 6 giờ, ông đừng bầy vẽ gì cả, ông nhớ bảo nó: tôi không biết ăn thịt bò, rất ghét cá, hai món thích nhất là trứng tráng và giò lụa.
Bá Vy đã đi xa, Kỳ Phát cười, vào nằm lên trên chiếc ghế vải, lim dim đôi mắt. Chàng ngủ quên lúc nào không biết, đến lúc tỉnh dậy đã thấy để trên chiếc án con, cạnh lỗ hổng, bữa cơm chiều: một đĩa tây cơm nóng, một bát canh, bốn món xào tươm tất ngon lành.
Rồi hết ngày này sang ngày khác, Kỳ Phát chỉ hết ngủ lại hút thuốc lá, lấy giấy bút vẽ, viết… Thấm thoắt đã được 25 ngày. Một điều mà Kỳ Phát phải thú nhận là Bá Vy tuy có dã tâm giam cầm chàng nhưng về các thứ cần dùng và cơm nước ăn uống thì thực là chu đáo. Sau khi ăn cơm xong và tráng miệng bằng quả táo tây, Kỳ Phát ghé lỗ hổng mà bảo rằng:
- Này Nghé, tôi cảm ơn ông nhá, tại trời bức lắm rồi, chứ được anh hầu hạ tử tế thế này tôi không muốn đi một chút nào cả! Còn có bốn, năm hôm nữa tôi đã phải xa anh rồi.
Rồi bữa cơm nào cũng thế, sau khi ăn tráng miệng Kỳ Phát lại làm ra vẻ buồn rầu bịn rịn mà từ biệt thằng Nghé, làm cho thằng này trước còn cho là câu nói đùa sau cũng đem lòng ngờ vực…
Sáng hôm rằm tháng ba tây, thằng Nghé theo lệ thường đưa bữa cơm qua lỗ hổng. Hai mươi phút sau, nó lại toan dọn đi thì lạ chưa các món ăn đều còn để nguyên vị cả. Ngạc nhiên, nó ghé mắt qua lỗ hổng nhòm vào thì nó bỗng thất kinh, trong buồng không có một ai, trên chiếc ghế vải, để trên chiếc khăn xếp gọn, có một tập giấy bạc, gài vào một lá thư. Hoảng hốt, thằng Nghé mở khóa đẩy cửa vào, nó đọc lá thư thấy mấy chữ:
“Ông Bá Vy,
Y hẹn, tôi xin trao lại ông 15 đồng là tiền cơm trọ. Xin lỗi ông, khi đi không có lời chào ông được. Kỳ Phát.
Tái bút - Đây tất cả 17 đồng. Hai đồng thừa là tiền tôi cho riêng thằng Nghé mua diêm thuốc. KP.”
Thằng Nghé đút vội tập giấy bạc vào túi áo trong rồi chạy ra đánh dây thép báo tin cho chủ vì lúc đó Bá Vy đang ở chơi ở huyện Hải Hậu. Có một điều đáng để ý mà thằng Nghé trong lúc hoảng hốt không trông thấy là trên án tuy các món ăn còn nguyên, nhưng đĩa cơm thì biến đi đâu mất!
❀ ❀ ❀
[1] Nay là đoạn đầu từ ngã tư Trần Hưng Đạo đến gốc đa Hàng Sắt, phố Lê Hồng Phong, Nam Định.