Di Chúc Pháp

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

PHẦN IV

1

Chính lúc này ở Pháp tôi suýt quên vĩnh viễn cái nước Pháp của bà Charlotte.

Mùa thu ấy, hai mươi năm đã trôi qua từ cái thời ở Saranza. Tôi nhận thức được cái quãng cách ấy – quãng cách thiêng liêng “hai mươi năm sau” – hôm mà đài phát thanh nơi tôi làm việc phát buổi cuối cùng bằng tiếng Nga. Buổi chiều khi rời phòng biên tập, tôi hình một khoảng không rộng vô tận, mở hoác ra giữa thành phố Đức này và nước Nga ngủ thiu thiu trong tuyết. Toàn bộ cái không gian khuya đêm này hôm qua còn vang vang giọng nói chúng tôi từ nay sẽ tắt ngúm trong cái rè rè âm âm của làn sóng được lặng nghỉ… Mục tiêu những buổi phát thanh ly khai và lật đổ đã đạt. Vương quốc đế chế thức dậy, cởi mở ra với phần còn lại thế giới. Đất nước này sắp sửa đổi tên, đổi chế độ, lịch sử, biên giới. Một đất nước khác sắp ra đời. Người ta không cần đến chúng tôi nữa. Người ta đóng cửa đài phát. Các đồng nghiệp tôi ầm ĩ trao đổi cùng nhau những lời từ biệt nồng nhiệt giả tạo rồi mỗi người đi một ngả. Một số muốn làm lại cuộc đời tại chỗ, số khác xếp hành lý sang Mỹ. Số khác nữa, những anh chàng kém thực tế nhất, mơ cuộc trở về sẽ đưa họ trở lại dưới những cơn bão tuyết cách đây hai mươi năm… Chẳng một ai nuôi ảo tưởng. Chúng tôi biết rằng chẳng phải chỉ một đài phát thanh biến mất, mà cả cái thời đại chúng tôi. Tất cả những gì chúng tôi đã nói, viết, suy nghĩ, đả kích hoặc bảo vệ, tất cả những gì chúng tôi từng yêu, ghét, kinh hãi – tất cả mọi thứ ấy thuộc về cái thời đại kia. Chúng tôi đứng trước cảnh trống rỗng này như những nhân vật nặn bằng sáp trong một phòng trưng bày, những di vật của một vương quốc đã chết.

Trong chuyến tàu đưa tôi đến Paris, tôi thử đặt một cái tên cho tất cả những năm sống Saranza. Lưu đày như một phương thức tồn tại? Mối lo toan tất yếu thiển cận để sống? Một cuộc đời chỉ sống một nửa và chung quy là hỏng phí? Ý nghĩa những năm ấy tôi thấy như không rõ ràng. Tôi bèn chuyển đổi chúng thành những cái mà người ta coi là những giá trị bền chắc của đời mình: những kỷ niệm về tâm trạng chơ vơ mãnh liệt (“Từ ngày ấy, ta đã nhìn thấy toàn bộ thế giới!” tôi tự nhủ với một vẻ huênh hoang trẻ con), những thân hình phụ nữ từng ôm ấp…

Nhưng các kỷ niệm vẫn cứ là tẻ nhạt, các thân hình trơ trơ kỳ lạ. Hoặc đôi khi chúng chọc thủng bóng mờ ký ức với cái nhìn trân trân nhớn nhác của người già ở hiệu may.

Không, những năm ấy chỉ là một hành trình dài thỉnh thoảng tôi tìm ra được một mục đích. Tôi bịa ra cái mục đích ấy lúc khởi hành, hoặc dọc đường, thậm chí lúc đến nơi khi cần phải giải thích sự hiện diện của mình ngày hôm ấy, ở đất nước ấy chứ không phải đất nước khác.

