PHẦN II
1
Hè năm ấy, tôi rất sợ sẽ gặp lại lần nữa ông Sa hoàng… Vâng, sợ thấy lại ông vua trẻ tuổi cùng với vợ ông ta giữa thành phố Paris. Cũng sợ như người ta sợ gặp một cậu bạn mà thầy thuốc mách với anh cậu ta sắp chết chỉ ngày một ngày hai thôi, cái cậu từng thổ lộ cùng anh những dự định của mình, trong một tâm trạng tươi vui vì không hay biết gì hết.
Quả vậy, làm sao tôi có thể đi theo Nikolai và Alexandra nếu tôi biết rằng trước sau họ sẽ chết? Nếu tôi biết rằng cả dến con gái Olga của họ cũng sẽ không được miễn. Và cả đến những đứa con khác mà Alexandra chưa sinh hạ cũng sẽ chịu cái số phận bi thảm tương tự.
Với một niềm vui kín đáo tôi nhìn thấy tối hôm ấy một tập thơ nhỏ mà bà tôi, ngồi giữa những bông hoa trên ban công, giở xem đặt trên đầu gối. Bà có cảm thấy tôi lúng túng không, do nhớ lại sự việc hè năm ngoái? Hoặc đơn giản là bà muốn đọc cho chúng tôi một trong những bài thơ yêu thích?
Tôi đến ngồi xệp ngay trên đất cạnh bà, tựa khuỷu tay lên đầu cô tiên dâng rượu bằng đá. Chị tôi ngồi phía bên kia, dựa lưng lên bao lơn, mắt đắm chìm trong sương mù nóng nực thảo nguyên.
Giọng bà Charlotte trầm bổng du dương như nội dung câu thơ:
Có một điệu hát tôi sẵn sàng đánh đổi
Cả Rossini, Mozart và cả Weber
Một điệu hát cổ xưa, u buồn thảm thiết
Với riêng tôi quyến rũ si mê…
Ma lực bài thơ Nerval này làm dậy lên từ bóng chiều hình ảnh một tòa lâu đài thời vua Louis Mười Ba và bà quý tộc “tóc vàng mắt đen huyền, trong bộ trang phục cổ”…
Vừa lúc ấy, tiếng cô chị đưa tôi ra khỏi cơn trầm tư mặc tưởng thi ca.
- Thế còn cái ông Félix Faure, rồi sau ông ta thế nào hả bà?
Chị vẫn đứng chỗ góc ban công, hơi cúi mình trên bao lơn. Tay lơ đãng chốc chốc bứt một bông hoa bìm bìm héo ném xuống, chị nhìn dõi nó xoáy tròn trong hơi đêm. Đắm mình trong cơn mơ mộng thiếu nữ, chị đã không chú ý nghe bà đọc thơ. Hè năm ấy chị mười lăm tuổi…Vì sao chị đã nhớ đến ông Tổng thống? Chắc hẳn cái người đàn ông đẹp đẽ, oai vệ, với bộ râu mép thanh lịch, cặp mắt to trầm tĩnh, bỗng dưng tập trung nơi ông ta, do một ý thích thoảng qua nào đó của tuổi mơ mộng yêu đương thiếu nữ, cái dáng vẻ đàn ông mường tượng sẵn. Và chị hỏi thêm bằng tiếng Nga - như để diễn đạt rõ hơn điều bí ẩn đầy phấp phỏng của sự hiện diện xiết bao mơ ước kia: “Thế còn cái ông Félix Faure, rồi sau ông ấy thế nào?”
Bà Charlotte liếc nhanh sang tôi miệng thoáng cười. Rồi bà gập cuốn sách trên đùi, khẽ thở dài nhìn ra xa, ra phía cái chân trời nơi cách đây một năm chúng tôi đã thấy Atlantide nhô lên.
- Vài năm sau cuộc viếng thăm của vua Nicholas Đệ Nhị đến Paris, Tổng thống đã qua đời…
Có một chút ngần ngừ, một giây tạm ngừng không chủ ý, khiến chúng tôi càng thêm háo hức…
- Ông ta chết đột ngột trong điện Elysée. Trong vòng tay cô nhân tình, Marguerite Steinheil…
Chính câu nói này đã đánh tiếng chuông báo tử cho tuổi thơ ấu của tôi. “Ông ta chết trong vòng tay cô nhân tình…”
Vẻ đẹp bi thảm trong mấy từ này làm tôi đâm thảng thốt. Cả một thế giới mới lạ ào vào trong tôi.
