Dấu Hiệu Của Nhện

Lượt đọc: 76 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
Đất Hứa.

❊ ❊ ❊

Tiếng gầm của chân vịt gần như đã tắt hẳn; độ rung của động cơ giảm tốc cũng thưa dần. Con tàu Persian lướt đi với chuyển động gần như không thể cảm nhận qua làn nước phẳng lặng của vịnh Table.

Đó là một buổi sáng tuyệt đẹp, không một gợn mây trong vẻ lộng lẫy chói chang. Ngay trước mặt, ngọn Table Mountain khổng lồ dựng đứng bức tường thành sừng sững, làm lu mờ thị trấn bùn lầy nằm dưới chân núi cùng những cột buồm chi chít của tàu bè, bóng ngọn núi lớn soi gương trên mặt nước láng bóng. Xa xa phía chân trời, những chóp nón màu tía của dãy núi Hottentots Holland hiện lên đầy vẻ khắc khổ qua làn sương mù mùa hè mờ ảo. Quả là một cảnh tượng nên thơ sau ba tuần lễ chỉ có biển và trời vô tận.

"Và ấn tượng đầu tiên của anh về quê hương tôi là gì?"

Laurence quay lại.

"Tôi ít nghĩ về vùng đất ấy hơn là nghĩ về chính mình," anh đáp. "Tôi đang tự hỏi không biết giữa ấn tượng đầu tiên và ấn tượng cuối cùng của mình về nó sẽ ẩn chứa những khả năng nào."

Một chút thoáng buồn thoảng qua gương mặt Lilith Ormskirk trước câu nói đó.

"Và anh có vui vì chuyến hải trình đã kết thúc, bây giờ khi nó thực sự chấm dứt không?" cô tiếp lời.

"Cô biết là tôi không vui rồi. Đó thực sự là một quãng thời gian nghỉ ngơi tuyệt vời."

"Mà tôi thì cứ làm phiền mãi không thôi."

"Bằng cách giăng ra những bùa phép đầy ma quái đó. Lilith, nữ phù thủy kia, sẽ mất bao lâu để những cuộc trò chuyện của chúng ta bị lãng quên? Chắc là một tuần lễ chăng?"

"Chúng sẽ không bao giờ bị lãng quên," cô đáp, đôi mắt đượm vẻ mơ màng và nghiêm túc. "Nhưng giờ thì tôi phải xuống dưới khoang để thu dọn hành lý đây. Chúng ta sắp cập bến rồi."

Một đám đông lớn tụ tập trên cầu tàu khi con tàu tiến vào, nổi bật lên trên đó là những chiếc ô che nắng đủ màu sắc đầy vẻ điệu đà, mũ bần cùng những dải khăn lụa buông rủ thướt tha, và cả những chiếc mũ ống trắng truyền thống hơn. Phia sau là những người Mã Lai da vàng trong trang phục phương Đông sặc sỡ, người Hottentots mặt nhàu như da thuộc, người da đen Mozambique, và những người Kaffir có làn da sáng màu hơn đến từ vùng biên giới phía Đông. Cầu tàu chất đầy hành lý, để giành giật đặc quyền vận chuyển chúng cùng những chủ nhân đủ mọi thể loại, những tài xế xe ngựa người Mã Lai đang gào thét chói tai và tranh giành nhau chí mạng. Trên tàu, mọi người đang tạm biệt nhau hoặc chào đón những người đến đón mình; lướt qua những nhóm người đó với vẻ mặt pha trộn giữa sự cảnh giác và lo lắng là dăm ba người tiếp viên tàu, đang chăm chú dò la một khoản tiền típ có lẽ khó bề nắm bắt, hay cố chấn chỉnh lại một trí nhớ ngắn đến bất tiện.

Gần tấm ván cập tàu, Lilith Ormskirk đang tổ chức hẳn một buổi tiếp tân chia tay. Những "chú chó xù" của cô, theo cách gọi đầy châm biếm của Laurence, đang tụ tập xung quanh—dẫn đầu là Swaynston—để xin một cái vuốt ve chào tạm biệt. Tốp cuối cùng, gồm Holmes và một người nữa, đã buồn bã ra về, và giờ đây một cái nhìn nhanh chóng, lén lút dường như thoáng qua trên nét mặt tươi cười thanh thản của cô, mang theo bóng dáng của sự tha thiết và hụt hẫng. Những ai đứng ở bên kia boong tàu trong dòng người vội vã đều có thể nhận ra điều đó.