Vâng, một cuộc du hành từ chẳng một nơi nào cả đến một chốn khác nào đó. Ngay lúc nơi dừng lại bắt đầu quyến luyến lưu giữ tôi lại trong lề thói sống thường ngày dễ chịu, tôi lại phải lên đường. Cuộc du hành này chỉ gồm hai thì: cảnh đến trong một thành phố xa lạ và cảnh giã biệt một thành phố mà các mặt nhà vừa mới chớm run rẩy dưới luồng nhìn… Cách đây sáu tháng, tôi đến Munich và khi đi ra khỏi nhà ga, tôi tự nhủ với nhiều óc thực tế là tìm một khách sạn rồi một căn hộ ở gần nhất với công việc tại phát thanh.

Ở Paris, buổi sáng, tôi có ảo giác thoáng qua về một cuộc trở về thật sự: trong một đường phố không xa nhà ga mấy, một đường phố còn chưa thật tỉnh giấc trong sáng sớm mù sương ấy, tôi nom thấy một cửa sổ mở và bên trong của một căn phòng biểu lộ một niềm yên tỉnh giản đơn hằng ngày nhưng bí ẩn đối với riêng tôi, với cây đèn thắp sáng trên bàn, một tủ thấp cũ bằng gỗ màu sẫm, một bức tranh hơi long ra trên tường. Tôi rùng mình vì vẻ ấm áp thân mật thoáng gặp này, cảm thấy nó cũ càng và thân thuộc xiết bao… Leo lên thang máy, gõ cửa, nhận ra một gương mặt, xướng tên để người ta nhận ra mình… Tôi vội xua đuổi cái cảm giác gặp lại kia mà tôi cho chỉ là dấu hiệu thói ủy mị tình cảm của một kẻ lang thang.

Cuộc sống hao mòn đi nhanh chóng. Thời gian ngưng đọng, từ này chỉ được nhận thấy qua việc gót giày mòn đi trên nhựa đường ẩm ướt, qua các thứ âm thanh nối tiếp nhau chẳng bao lây đã thuộc lòng, bay lượn trong không khí từ sáng đến tối dọc các hành lang khách sạn. Cửa sổ phòng tôi nhìn ra một tòa nhà đang phá dỡ. Một bức tường dán giấy màu đứng thẳng giữa đống vôi gạch vụn. Gắn trên mảng tường màu ấy, một chiếc gương, không khung, phản chiếu chiều sâu nhẹ thoáng bầu trời. Mỗi sáng, tôi tự hỏi có còn tìm thấy lại cái ánh phản quang ấy khi vén ri đô không. Ý tưởng phân vân ban mai ấy cũng đánh nhịp cho cái thời gian bất động mà tôi ngày càng quen dần. Và cả cái ý tưởng một ngày kia cũng phải chấm dứt cảnh sống này, phải phá bỏ cái chút ít còn nối liền tôi với những ngày thu này, thành phố này, tự sát không chừng – cả đến ý tưởng như vậy chẳng bao lâu cũng trở thành thói quen... Và khi, một sáng, nghe tiếng đất đá đổ đánh rầm và sau ri đô thấy một khoảng trống bụi mù thay chỗ bức tường – ý tưởng kia tôi cảm thấy nó như là một sự ra đi kỳ diệu rút lui khỏi cuộc chơi.

Tôi nhớ lại chuyện ít hôm sau đó… Tôi đang ngồi trên ghế dài, giữa một đại lộ mù mịt mưa bụi. Đang giữa cơn sốt làm tê cóng cả người, tôi cảm thấy trong tôi có cuộc đối thoại lặng lẽ giữa một đứa trẻ đang sợ hãi và một người đàn ông: người lớn này, vốn cũng đang lo lắng, cố an ủi đứa trẻ bằng cách nói với nó giọng giả vờ vui vẻ. Cái giọng khích lệ ấy bảo tôi rằng tôi có thể đứng dậy quay lại tiệm cà phê làm một cốc rượu nữa và ngồi một tiếng trong nhà ấm cúng. Hoặc thậm chí thử lưu lại thêm một đêm nữa ở khách sạn mà không có tiền trả. Hoặc tiện dịp thì ghé vào hiệu thuốc ở góc phố, ngồi trên chiếc ghế bọc da, không động đậy, không nói năng, và khi người ta xúm quanh, tôi thì thào rất khẽ: “Để cho tôi yên một phút nơi sáng sủa ấm áp này. Tôi sẽ đi ngay, tôi xin hứa…”.