Mặt khác, điều tiết lộ này trước hết khiến tôi kinh ngạc bởi khung cảnh của nó: cái cảnh tình ái chết người này đã diễn ra ở Elysée! Ở lâu đài tổng thống! Ở đỉnh tháp chóp của quyền lực, của vinh quang, của danh vọng thế giới… Tôi hình dung một gian buồng xa hoa với những thảm quý, những lớp vàng mạ, những dãy gương lớn. Giữa những nguy nga tráng lệ ấy - một người đàn ông (ông tổng thống nước Cộng hòa!) và người đàn bà quấn quýt lấy nhau dữ dội…
“Ông tổng thống chết trong điện Elysée, trong vòng tay cô nhân tình, Marguerite Steinheil…” Câu này có vẻ như một thông điệp mã hóa vọng từ một hệ tinh cầu khác. Hơn bao giờ hết, cái Atlantide Pháp của bà tôi như một terra incognita[1] nơi những khái niệm kiểu Nga của chúng tôi chẳng còn thích hợp nữa.
Cái chết của Félix Faure giúp chúng tôi ý thức về lứa tuổi của mình: đã mười ba tuổi, tôi đoán “chết trong vòng tay một người đàn bà” nghĩa là thế nào, và từ nay người ta có thể trò chuyện với tôi về những đề tài tương tự. Vả chăng, tính dũng cảm và tuyệt đối không dung thói đạo đức giả trong câu chuyện của bà Charlotte chứng minh thêm điều tôi đã biết: bà không phải một bà ngoại như mọi người. Không, chẳng có một bà già Nga nào lại dám liều trò chuyện với cháu mình kiểu như vậy. Tôi mang máng cảm thấy trong cách nói năng thoải mái ấy một cách nhìn riêng biệt về thân thể, về tình dục, về quan hệ giữa đàn ông đàn bà - một “cái nhìn Pháp”.
Buổi sáng, tôi đi vào thảo nguyên để lan man suy nghĩ một mình về cái đột biến lạ thường diễn ra trong đời tôi do cái chết của ông tổng thống. Ngạc nhiên biết bao, nhớ lại qua tiếng Nga, sự việc này chẳng còn đáng gì để nói. Thậm chí không thể nói! Bị kiểm duyệt bởi một sự e thẹn khó thể giải thích về ngôn từ, gạch xóa bởi một thứ luân lý kỳ quặc coi như bị xúc phạm. Cuối cùng được nói ra, nó ngập ngừng giữa cái tính tục tĩu bệnh hoạn và những uyển ngữ biến cặp tình nhân này thành nhân vật một tiểu thuyết tình cảm dịch vụng.
“Không, tôi nghĩ bụng, nằm dài trên bãi cỏ nhấp nhô dưới làn gió nóng, chỉ có bằng tiếng Pháp ông ta mới có thể chết trong vòng tay của Marguerite Steinheil…”
Nhờ cặp tình nhân ở điện Elysée, tôi hiểu ra điều bí mật của cô hầu trẻ nọ, người bất ngờ bị chủ trông thấy trong bồn tắm, trao thân cho ông ta với niềm hốt hoảng và cơn cuồng si của một giấc mơ cuối cùng thành sự thực. Vâng, trước đó đã có cái bộ ba kỳ quặc được miêu tả trong một cuốn tiểu thuyết Maupassant tôi đọc dạo mùa xuân. Một anh công tử bột dân Paris trong suốt cuốn sách thèm ước tình yêu không thể lay chuyển của một nhân vật nữ vốn ưa thích những kiểu cầu kỳ sa đọa, anh chàng tìm cách chiếm trái tim của cô kỹ nữ thuần lý trí, lờ đờ uể oải, tựa hồ một bông lan mảnh dẻ, thành thử anh ta cứ suốt đời hy vọng uổng công. Và bên cạnh họ - cô đầy tớ, cô gái trẻ trong buồng tắm, thân hình đẫy đà lành mạnh. Đọc lần đầu, tôi chỉ cảm nhận cái bộ ba này xem ra giả tạo không sức sống: thật vậy, hai người phụ nữ này thậm chí không thể coi là tình địch…
Từ này tôi nhìn bằng con mắt hoàn toàn mới cái bộ ba dân Paris kia. Họ trở nên cụ thể, có da thịt sờ mó được - họ sống! Bây giờ tôi cảm nhận được niềm hoảng hốt vui sướng của cô đầy tớ trẻ lúc bị lôi khỏi bồn tắm và bế đến giường, người còn ướt sũng. Tôi cảm thấy những giọt nước rỏ quanh co buồn buồn trên ngực cô mềm mại, cặp hông cô đè nặng trong cánh tay người đàn ông, tôi lại còn trông thấy cả cái dập dềnh đều đặn mặt nước trong bồn nơi thần mình cô vừa được bế xốc lên. Làn nước dần dần lặng… Còn cô kia, cái cô ăn chơi kiểu thượng lưu, kiêu kỳ không thể với tới, con người trước kia tôi hình dung như một bông hoa khô ép trong sách, giờ đây hiện ra trong đầu tôi mang tính nhục cảm ngầm, bí hiểm. Thân thể cô ủ một hơi nóng ngan ngát, một mùi thơm khêu gợi làm bằng nhịp đập của máu, vẻ trơn mịn làn da, cách nói chậm rãi đầy cám dỗ.