"Đúng là một màn vẫy đuôi mừng chủ!" một giọng nói vang lên ngay cạnh cô gần như ngay lập tức.

Cô quay lại. Rõ ràng là nét mặt đã rạng rỡ hẳn lên.

"Tôi tưởng anh đi mất rồi—quên cả việc chào tạm biệt chứ," cô nói.

Và bây giờ, tôi mới đến để thốt lên cái từ không phải lúc nào cũng đáng ghét ấy."

"Không phải trong trường hợp này sao?"

"Vâng, hoàn toàn là thế. Tôi vừa nghe nói sẽ có một chuyến tàu đặc biệt được bố trí—biết đấy, chúng ta đến quá muộn cho chuyến tàu thư tín thông thường. Thế nên tôi sẽ khởi hành đi Kimberley trong khoảng hai hoặc ba tiếng nữa."

Lilith có vẻ thất vọng.

"Tôi cứ nghĩ anh sẽ ở lại đây ít nhất vài ngày," cô nói. Và rồi những người bạn đã đón cô trên tàu quay trở lại, và Laurence thấy mình được giới thiệu với ba cô gái xinh đẹp—tóc vàng, mắt xanh, ăn mặc lịch sự—cùng với một người đàn ông—cao gầy, da ngăm đen, dáng người thả lỏng, trông chừng khoảng ba mươi tuổi—mà anh chẳng thể tài nào nhớ nổi tên ai, ngoại trừ việc người đàn ông sau cùng được gọi trống không là "George". Sau vài câu giao lưu xã giao, họ chào tạm biệt và đường ai nấy đi—Lilith cùng nhóm của mình lên tàu đi Mowbray, còn bạn đồng hành cũ của cô thì đi lo liệu cho chuyến hành trình dài ngày hơn rất nhiều của chính mình.

Khi đã có riêng một khoang tàu cho nhóm, một trong những cô gái mắt xanh liền mở màn:

"Lilith, anh ta là ai thế?"

"Ai cơ?"

"Thì anh ta ấy."

"Trời đánh thánh vật con bé này," Lilith bật cười, "có đến khoảng năm mươi anh 'ta' cơ mà."

"Không, chỉ có một người duy nhất thôi. Anh ta là ai? Làm nghề gì?"

"Tôi không biết," Lilith đáp, thôi không còn làm ngơ nữa.

"Cậu không biết á? Sau ba tuần trời lênh đênh trên tàu cùng nhau ư? Ba tuần trọn vẹn sống trên biển, mà cậu lại dám nói với tớ là cậu chẳng biết gì về anh ta sao? Hơn nữa, nhìn cái cách hai người chào tạm biệt nhau kìa? Ồ, tớ thấy hết đấy nhé."

"Thì tớ không biết thật mà."

"Hay là cậu chẳng thèm quan tâm?"

"Cứ trêu đi, nếu mấy cậu thấy vui," Lilith đáp với vẻ hoàn toàn thản nhiên, trong khi ba cô gái khúc khích cười vang.

"Tớ quý anh ấy, thích trò chuyện với anh ấy trên tàu—mấy cậu muốn nghĩ sao cũng được—nhưng tất cả những gì tớ biết là anh ấy đang đi Johannesburg. Có khi chúng tớ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa đâu."

"Mấy gã đàn ông người Anh đến đây lập nghiệp mà chẳng ai biết rõ lai lịch thế này thỉnh thoảng cũng lươn lẹo lắm đấy," người đàn ông da ngăm cộc cằn lên tiếng. "Cẩn thận đấy, Lilith."

Một cô gái mắt xanh khác tiếp lời: "Tớ lại thấy anh chàng này trông có vẻ thú vị đấy chứ. Tiếc thật, sao anh ta không ở lại đây một vài ngày cơ chứ. Biết đâu chúng ta đã có thể mời anh ta về nhà và xem anh ta thuộc giống người gì."

"Cẩn thận đấy," George lặp lại với giọng điệu đầy triết lý. "Cẩn thận đấy, Lilith."