Không khí buôn buốt trên đường phố đọng thành cơn mưa bay liên miên không dứt. Tôi đứng dậy. Cái giọng an ủi đã im tiếng. Tôi cảm thấy đầu mình như bọc trong cục bông nóng bỏng. Tôi chú ý tránh người khách qua đường đang dắt tay một cô bé. Tôi sợ làm em bé kinh hãi với bộ mặt phừng phừng, chân tay rét run cầm cập… Muốn vượt qua đường, tôi vấp phải vỉa hè, tay chới với như làm xiếc trên dây. Một chiếc ô tô phanh kít, suýt va vào tôi sát sạt. Cánh cửa xe quệt lướt lên bàn tay tôi. Anh lái xe không quên hạ kính cửa ném vào tôi câu chửi. Tôi thấy anh ta nhăn mặt, nhưng lời lẽ lọt đến tai tôi như nút bông rất chậm. Cùng lúc, ý nghĩ đơn giản này lóe trong đầu tôi: “Điều mình cần lúc này là cái này. Cái va đập với kim loại, nhưng phải dữ dội hơn nữa. Cái va đập khiến mình vỡ đầu, vỡ cổ, vỡ ngực. Cái va đập kèm theo sự im lặng tức thì, vĩnh viễn”. Mấy tiếng còi huýt chọc thủng tấm mù sương cơn sốt đốt mặt tôi cháy hừng. Rất phi lý tôi hình dung một anh cảnh sát đang đuổi theo tôi. Tôi bước nhanh hơn, lội trong bãi cỏ ướt. Tôi nghẹt thở. Mắt tóe vô vàn những tia sắc nhọn. Tôi cứ muốn chui xuống đất như con vật.

Chiếc cổng lớn mở hoác kia hút tôi vào trong cái trống rỗng mù sương một lối đi rộng phía bên trong. Tôi như bơi bơi giữa hai hàng cây, trong không khí còi huýt the thé. Tôi rẽ sang một lối hẹp hơn, trượt trên đá lát trơn, chui tọt vào những khối vuông kỳ cục màu xám. Cuối cùng kiệt lực tôi ngồi sụp xuống một khối. Tiếng còi huýt còn vang lên một lát nữa rồi im lặng. Từ xa tôi nghe cái chấn song cửa ổng rin rít. Trên bức tường xốp khối vuông, tôi đọc những chữ mà chưa hiểu ý nghĩa ngay: Đất nhượng vĩnh viễn. Số… Năm 18…

Từ một nơi nào đó sau rặng cây, một tiếng còi rít lên, tiếp sau là câu trò chuyện. Hai người gác đi ngược tới.

Tôi từ từ gượng dậy. Và xuyên qua cái mệt mỏi đờ đẫn thời kỳ ủ bệnh, tôi cảm thấy trên môi thoáng nở nụ cười: “Sự cười nhạo cũng nên liệt vào lẽ thường vạn vật. Ngang như luật hấp dẫn vậy.”

Tất thảy các cổng lớn khu nghĩa địa lúc này đã đóng cửa. Tôi đi vòng cái hốc khám thờ nhà mồ nơi hồi nãy tôi ngã phía đằng sau. Tấm cửa kính mở ra dễ dàng. Bên trong có vẻ khá rộng. Sàn gạch lát, ngoài bụi và vài ba cái lá rụng, nom sạch sẽ khô ráo. Tôi đứng không còn vững nữa, bèn ngồi bệt rồi nằm nhoài ra. Trong bóng tối đầu tôi đụng phải một vật bằng gỗ. Đưa tay sờ, đó là một chiếc ghế cầu kinh. Tôi đặt gáy lên lần nhung sờn cũ. Kỳ quặc thay, mặt vải như còn ấm, cứ như thể ai vừa quỳ lên đấy.