Cuộc tình chết người làm nổ trái tim ông Tổng thống đã uốn nắn lại hình ảnh nước Pháp trong tôi. Hình ảnh này trước kia chủ yếu đượm sắc màu tiểu thuyết. Các nhân vật văn học sống kề cạnh trên các ngả đường đất nước xa xôi kia, trong cái đêm đáng ghi nhớ này dường như thức dậy từ một giấc ngủ dài. Trước kia cho dù họ tha hồ vung kiếm, leo thang dây, nuốt thạch tín, tỏ tình, ngồi trên xe ngựa bốn bánh ôm trên đùi cái đầu cụt của người yêu - họ vẫn không rời khỏi cái thế giới ảo của mình. Xa lạ, bóng bẩy, có lẽ ngồ ngộ nữa, họ vẫn không làm tôi xúc động. Giống như cái ông linh mục trong truyện của Flaubert, cái ông cha xứ tỉnh lẻ mà Emma thổ lộ những điều dằn vặt riêng tư, trước đây tôi cũng không hiểu người phụ nữ này: “Chị ta còn muốn gì nữa cơ chứ, chị có ngôi nhà đẹp, một người chồng cần cù, được láng giềng kính trọng…”
Cặp tình nhân trong điện Elysée giúp tôi hiểu Bà Bovary. Trong một chớp trực cảm sáng lòa, tôi ghi nhận tình tiết này: Những ngón tay bóng nhẫy của anh thợ uốn tóc đang khéo léo chải duỗi và bôi trơn mái tóc Emma. Trong cái phòng khách hẹp này, không khí u trệ, các ngọn nến xua bóng đêm chỉ tỏa ánh lờ mờ. Người đàn bà kia, ngồi trước gương, vừa từ giã anh tình nhân trẻ và bây giờ chuẩn bị về nhà. Vâng, tôi đoán một người đàn bà ngoại tình có thể cảm nghĩ gì, buổi tối ấy ở hiệu làm tóc, giữa cái hôn cuối cuộc gặp gỡ ở khách sạn và những câu đầu tiên, rất thường ngày, cần phải nói với chồng… Không thể tự giải thích cái điều này, tôi nghe như có một sợi dây rung lên trong tâm hồn người đàn bà nọ. Trái tim tôi hòa điệu. “Emma Bovary là tôi!”[2] một giọng nói tươi vui thì thào bên tai tôi, đến từ những câu chuyện của bà Charlotte.