Trong khi đó, nhân vật bị đem ra mổ xẻ—và cảnh báo—ấy sau khi đã "thông quan" một cách đầy nhẫn nại tại các cổng hải quan ở bến cảng, đang lao vun vút về phía trung tâm thành phố trên một trong vô số chiếc xe ngựa hansom. Khi quan sát thủ phủ của Nam Á, anh có cảm giác nơi đây giống như một thành phố bùn lầy, vừa được đổ ụp xuống khi còn ướt rồi cứ thế để mặc cho khô dưới ánh mặt trời. Diện mạo chung của nó gợi lên những trò nghịch ngợm của một vị thần Titan nào đó, kẻ mà từ đỉnh bức tường đá cao ngất phía sau, trong những giờ rảnh rỗi đã tự mua vui bằng cách ném xuống những cục đất sét đủ hình thù và kích cỡ, rồi thử xem mình có thể "ném" chúng rơi sát đến mức nào vào vị trí của những con đường và quảng trường.

Vào thời điểm đó, tuyến đường sắt chấm dứt ở Kimberley—khoảng cách từ đó đến Johannesburg, suýt soát ba mươi dặm, phải đi bằng xe ngựa mui kín. Laurence chợt nghĩ rằng, vì vẫn còn rảnh rỗi vài tiếng đồng hồ, anh tranh thủ tìm gặp đại lý xe ngựa và đặt trước một chỗ qua điện tín.

Viên đại lý không có mặt ở văn phòng. Tuy nhiên, Laurence Stanninghame, kẻ dẫu mới đặt chân đến đây nhưng đã thừa hiểu đường đi nước bước ở những xứ sở tương tự, bèn hỏi thăm về quán rượu quen thuộc của vị công chức mẫn cán ấy. Câu trả lời vừa nhanh chóng lại vừa chính xác. Chỉ ít phút sau, ngồi trên những chiếc ghế đẩu đối diện nhau, anh và người đang cần tìm đã bắt tay vào việc giao dịch.

Có vẻ như kết quả không được như ý lắm. Viên đại lý không thể nói chắc khi nào mới có chuyến xe ngựa chạy tuyến thường xuyên đầu tiên. Anh có thể phải chờ ở Kimberley—ừm, có thể là vài ngày, hoặc cũng có thể là vĩnh viễn. Mặt khác, biết đâu anh lại chẳng phải chờ đợi phút nào. Ông ta không thể đoán trước được. Ngay cả những người ở đầu tuyến bên kia cũng chẳng thể nói chắc chắn điều gì.

Laurence bắt đầu mất kiên nhẫn.

"Này nhé," anh nói với giọng hơi bực dọc. "Tôi chưa ở đất nước các anh lâu, nhưng đó dường như là câu trả lời duy nhất mà tôi nhận được cho bất kỳ câu hỏi nào từ nãy đến giờ. Nói cho tôi nghe xem, tính ra thì ở cái xứ này có điều gì là chắc chắn không? Chỉ một điều thôi cũng được."

Viên đại lý nhìn anh với vẻ kinh ngạc thoáng qua.

"Có chứ," hắn đáp; "chỉ một điều duy nhất thôi."

"Vậy... đó là gì?"

"Cái chết. Điều đó lúc nào cũng chính xác tuyệt đối. Nào, làm vài ly đi. Cứ chọn món mình thích đi, thuyền trưởng."

Chuyến tàu đặc biệt gồm một toa chở thư và một toa hạng nhất. Vì chỉ có thêm ba hoặc bốn hành khách khác nên mỗi người đều có một khoang riêng, một sự sắp xếp khiến Laurence Stanninghame vô cùng hài lòng. Anh chẳng muốn nói chuyện chút nào—nhất là trong một toa tàu lắc lư đầy bụi bặm. Thỉnh thoảng, các hành khách lại tụ họp để dùng bữa tại một quán ăn ven đường hoặc nhà nghỉ nào đó—những bữa ăn có chất lượng tỷ lệ nghịch với mức giá cắt cổ được thét ra—rồi sau đó ai lại về “hút thuốc, đọc sách và ngủ quách đi” để mặc kệ quãng đường ngót nghét bảy trăm dặm.