Hai ngày đầu tôi chỉ rời nơi ẩn náu khi đi mua bánh mì hoặc tắm rửa. Sau đó quay về ngay, nằm dài, chìm vào cơn uể oải run rẩy chỉ tạm ngưng ít phút khi còi huýt báo giờ đóng cửa nghĩa địa. Chiếc cổng lớn rít kèn kẹt giữa làn sương, và thế giới thu hẹp lại giữa mấy bức tường đá lỗ chỗ mà tôi có thể sờ thấy bằng cách giang rộng hai tay, giữa ánh mờ tấm kính cửa mộ, giữa cái lặng im rền vang mà tôi tưởng nghe thấy dưới những phiến đá lát, dưới người tôi…

Tôi lẫn lộn nhanh chóng chuỗi ngày tháng tiếp theo đó. Chỉ nhớ có một chiều tôi thấy hơi đỡ hơn. Lững thững bước, nheo mắt che bớt ánh mặt trời đã trở lại, tôi quay về… nhà. Nhà tôi! Vâng, tôi nghĩ thế, tôi ngạc nhiên nhận ra mình nghĩ thế và bật lên cười đến nỗi ho sặc sụa khiến người qua đường quay nhìn. Cái hốc khám thờ này, xây từ hơn một thế kỷ trong khu vực nghĩa địa ít được thăm viếng vì không có mộ nổi tiếng – nhà tôi đấy. Tôi kinh hãi nghĩ là từ bé tôi không hề dùng cái từ này.

Chính chiều hôm ấy, dưới ánh nắng thu chiếu lên hốc khám thờ, tôi đọc thấy những chữ ghi trên các tấm cẩm thạch gắn trên tường. Thực ra đây là một nhà thờ nhỏ trong khu nghĩa địa của các gia đình Belval và Castelot. Những câu tóm tắt ghi trên các bia mộ kể lại tiểu sử người đã chết.

Tôi đang quá yếu mệt. Tôi đọc một vài câu rồi ngồi xệp trên đá lát, thở dốc như vừa gắng gỏi quá sức, đầu choáng váng réo ong ong. Sinh ngày 27 tháng chín 1837 ở Bordeaux. Mất ngày 4 tháng sáu 1888 tại Paris. Chắc có lẽ những chữ ghi ngày tháng này đã làm tôi chóng mặt. Tôi cảm nhận thời gian của họ với tính nhạy cảm của kẻ bị ảo giác. Sinh ngày 6 tháng ba 1849. Chúa gọi về ngày 12 tháng chạp 1901. Các khoảng cách ấy chứa đầy những tiếng rì rầm, những dáng người, những hành động trộn lộn lịch sử và văn chương. Cả một làn sóng hình ảnh trào dâng, những hình ảnh mãnh liệt và hết sức cụ thể khiến tôi hầu như rã rời. Tôi tưởng nghe tiếng sột soạt chiếc áo dài người phụ nữ nọ bước lên xe ngựa. Bà ta tụ hội trong cử chỉ đơn giản này những ngày xa xăm của tất cả các phụ nữ vô danh từng đã sống, yêu, đau khổ, từng đã nhìn thấy bầu trời này, hít thở không khí này… Tôi cảm thấy như sờ mó được dáng cứng đơ đến rụt cổ của các vị chức sắc nọ trong bộ lễ phục đen: mặt trời, quảng trường một thành phố tỉnh lẻ, những bài diễn văn, những biểu hiện của nền cộng hòa mới tinh khôi… Các cuộc chiến tranh, cách mạng, đám quần chúng nhung nhúc, các lễ hội đông cứng lại giây phút trong một nhân vật, một giọng nói, một bài hát, một loạt súng chào, một bài thơ, một cảm giác – rồi dòng thời gian lại tiếp tục chảy giữa ngày tháng sinh và ngày tháng chết. Sinh ngày 26 tháng tám 1861 973 Biarritz. Mất ngày 11 tháng hai 1922 ở Vincennes…