Cái thời gian trôi trong Atlantide của chúng tôi có những quy luật riêng. Nói chính xác hơn, nó không trôi mà uốn lượn nhấp nhô quanh mỗi sự kiện bà Charlotte kể. Mỗi sự việc, dù là hoàn toàn ngẫu nhiên, khắc sâu vĩnh viễn vào cái thường ngày đất nước kia. Bầu trời đêm của nó luôn luôn có một ngôi sao chổi bay qua, tuy rằng bà chúng tôi, căn cứ vào một mẩu báo cắt, nói ngày ngôi sao xuất hiện chính xác là ngày 17 tháng mười 1882. Chúng tôi không thể hình dung tháp Eiffel mà không nom thấy anh chàng người Áo điên rồ nhẩy từ cái mũi tên răng cưa và bị dù trôi dạt, rơi thịch xuống giữa một đám đông dân hiếu kỳ. Khu Père – Lachaise với chúng tôi không hề là một khu nghĩa trang tĩnh lặng, sinh động lên tí chút với tiếng thầm thì kính cẩn của vài ba du khách. Không, giữa các ngôi mộ, những kẻ mang vũ khí chạy tứ tung nấp sau các bia mộ trao đổi những phát súng. Được kể lại một lần, cuộc chiến đấu giữa phe Communards và phe Versaillais gắn liền trong đầu óc chúng tôi với cái tên Père - Lachaise. Mặt khác, tôi cũng nghe tiếng dội cuộc đọ súng ấy trong các hầm mộ của Paris. Vì, theo bà Charlotte kể, học đánh nhau trong các mê cung kia, và đạn nổ vỡ toác sọ người chết đã hàng thế kỷ. Và nếu bầu trời đêm được chiếu sáng bằng ngôi sao chổi các khinh khí cầu Đức, không trung xanh mát ban ngày vang động tiếng rè rè đều đặn của chiếc máy bay một lớp cánh: một ông Louis Blériot nào đó bay qua eo biển Manche.
Việc lựa chọn các sự kiện thường ít nhiều mang tính chủ quan. Trật tự trước sau của chúng vâng theo ý muốn say sưa tìm hiểu, những câu hỏi lộn xộn của chúng tôi. Nhưng tầm quan trọng của các sự kiện như thế nào mặc, chúng không bao giờ ra khỏi cái lệ chung: bộ đèn chùm rớt từ trên trần đêm diễn vở Faust ở nhà Opéra ngay tức thời rót ào ào tiếng nổ vỡ trong trẻo trong tất cả các rạp hát ở Paris. Rạp hát thực thụ theo chúng tôi quan niệm là tiếng lanh canh khe khẽ của chùm pha lê to nặng đến độ chín tới để rụng khỏi trần nhà theo âm thanh một nốt nhạc đệm tài hoa hoặc một câu thơ mười hai âm tiết… Còn cái trò xiếc thực thụ, chúng tôi biết là người dạy thú bao giờ cũng bị thú vồ, như cái “anh da đen tên Delmonico” bị bảy con sư tử cái tấn công.
Bà Charlotte sưu tầm những hiểu biết kia khi thì từ chiếc va ly Xibêri, khi thì từ kỷ niệm thời thơ ấu. Nhiều chuyện bà kể lần lên một thời kỳ còn xa xưa hơn nữa, do ông cậu kể hoặc do cụ cố Albertine, hai người này lại cũng qua bố mẹ mình kể lại.
Nhưng chúng tôi thì chẳng quan tâm đến niên đại chính xác! Cái thời gian của Atlantide chỉ biết đến tính đồng thời kỳ diệu của hiện tại. Giọng nam trung diễn Faust vang âm cả gian phòng: “Hãy cho tôi, hãy cho tôi ngắm nghía dung nhan nàng …”, cỗ đèn chum rớt xuống, mấy con sư tử cái xông tới hồ Delmonico, ngôi sao chổi vạch ngang bầu trời đêm, anh chàng nhảy dù lao từ tháp Eiffel, hai tên trộm lợi dụng cái uể oải mùa hè đánh cắp tranh La Joconde trong bảo tàng Le Louvre lúc ban đêm, hoàng tử Borghese ưỡn ngực, hết sức tự hào chiếm giải trong cuộc đua ô tô lần thứ nhất ở Bắc Kinh – Pari xuyên qua Mạc tư khoa. Và ở nơi nào đó trong bóng mờ mờ một phòng khách kín đáo điện Elysée, một người đàn ông mang bộ ria bạc đẹp ôm cô nhân tình và ngạt thở luôn trong nụ hôn cuối cùng.