Họ cứ thế lao đi suốt nhiều giờ liền—lướt qua những ngôi làng Hà Lan ngái ngủ, nơi những khu vườn và thửa ruộng tạo nên một ốc đảo giữa những vùng đất phẳng lặng xung quanh—tiến lên, uốn lượn nhích từng chút một qua vẻ đẹp u ám hùng vĩ của đèo Hex River Poort, với những vách núi dựng đứng bằng sắt thép sừng sững vươn lên từ thung lũng bằng phẳng bên dưới. Rồi trời tối dần, và vì ngọn đèn dầu mập mờ chẳng tài nào đủ sáng để đọc sách, Laurence đành đi ngủ.

"Xa xôi trong hoang mạc, ta thích chí ruổi rong,"

Pringle, thi sĩ của miền Nam Phi, đã cất lời ca như thế.

"Pringle đích thị là kẻ nói dối, hoặc một tên điên," Laurence Stanninghame lẩm bẩm khi mở mắt ra vào sáng hôm sau và nhìn xung quanh, vốn đã quá quen thuộc với đoạn thơ ấy. Bởi vì đoàn tàu đang lao vun vút—khi không giảm tốc—xuyên qua chính cái hoang mạc mà Pringle từng ca tụng; cái vùng đất khô cằn, bằng phẳng đến nao lòng, không một bóng nước, chẳng một bóng cây được gọi là Karroo. Không một bóng người qua lại trong tầm mắt suốt hàng giờ liền—những ngọn núi thấp có đỉnh bằng phẳng cứ hiện ra phía trước sau hàng giờ di chuyển mà chẳng hề dịch chuyển lại gần hơn chút nào, hơn nữa, dưới hiệu ứng của ảo ảnh nơi chân trời, chúng trông giống như những phiến đá khổng lồ lơ lửng giữa không trung mà chẳng hề có điểm tựa. Thỉnh thoảng, cách một khoảng rất xa mới xuất hiện một cụm lều của người Hottentot nhếch nhác, tồi tàn cùng những cư dân rách rưới—những con chó gầy guộc và đám đàn ông trông như loài vượn; sự tồn tại của chúng bấu víu vào một đàn dê già cỗi trước tuổi và trông đầy vẻ chán chường, đang cố gắng hết sức để kiếm chút thức ăn từ mảnh đất đỏ pha phiến đá cùng thảm thực vật cằn cỗi thưa thớt giống như bụi cây. Nhìn ra khung cảnh hoang mạc kinh hoàng này, cả thị giác lẫn tâm trí đều trở nên mệt mỏi, để rồi tâm trí bắt đầu suy diễn một cách đầy sợ hãi rằng không hiểu bằng cách quái nào mà một sinh mệnh con người lại có thể nhẫn nại tồn tại ở một nơi như thế này. Thế nhưng, dẫu là một hoang mạc khủng khiếp vào mùa hạn hán, nơi đây không phải lúc nào cũng vậy.

Tuy nhiên, khi ngắm nhìn vùng đất hoang vu xung quanh, Laurence vẫn có thể cảm nhận được ở đó một thứ sức hút nhất định—sức hút của sự tự do, của sự khoáng đạt, nổi bật lên một cách đầy sống động trái ngược hoàn toàn với cuộc sống gò bó, chật hẹp và khép kín của chính anh. Mọi điều kiện thay đổi—sự hoang dã, sự cô tịch, ánh mặt trời chói chang không một gợn mây—giống như một sự đánh thức hoàn toàn mới mẻ cho cuộc sống. Dòng chảy của niềm vui sống, vốn đã trì trệ và đóng băng từ lâu, giờ đây lại tuôn chảy mạnh mẽ và không chút vướng bận trong huyết quản của anh.