Tôi lần bước từ mộ chí này đến mộ chí khác: Đại úy long kỵ của Hoàng hậu. Thiếu tướng sư đoàn. Họa sĩ Lịch sử, thuộc các đoàn quân Pháp: Phi Châu, Ý, Xiri, Mêhicô. Tổng quản đốc. Chủ tịch tiểu ban thuộc Hội đồng Nhà nước. Nữ sĩ văn chương. Nguyên tổng kiểm toán Thượng nghị viện. Trung úy tiểu đoàn 224 Bộ binh. Huy chương chữ thập đỏ hình lá cọ. Chết cho nước Pháp… Đó là những hình bóng một đế quốc từng chói sáng khắp hoàn cầu… Bia mộ mới nhất cũng là ngắn gọn nhất: Françoise, 2 tháng mười một 1952 – 10 tháng năm 1969… Mười sáu tuổi, thêm lời nào nữa là thừa.

Tôi ngồi trên các viên đá lát, nhắm mắt. Tôi cảm thấy trong tôi độ dày đặc chứa chan rung cảm của mọi cuộc đời kia. Không hề tìm cách diễn đạt ý nghĩ, tôi lẩm bẩm:

- Ta ước đoán ra khí hậu những ngày họ sống và ngày họ chết. Điều bí ẩn của việc ra đời kia ở Biarritz, ngày 26 tháng tám 1861. Tính cá biệt khó bề quan niệm về việc sinh ra này ở đúng Biarritz, ngày ấy cách một thế kỷ. Và ta cảm nhận vẻ mỏng manh khuôn mặt biến đi ngày 10 tháng năm 1969, ta cảm nhận nó như một xúc động mãnh liệt chính bản thân tôi đã trải… Những cuộc đời không quen kia ta thấy thật gần gụi.

Nửa đêm tôi đi ra. Bức tường rào bằng đá nơi này không cao. Nhưng mép dưới tà áo măng tô móc phải một mũi sắt cắm dọc tường. Tôi suýt ngã nhào. Trong bóng tối, con mắt xanh lè một cây đèn đường vẽ một dấu hỏi. Tôi rơi xuống một lớp lá rụng dày. Tôi cảm thấy rơi lâu, có cảm giác rơi vào một thành phố xa lạ. Nhà cửa nơi này vào ban đêm, nom giống như công trình kỷ niệm một thành phố bỏ phế. Không khí có mùi lá rừng ướt át.

Tôi đi xuống một đường phố hoang vắng. Vả chăng các đường phố tôi men theo đều đi xuống – cứ như đẩy tôi xuống tới tận đáy cái thành phố khổng lồ mờ đục này. Mấy chiếc ô tô lác đác tôi gặp làm ra bộ mở hết tốc lực lao thẳng để tránh xa nơi này. Một kẻ vô gia cư khi tôi đi qua, cựa quậy trong tấm mai rùa bằng bìa dày. Anh ta thò đầu, cửa hàng phía trước chiếu sáng vào. Đó là một dân châu Phi, mắt sưng đượm một vẻ điên rồ nhẫn nhịn, bình thản. Anh ta mở miệng nói. Tôi ghé xuống nhưng không hiểu gì sất. Chắc là ngôn ngữ quê anh ta. Những tờ bìa dùng làm nơi trú ẩn đầy những chữ tượng hình.

Khi tôi vượt sông Seine, trời bắt đầu rạng. Từ nãy giờ tôi bước như người mộng du. Niềm run rẩy khoan khoái lúc bình phục đã tan biến. Tôi có cảm giác đang bì bõm trong bóng mờ còn dày đặc các tòa nhà. Cơn chóng mặt uốn cong mọi cảnh sắc, cuốn tròn chúng lại quanh tôi. Các tòa nhà chồng chất dọc cảng sông và hòn đảo nom giống như bước phông bài trí điện ảnh khổng lồ trong bóng tối khi các đèn chiếu đã tắt. Tôi chẳng còn nhớ tại sao tôi lại rời khu nghĩa địa.