Cái hiện tại này, cái thời gian mà các cử chỉ lặp đi lặp lại vô cùng tận dĩ nhiên chỉ là một ảo ảnh thị giác. Nhưng chính nhờ cái nhãn quan mờ ảo ấy mà tôi khám phá ra vài nét tính cách chủ yếu ở các cư dân Atlantide chúng tôi. Đường phố Paris, trong các chuyện kể, luôn luôn chấn động vì các vụ bom nổ. Bọn vô chính phủ đặt bom chắc hẳn cũng đông như các cô gái nhà nghèo lẳng lơ hay như các bác xà ích đánh xe ngựa thuê. Một số những kẻ thù của trật tự xã hội ấy còn lưu giữ lâu trong đầu tôi, cũng với tên của chúng, tiếng bom nổ ầm ầm hoặc tiếng súng nổ đì đoàng: Ravachol, Santo Caserio …
Vâng, chính là trong các phố xá ầm ầm như sấm ấy mà một trong những đặc điểm dân tộc này biểu lộ ra: họ đang yêu sách, không bao giờ bằng lòng với cái Statu quo[3] đã có, bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng ào xuống các ngả đường để hất đổ, giũ bỏ, đòi hỏi. Trong cái bình lặng tuyệt vời của tổ quốc chúng tôi, những người dân Pháp ấy có vẻ như những kẻ nổi loạn bẩm sinh, những kẻ tranh chấp xác tín, những kẻ chống cãi chuyện nghiệp. Chiếc va ly Xibêri đựng những báo chí nói về các vụ đình công, mưu sát, chiến đấu trên chướng ngại vật, bản thâm nó cũng giống như một quả bom lớn giữa cảnh êm ả thiu thiu nơi thị trấn Saranza.
Thế rồi, cách nơi nổ bom vài ba phố, vẫn trong cái hiện tại chưa chịu trôi đi, chúng tôi bắt gặp cái quán rượu bình lặng mà bà Charlotte, nhớ lại trong kỷ niệm, cười cười đọc cho nghe cái tên biển dòn dã và hơi lạ tai: “Au Ratafia de Neuilly (Quán rượu mùi Neuily). “Thứ rượu mùi tự chế này, bà nói thêm, ông chủ quán dọn mời trong những vỏ ốc bằng bạc”.
Các cư dân của Atlantide chúng tôi vậy là có thể cảm thấy gắn bó tình cảm với một tiệm cà phê, yêu cái tên biển, nhận ra cái không khí riêng biệt của nó. Và tên biển, nhận ra cái không khí riêng biệt của nó. Và lưu giữ suốt cuộc đời cái kỷ niệm là chính ở đó, tại một góc phố, người ta uống thứ rượu mùi tự chế ratafia trong những vỏ ốc bằng bạc. Vâng, chẳng phải trong những cốc pha lê cầu kỳ, hoặc những ly tròn có chân, mà trong những vỏ ốc thanh mảnh. Đó là một phát minh mới mẻ: cái khoa học huyền bí kết hợp làm một vừa địa điểm ăn uống, vừa nghi thức bữa ăn lại vừa màu sắc tâm lý. Chúng tôi tự hỏi: “Quán rượu quen thuộc của họ, phải chăng có một linh hồn, hoặc ít ra, một diện mạo riêng biệt?” Ở Saranza chỉ có một quán cà phê duy nhất. Dù mang một cái tên đẹp, Bông Tuyết, nó chẳng gợi ở chúng tôi một xúc cảm đặc biệt nào cả, cũng y như cái cửa hàng đồ gỗ bên cạnh, hoặc như cái quỹ tiết kiệm trước mặt. Tiệm này cứ tám giờ tối là đóng cửa, và nếu cái gì đó còn gợi sự tò mò của chúng tôi nghé nhìn thì đó là cái bóng tối trong lòng nhà, với con mắt xanh biếc ngọn đèn đêm. Còn như năm sáu cái tiệm cao lâu trong thành phố bên song Vôn ga nơi gia đình chúng tôi ở, chúng giống hệt nhau: đúng bảy giờ, một nhân viên phục vụ ra mở cửa trước một đám đông đang sốt ruột chờ đợi, nhạc nổi ầm ầm như sấm chen nốt khàn khàn tràn ra khắp phố, và đến mười một giờ cũng cái đám đông ấy, mệt oải phờ phạc, tuốn ra chỗ tam cấp, nơi cạnh đó một chiếc ô tô cảnh sát gắn đèn quay réo còi liên tục góp thêm một nốt phóng túng cho cái nhịp điệu không thay đổi kia … “Vỏ ốc bịt bạc tiệm “Au ratafia de Neuilly”, chúng tôi nhắc thầm lặng lẽ.