Giờ đây, suốt những giờ phút di chuyển tẻ nhạt ấy—dưới ánh nắng chói chang ban ngày, hay trong những canh giờ tĩnh mịch, mát mẻ ban đêm—trong tâm trí anh luôn vương vấn một hồi ức—gương mặt của Lilith Ormskirk cứ ám ảnh mãi. Đôi mắt ấy dường như dõi theo anh—dịu dàng, nghiêm nghị; hay đôi khi vui tươi, lấp lánh từ sau hàng mi tối màu, nhưng lúc nào cũng đầy mê hoặc, lúc nào cũng mời gọi. Trên thực tế, toàn bộ con người cô dường như bao trùm lấy tâm trí anh, tranh giành quyền sở hữu duy nhất, gạt bỏ mọi suy nghĩ và cân nhắc khác. Bản thân tâm trí anh cũng lao vào cuộc chiến đó với sự hào hứng tột độ. Đó là một cuộc đấu tranh tâm lý thu hút anh một cách triệt데. Cô không thể, bằng thứ bùa phép của mình, chiếm đoạt hoàn toàn tâm trí anh được. Thế nhưng, ký ức về cô lại quá đỗi mãnh liệt đến mức cuối cùng anh đành ngừng chống cự. Anh buông xuôi—hoàn toàn phó mặc, tận hưởng một cách đê mê dưới ách thống trị của nó—thậm chí còn dung túng cho nó vẽ nên những bức tranh hoài niệm. Giờ đây, anh lại nhìn thấy cô, như lúc anh mới gặp cô ngày qua ngày trên tàu, với thái độ dửng dưng, với sự tò mò phảng phất ý châm biếm; rồi lại như lúc họ mới bắt đầu trò chuyện với nhau; và rồi, khi anh nhận ra mình đang phải viện đến mọi thủ thuật tinh thần hèn nhát để tự nhủ rằng bản thân không hề chìm đắm trong sức hút nguy hiểm đầy ngọt ngào cùng những cuộc trò chuyện đầy đồng điệu của cô. Theo nhịp đập đơn điệu ba-bốn của những vòng quay bánh xe, anh có thể gợi lại giọng nói của cô—thậm chí cả cái thói quen đặc trưng của người thuộc địa là nuốt âm "r" cuối ở những từ kết thúc bằng chữ cái đó—điều mà anh từng hay trêu chọc cô, nhưng trong thâm tâm lại vô cùng yêu thích—bởi vì điều này, giống như một chút âm hưởng giọng Ai-len, có thể trở nên vô cùng quyến rũ khi thốt ra từ đôi môi xinh xắn. Giờ thì tất cả những suy ngẫm ấy hẳn là vô ích, thậm chí có phần nguy hiểm, nhưng chúng lại có một ưu điểm—giúp giết thời gian, và điều đó diễn ra trong suốt hành trình dài hơn ba mươi tiếng đồng hồ băng qua vùng Karroo. Chà, đó quả là một lợi thế!

Cứ thế tiến lên suốt một ngày dài nóng bức, và ký ức ấy vẫn mãi đeo bám anh. Sự cô tịch, sự tĩnh lặng, từng dặm đường băng qua vùng hoang mạc cằn cỗi khô cằn, sự mới lạ của cảnh vật, tiếng lách cách đơn điệu của bánh xe—tất cả đều góp phần kéo dài nó mãi. Rồi mặt trời ngả về phía chân trời, và ánh hoàng hôn buông xuống, rọi thẳng vào lớp đất đỏ, nhuộm nó thành màu của máu, tạo nên một bức tranh nghiên cứu vô cùng sống động về hai màu đỏ và xanh. Phía trên đầu là bầu trời không một gợn mây, chân trời rực lửa, và cả mặt đất, trải dài ngút tầm mắt, chìm đẫm trong sắc đỏ tía đậm đà nhất. Laurence chìm đếm vào giấc ngủ sâu.

Anh mơ thấy họ đang tiến vào ga Charing Cross. Lilith đang đợi để đón anh. Trong mơ, anh thề thốt bực dọc vì đoàn tàu dừng lại quá lâu trên cầu đường sắt để kiểm tra vé. Rồi anh bừng tỉnh. Họ đang từ từ tiến vào một ga cuối tuyến, giữa ánh đèn chớp nháy quen thuộc và tiếng xe đẩy hành lý lộc cọc. Nhưng đó không phải Charing Cross, mà là Kimberley.

Anh chẳng mất nhiều thời gian để thu gom vài món hành lý ít ỏi và ném chúng lên chiếc "xe ngựa", thực chất là một cỗ xe mui trần hai chỗ ngồi kiểu Cape. Vừa mới ngồi xuống ghế, người đánh xe đã hú lên một tiếng như ra trận, và với một cái giật cục suýt hất văng hành khách ra ngoài đường, cỗ xe lao đi nhanh hết mức mà tám cái chân và hai cái bánh xe có thể chịu đựng nổi.