Trên chiếc cầu gỗ nhỏ, tôi quay người lại nhiều lần. Tôi tưởng như nghe thấy tiếng bước chân phía sau lưng. Hoặc tiếng mạch máu đập rần rật bên thái dương. Những tiếng ấy càng dội to thình thịch ở một con đường dốc lôi tôi đi như xe trượt tuyết. Tôi quay phắt lại. Dường như nom thấy một dáng phụ nữ, mặc áo măng tô dài, đang lướt dưới một bức vòm. Tôi đứng thẳng, mệt rũ, tựa vào tường. Thế giới tan rã, bức tường chao nghiêng dưới bàn tay, các cửa sổ tuôn chảy rỉ rỉ dọc mặt tiền các nhà xám xịt…

Mấy chữ kẻ trên một tấm kim loại đen sì bỗng xuất hiện như có phép thần. Tôi bám víu vào lời truyền đạt: một người sắp sửa đắm chìm trong cơn say rượu hoặc điên cuồng cũng bám víu kiểu như vậy trong một phương ngôn mà nội dung lô gich nhàm tẻ nhưng đầy hiệu nghiệm giữ anh ta lại phía bên này sự vật… Tấm bảng gắn cách mặt đấy một mét. Tôi đọc đi đọc lại ba bốn lần chữ ghi trên đó:

VỤ LỤT THÁNG GIÊNG 1910

Chẳng phải một kỷ niệm, mà là chính bản thân cuộc sống. Không, tôi không sống lại, mà tôi đang sống. Những cảm giác vẻ như rất tầm thường. Hơi nóng tấm lan can gỗ chiếc ban công lơ lửng giữa trời một chiều hè. Những hương vị khô nồng cây cỏ. Tiếng còi xa xa rầu rĩ con tàu hỏa. Tiếng sột soạt khẽ khàng những trang giấy trên đầu gối một phụ nữ ngồi giữa những cành hoa. Mái tóc bạc của bà. Giọng nói bà… Và tiếng sột soạt ấy, giọng nói ấy giờ đây trộn lẫn với tiếng xào xạc lá cành đặng liễu – tôi đang sống bên bờ con sông hẻo lánh trong cái mênh mông đẫm nắng thảo nguyên. Tôi nom thấy người phụ nữ tóc hoa râm ấy đăm chiêu giữa cơn mơ mộng trong sáng bước thong thả trong làn nước và vẻ như trẻ trung biết bao. Và cái ấn tượng trẻ trung ấy chở tôi lên sàn ngoài chiếc toa tàu bay xuyên qua cánh đồng óng ánh mưa và ánh sáng. Người phụ nữ trước mặt mỉm cười với tôi vừa gạt những món tóc ướt trên trán. Lông mi bà lấp lánh ngũ sắc dưới nắng chiều tà…

VỤ LỤT, THÁNG GIÊNG 1910. Tôi nghe cái im lặng mù sương, tiếng sóng vỗ óc ách một chiếc thuyền đi qua. Một cô bé gái, trán tì của kính, nhìn ra mặt nước màu nhợt nhạt trên đường phố ngập lụt. Tôi sống mãnh liệt xiết bao cái buổi sáng tĩnh lặng kia trong một căn phòng lớn ở Paris đầu thế kỷ… Và buổi sáng ấy mở tiếp ra một buổi sáng khác, với tiếng sỏi rào rạo trong một lối đi được cây cối mùa thu nạm vàng. Ba người phụ nữ mặc áo dài lụa đen, đội mũ rộng vành dắt đầy mạng che và lông chim, đi xa dần như thể đem theo với mình cái khoảnh khắc ấy, mặt trời của nó và không khí một thời đại trôi mau… Một buổi sáng khác: bà Charlotte (giờ đây tôi nhận ra bà) bên cạnh một người đàn ông, trong những đường phố đầy âm thanh của cái thành phố Neuilly tuổi thơ của bà. Charlotte, với dáng vui vẻ điểm chút e thẹn, chơi trò người hướng dẫn. Tôi tưởng nhận ra vẻ trong trẻo ánh sáng ban mai trên mỗi viên đá lát, nom thấy cái phập phồng từng chiếc lá, hình dung ra thành phố xa lạ này trong ánh mắt người đàn ông cùng là phối cảnh của các đường phố đã quá quen thuộc dưới con mắt của Charlotte.