Bà Charlotte giảng cho chúng tôi nghe thành phần thứ rượu đặc biệt này. Lời bà kể, rất tự nhiên, đề cập đến thế giới các loại rượu. Và chính qua đó, bị mê man cuốn hút trong một tràng đầy màu sắc những tên gọi, mùi vị, hương thơm, chúng tôi làm quen với các con người kỳ lạ có tài nếm thử và phân biệt mọi sắc thái tinh vi. Ấy vậy mà cũng chính là những người từng dựng chướng ngại vật đấy thôi! Và giờ đây nhớ lại nhãn mấy loại rượu bày trên gian hàng tiệm Bông Tuyết chúng tôi nhận ra rằng đó là những tên thuần Pháp, nào Champanskoé, Koniak, Silvaner, Aligoté, nào Mouscat, Kagor…
Phải, chính điều mâu thuẫn này khiến chúng tôi bối rối: những người vô chính phủ kia đã biết chế biến ra một hệ thông đồ uống vừa thuần nhất vừa phức tạp đến vậy. Hơn nữa, bao nhiên loại rượu nhiều vô số ấy,theo bà Charlotte, lại còn tạo ra những kiểu ăn uống kết hợp nhiều vô tận với các loại phó mát! Và các thứ phó mát này, đến lượt chúng, làm thành một bộn bách khoa toàn thư về khẩu vị, màu sắc địa phương, hầu như cả về thiên hướng cá nhận nữa… Rabelais ông nhà văn chúng tôi thường dọc mê mải trong những đêm thảo nguyên, quả không nói dối.
Chúng tôi khám phá ra là bữa cơm,vâng, cái việc đơn giản đưa thức ăn vào bụng, có thể trở thành một công trình đạo diễn, một nghi lễ, một nghệ thuật. Chẳng hạn như tại tiệm Cà phê Anh ở phố Italiens, nơi ông cậu bà Charlotte thường ăn tối với bạn bè. Chính ông đã kể cho cháu ông chuyện người ta tính tiền mười nghìn frăng cho một xâu ếch! Ông nhớ lại: “Trời rét đậm, sông đều đóng băng. Đã phải gọi năm chục thợ để bổ các tảng băng và tìm ếch …” Tôi không biết cái gì là chúng tôi kinh ngạc hơn cả: cái đĩa thức ăn khó tượng tượng nổi, đi ngược lại tất cả mọi khái niệm về ẩm thực, hoặc cảnh một trung đoàn mu gích (chúng tôi hình dung vậy) đang đập vỡ các tảng băng trân một con song Seine đông cứng.
Thật ra mà nói, chúng tôi đã bắt đầu rối trí đến phát điên phát cuồng lên: nào điện Le Louvre, kịch Le Cid ở nhà hát Commédie Francaise, những chướng ngại vật, vụ bắn nhau trong hầm mộ, viện Hàn lâm, các nghị sĩ trong chiếc thuyền, nào ngôi sao chổi, các đèn chum thi nhau rớt cái này đến cái khác, rồi dòng thác các thứ rượu, cái hôn cuối cùng của Tổng thống … Lại còn các con ếch bị quấy rầy trong giấc ngủ đông! Chúng tôi có việc phải giải quyết với một dân tộc nhiều màu nhiều vẻ đến kỳ lạ về tình cảm, thái độ, cách nhìn, cách ăn nói, sáng tạo, yêu đương.
Thế rồi, theo Charlotte, lại có chuyện các đầu bếp nổi tiếng Urbain Dubois tặng nữ diễn viên Sarah Bernhardt món canh tôm măng tây. Chúng tôi cứ phải thử hình dung món canh bortsh Nga tặng ai đó, kiểu như tặng cuốn sách… Một hôm, trong đường phố Atlantide chúng tôi đi theo một anh chàng công tử vào tiệm Weber,một tiệm rất thời thượng,theo lời ông cậu bà CharlotteAnh ta gọi những thứ anh thường gọi: một chùm nho và một cốc nước. Đó là nhà văn Marcel Proust. Chúng tôi quan sát chùm nho và cốc nước ấy, dưới con mắt chúng tôi bị mê hoặc, chúng biến thành một món ăn vô cùng thanh lịch. Có nghĩa cái đáng kể chẳng phải tính đa dạng các loại rượu hoặc lượng dồi dào thức ăn, mà …
Chúng tôi quay lại nghĩ về các tinh thần Pháp, cố tìm hiểu cái bí quyết của nó. Và bà Charlotte, cứ như thể muốn làm cho việc tìm kiếm của chúng tôi càng thêm mê mải, đang nó với chúng tôi về khách sạn Paillard ở đường Chaussée – d’Antin. Ở đó, một đêm, cô công chưa Caramas – Chimay bị anh chàng digan Rigo chơi vi ô lông bắt cóc.