Đêm tối mịt mờ, những con đường hoàn toàn không có lấy một bóng đèn. Khi cỗ xe lao đi zích zắc một cách cuồng loạn từ bên này sang bên kia đường, lúc thì chênh vênh trên một bánh xe, khi thì nhảy dựng lên không trung lao qua một cái ổ gà hay rãnh sâu, vị hành khách nợ nật ấy ít ra cũng được an ủi đôi chút khi nghĩ rằng đường sá ngập sâu trong cát thế này thì thế nào ngã xuống cũng êm. Dẫu vậy, thành thật mà nói, anh khá thích thú với cảm giác đó. Sau ba mươi ba tiếng đồng hồ ngồi trên chuyến "Tàu bay Watkin" ở Nam Phi, thì ngay cả sự kích thích giả tạo này cũng đủ khiến người ta thấy hoan hỉ rồi.

Họ lướt sát qua các góc đường, lúc nào cũng chỉ đi bằng một bánh, đôi khi còn cạo cả vào góc tường nhà, khiến những người đi bộ trên đường phải nhảy cẫng lên như những con kỳ lân non. Sau đó, hoàn hồn lại, những người qua đường hoảng hốt liền trút những lời chúc phúc cay đắng nhất theo sau chiếc xe ngựa. Đáp lại họ, gã tài xế điên rồ hét lên những tiếng chói tai đầy ma quái, quất túi bụi vào bầy gia súc đang hoảng loạn của mình nhằm thực hiện thêm những trò mạo hiểm mới. Và hắn đã thành công. Chỉ cần một chiếc xe bò kéo đi ngược chiều trên đường là đủ để tạo cơ hội cho chúng. Và chiếc xe bò xuất hiện. Tiếp đó là một tiếng nghiến khô khốc, nặng nề—một cú va chạm kinh hoàng—và chiếc xe ngựa khựng lại hẳn. Mọi người trên xe bò liền xả van an toàn và tuôn ra một tràng chửi thề kinh hãi; gã đánh xe ngựa đáp lại bằng những từ ngữ đầy cảm xúc và thích hợp, rồi lùi xe ra khỏi đống đổ nát và quất roi phóng tiếp.

Vô cùng thích thú trước trải nghiệm sống động này, Laurence vẫn đánh liều lên tiếng phản đối, một cách nhẹ nhàng và chỉ để làm lệ thôi. Nhưng anh chẳng moi thêm được gì từ gã Jehu hiện tại hơn là những gì Horace Greeley từng nhận được từ Hank Monk. Câu trả lời, đi kèm với một tràng cười sảng khoái, là:

"Không sao đâu, thưa ngài. Cứ ngồi cho chắc vào, tôi sẽ đưa ngài đến nơi an toàn. Ngài vừa nói khách sạn nào ấy nhỉ?"

Laurence tự nhắc lại trí nhớ của mình—và giữa những cú lắc lư, giật cục, ném tung tóe vào các ổ gà, cỗ xe lao đến như một trận cuồng phong dừng phắt lại trước một tòa nhà trông khá hoành tráng ngay góc Quảng trường Chợ. Sau khi trả tiền công cho gã điên cầm cương và mời hắn một ly nước, Laurence thuê một phòng và tự hỏi không biết quái quỷ gì mình sẽ làm nếu tiếp tục bị kẹt lại đây thêm lúc nào nữa. Bởi vì cái nhìn lướt qua về nơi này chẳng có vẻ gì là hấp dẫn cả. Vẫn những quầy bar đông đúc, vẫn tiếng ồn ào inh ỏi, vẫn lớp bụi mù mịt—vả lại, thậm chí cả cơn khát ấy nữa. Anh từng chứng kiến tất cả những điều này ở những nơi khác trên thế giới rồi.