Vẫn chưa dám tin, tôi lặng lẽ tự hỏi: cái tinh hoa Pháp rất đỗi được ưa chuộng kia – phải chăng nó bắt nguồn từ tình yêu? Vì tất thảy mọi ngả đường Atlantide chúng tôi dường như đều gặp nhau ở xứ sở miền Âu yếm.
Saraza đắm chìm trong hương đêm nồng nàn thảo nguyên. Mùi thơm cây cỏ của nó hòa lẫn với hương thơm ướp cái tấm thân phụ nữ nọ đeo đầy đá quý và khoác khăn lông chồn. Bà Charlotte thuật chuyện về các hành động ngông cuồng của nàng Otero tuyệt trần xinh đẹpLòng ngạc nhiên nghi hoặc, tôi ngắm nhìn kỹ nữ nổi tiếng cuối cùng này, dáng vẻ yêu kiều trên chiếc trường kỷ hình thù kiểu cách. Cuộc đời ngông cuồng của nàng chỉ dành riêng cho tình yêu. Và quanh chiếc ngai kia đám đàn ông quay cuồng nhộn nhịp – kẻ thì đếm vài ba đồng bạc còn sót của món tài sản phá tàn, kẻ thì từ từ dí khẩu súng lục lên thái dương. Thậm chí trong cái cử chỉ tối hậu này họ còn biết chứng tỏ một thái độ thanh lịch xứng đáng với chùm nho của Proust: một trong những tình nhân đau khổ kia đã tự vẫn ở nơi trông thấy Caroline Otéro lần đầu tiên!
Và chăng, trong cái đất nước xa lạ này, sự tôn thờ tình yêu không biết đến những ranh giới xã hội, và chúng tôi thấy tại các ngoại ô bình dân, cách xa những tư thất xa hoa đài các, hai băng kình địch ở Belleville chem. Giết nhau vì một người đàn bà. Điểm khác nhau duy nhất: mái tóc người đẹp Otero ánh lên biêng biếc như cánh chim quạ, còn tóc của cô gái bị giành giật thì óng ả màu lúa chín trong ánh chiều tà. Đến đây ý thức phê bình trong đầu chúng tôi chợt nổi loạn. Chúng tôi sẵn sàng tin có những người ăn ếch nhái nhưng thử hình dung những tên găngstơ diệt trừ lẫn nhau vì một người phụ nữ đẹp xem nào!
Suy cho cùng điều này chẳng có gì lạ với Atlantide chúng tôi: chẳng phải chúng tôi đã nom thấy ông cậu bà Charlotte lảo đảo ra khỏi chiếc xe ngựa thuê, mắt mờ đục, cánh tay cột chiếc khăn quàng cổ đẫm máu – ông vừa mới đấu gươm trong khu rừng Marly,để bảo vệ danh dự một phu nhân… Lại nữa, tướng Boulanger,vị độc tài bị đánh đổ, chẳng đã tự sát bằng súng trên mộ người tình đó sao?
Một hôm đi dạo về, cả ba bà cháu mắc cơn mưa rào… Chúng tôi đang đi giữa những đường phố cổ gồm toàn những căn nhà lớn ghép gỗ đen sì màu thời gian, vội ghé trú mưa dưới một mái hiên. Đường phố vừa cách đây một phút nồng nực lên vì nắng, bỗng chìm vào một hoàng hôn lạnh, từng trân mưa đã quét qua. Mặt đường lát kiểu cổ bằng những hòn đá hoa cương tròn lớn. Nước mưa làm bốc mùi hơi nồng nặc. Cảnh sắc nhà cửa mờ đi sau màn mưa – và nhờ cái mùi ấy, có thể tưởng như mình đang ở trong một thành phố lớn, ban đêm dưới một cơn mưa mùa thu. Giọng bà Charlotte, thoạt đầu chỉ vượt lên chút ít tiếng mưa, vẻ như một tiếng dội trầm trầm.