Anh còn phải tiếp tục tự hỏi, trong sự mệt mỏi chán chường, rằng mình sẽ làm gì với bản thân; bởi vì gần một tuần lễ trôi qua anh mới mua được vé lên xe ngựa. Một nỗi chán nản tột cùng bao trùm lấy anh, sinh ra từ cái hơi nóng, sự buồn ngủ và bụi bặm, khi mà ngày này qua ngày khác trôi qua chẳng mang lại chút dấu hiệu thoát thân nào khỏi thị trấn lộng gió, xây bằng tôn, được thả bừa bãi trên vùng đồng bằng xung quanh và hoang mạc buồn tênh ấy. Thế nhưng, chẳng có chút cảm giác nhớ nhà nào trong nỗi chán nản của anh cả. Anh muốn tiếp tục tiến về phía trước, chứ không phải quay đầu lại. Anh chán ngấy và buồn rầu. Tuy nhiên, khi nhìn lại, cảm giác ngự trị trong anh chính là sự tự do—của việc có trong tay một thước đo nhất định về cuộc sống và những viễn cảnh trước mắt. Nhưng khoan đã. Thỉnh thoảng, suy nghĩ của anh vẫn quay ngược trở lại, bất chấp ý muốn của bản thân, và chúng đưa anh trở lại với một sự tiếc nuối vương vấn dẫu không thừa nhận, trên boong tàu Persian. Chà, đó chỉ là mộtp khúc dạo đầu. Nó đã trôi qua khỏi cuộc đời anh, và tốt nhất là nên như vậy.

Nhưng... liệu nó đã thực sự trôi qua chưa?

Cuối cùng, đến niềm vui khôn tả của lữ khách chúng ta, sự giải thoát cuối cùng cũng tới. Laurence vốn dĩ từng đi trên những phương tiện tồi tệ hơn nhiều so với những chuyến xe ngựa thông thường thời bấy giờ chuyên chạy tuyến giữa Kimberley và Johannesburg, một khoảng cách ngót nghét ba mươi dặm; do đó, dù không thuộc nhóm may mắn giành được chỗ ngồi góc, anh vẫn xoay sở để có được sự thoải mái như bất kỳ du khách nào đặt chân đến những vùng đất xa xôi hẻo lánh có quyền mong đợi. Bạn đồng hành của anh chủ yếu là những thợ máy lành nghề và một tay buôn người Do Thái lắm điều—thực ra không phải là một tay tệ hại gì cho cam—đôi khi trò chuyện cùng hắn giúp anh vơi bớt sự mệt mỏi dọc đường. Mà đường đi thì thực sự mệt mỏi. Sự đơn điệu bằng phẳng của những đồng cỏ không một bóng cây, khi dặm này nối tiếp dặm kia chẳng mang lại chút thay đổi nào; những ngọn đồi đá kopjes y hệt nhau; những cấu trúc khai mỏ đổ nát, hoang vắng y hệt nhau; những trang trại Hà Lan trông thê thiết bỏ hoang mà chủ nhân của chúng dường như đã mang lấy sự tuyệt vọng ê chề của khung cảnh xung quanh; những quán trọ ven đường thảm hại, nơi thịt dê dai như da thuộc cùng xương và cơm nhuộm vàng được đem ra phân phát dưới cái tên bữa sáng và bữa trưa, trong lúc xe ngựa dừng lại để thay ngựa, và ngay cả lúc đó chúng cũng chỉ được dọn lên khi gã đánh xe đang tuyệt vọng gào thét, "Lên xe hết nào!" Cứ thế, họ hành trình suốt ngày đêm, chỉ dành ra khoảng ba tiếng, hoặc tối đa là bốn tiếng để ngủ—trên một chiếc giường. Nhưng chiếc giường lại hóa ra là một cõi đầy rẫy sự hoài nghi ơn huệ, bởi vì sự "sống động" của nó ở mức độ không chút hoài nghi nào; cái đám "sống động" ấy vui vẻ và phớt lờ hoàn toàn những lớp bột trừ sâu tích tụ từ thời xửa thời xưa, bị bỏ lại đó và được bồi đắp thêm bởi vô số thế hệ hành khách tội nghiệp nối tiếp nhau. Dẫu sao đi nữa, những hành trình như thế này luôn sản sinh ra chừng ấy sự khó chịu và tương tự thế, vì vậy chúng hầu như chẳng đáng để người ta bận tâm ghi nhớ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.