- Cũng do một cơn mưa mà bà phát hiện ra mấy dòng khắc trên bức tường sũng ướt một ngôi nhà ở đường Arbalétriers ở Paris. Hai mẹ con bà núp dưới một cái cổng chờ ngớt mưa, liên chú ý thấy cái bảng kỷ niệm này ngay trước mắt, bà còn nhớ thuộc lòng: “Trong ngõ này, khi vừa ra khỏi lâu đài Barbette công tước Louis d’Orléán, em vua Charles VI, đã bị Jean sass Peur, công tước Bourgogne, ám sát trong đêm 23 rạng sáng ngày 24 tháng mười một 1407”… ông ta vừa đi khỏi nhà hoàng hậu Isabeau de Bavière…
Bà ngừng nói, nhưng trong tiếng mưa rả rich chúng tôi vẫn nghe những cái tên huyền hoặc nọ đan dệt thành một thứ chữ kết bị thương thấm đẫm tình yêu và chết chóc: Louis d’Orléans, Isabeau de Bavière, Jean sans Peur …
Đột nhiên, chẳng hiểu vì sao tôi nhớ đến ông Tổng thống. Một ý nghĩ thật rõ rệt, thật đơn giản, hiển nhiên: là suốt trong tất cả mọi nghi lễ đón tiếp vợ chồng nhà vua, vâng, trong đám tiếp rước tại Champs – Elysée, và trước mộ Napoléon, và tại nhà hát Opéra – ông ta không ngớt nghĩ đến co nàng, đến người tình, đến Marguerite Steinheil. Ông ta trò chuyện với Xa hoàng, đọc diễn văn, trả lời nữ hoàng, đưa mắt nhìn vợ. Nhưng cô kia, bất cứ lúc nào, cũng có đó.
Mưa xối trên mái rêu ngôi nhà gỗ cũ kỹ nơi chúng tôi trú dưới hàng hiên. Tôi quên mình đang ở đâu. Cái thành phố mà trước kia tôi đi thăm bên cạnh Xa hoàng chợt biến hình đi trông thấy. Giờ đây tôi quan sát nó với con mắt của ông Tổng thống đa tình.
Lần này, khi rời Saranza, tôi có cảm giác từ một cuộc thám hiểm trở về. Tôi mang theo một tổng cộng các kiến thức, một đại dương về phong tục tập quán, một bức tranh mô tả, còn thiếu sót, về cái nền văn minh bí ẩn đêm đêm lại hồi sinh ở chốn hang cùng ngõ hẻm trên thảo nguyên.
Thanh niên thường có thói quen phân loại – kiểu phản xạ tự vệ trước cái phức tạp của thế giới người lớn nó thu hút anh ta vào ngay từ tuổi ấu thơ. Có lẽ tôi nhiễm cái thói ấy hơn các người khác. Vì cái đất nước mà tôi định thăm dò không còn tồn tại, và tôi phải khôi phục lại địa hình những điểm cao và những điểm thiêng của nó xuyên qua làn sương mù quá khứ dày đặc.
Đặc biệt tôi tự hào về một loại mẫu người tôi có trong sưu tập. Ngoài ông Tổng thống – tình nhân, các nghị sĩ trong chiếc thuyền và anh chàng công tử với chùm nho, có những nhân vật hèn mọn hơn nhiều nhưng không kém kỳ lạChẳng hạn những đứa trẻ kia, công nhân lò ít tuổi, với nụ cười vẽ một vòng đen. Một bác xén lông chó hành nghề ở các bến. Những thợ đình công ngồi quanh bữa ăn công cộng. Và cả một bác bán phân chó. Tôi rất khoái chí biết rằng cái món hàng kỳ lạ ấy thời bấy giờ dùng để làm mềm da thuộc.
Nhưng điều khai tâm lớn nhất của tôi trong mùa hè này là hiểu ra người ta có thể là người Pháp như thế nào. Các khía cạnh nhiều vô kể của cái bản sắc thấp thoáng này đã hợp thành một toàn thế sinh động. Đó là một cách thức tồn tại rất là trật tự mặc dầu các khía cạnh kỳ quặc của nó.
Nước Pháp với tôi chẳng còn đơn giản là một phòng trưng bày vật lạ, mà là một sinh vật mẫn cảm và cô đặc, với một mảnh của sinh vật này hôm nào đó đã cấy ghép vào người tôi.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng La tinh: Vùng đất chưa hề biết
[2] Lời tác giả Flaubert nói về nhân vật của mình.
[3] Tiếng La tinh: hiện trạng.