Lúc bấy giờ tôi hiểu là hòn đảo Atlantide của bà Charlotte đã giúp tôi thoáng thấy, từ lúc còn thơ bé nét hài âm bí ẩn của những khoảnh khắc vĩnh cửu. Chúng vạch ra từ đó, mà tôi không hề biết, như một đời sống khác, vô hình, khó thể nói rõ ra, bên cạnh cuộc đời tôi. Cũng giống như người thợ mộc ngày ngày đóng ghế hoặc bào ván không nhận ra là những đăng ten vỏ bào tạo trên đất một bức trang trí óng ánh nhựa, chất nhựa trong suốt này hôm nay thì thu hút ánh mặt trời xuyên qua cửa sổ hẹp bề bộn dụng cụ, ngày mai – ánh biêng biếc làn tuyết.

Đời sống ấy giờ đây biểu lộ ra chính nó mới là cốt yếu. Cần phải khiến cho nó nẩy nở trong tôi, chưa biết bằng cách nào đây. Phải học ôn lại những gam khoảnh khắc ấy bằng công việc lặng thầm của ký ức. Học cách phòng giữ tính vĩnh hằng của chúng trong cái lề thói quen thuộc những cử chỉ thường ngày, cái cung cách uể oải những từ ngữ tẻ nhạt. Sống, ý thức về sự vĩnh hằng kia.

Tôi quay về phía nghĩa địa đúng trước khi đóng cổng. Chiều hôm ấy sáng trời. Tôi ngồi trên ngưỡng cửa và viết trong cuốn sổ địa chỉ từ lâu đã thành vô dụng:

Tình thế tôi ở thế giới bên kia thật tuyệt vời, không những để khám phá ra cái đời sống cốt yếu, mà còn tái tạo nó bằng cách ghi chép trong một văn phong đang cần phải phát minh ra. Hoặc đúng hơn, văn phong này từ nay sẽ là cách sống của tôi. Tôi sẽ không còn đời sống nào khác ngoài những cái khoảnh khắc kia sống lại trên trang giấy…

Thiếu giấy, bài tuyên ngôn của tôi sắp sửa tạm dứt. Viết nó là một cử chỉ hết sức quan trọng cho dự định của tôi. Trong bản tín điều kiểu khoa trương này, tôi khẳng định là chỉ có các tác phẩm sáng tạo bên bờ huyệt mộ, hoặc khi đã ở thế giới bên kia mới chống lại được thử thách của thời gian. Tôi viện dẫn chứng động kinh người này, bệnh hen và căn phòng lót bần kẻ khác, cảnh sống lưu vong, còn thấm thía hơn cả hầm giam, vân vân.. Giọng điệu đại cà sa trong lời tuyên bố quan điểm này sẽ biến đi nhanh chóng. Nó được thay bằng cuốn sổ “giấy nháp” tôi mua hôm sau với đồng tiền cuối cùng và ở trang đầu tôi ghi rất đơn giản:

Charlotte Lemonnier. Tiểu sử tóm tắt.

Vả chăng, ngay sáng hôm ấy, tôi vĩnh viễn rời khỏi cái hốc khám thờ gia đình Belval và Castelot… Nửa đêm tôi thức giấc. Một ý nghĩ vô lý, điên rồi vừa xuyên qua óc tôi, như một viên đạn vạch đường. Tôi phải nói to thành tiếng để đo thử cái hiện thực phi thường của nó:

- Nếu như bà Charlotte vẫn còn sống thì sao?

Sững sờ, tôi hình dung bà đi ra chiếc ban công dầy hoa, cúi xuống một cuốn sách. Từ rất nhiều năm tôi không nhận được tin tức gì từ Saranza. Vậy bà Charlotte có thể vẫn tiếp tục sống đại khái như trước đây, như hồi tôi còn bé. Như thế thì lúc này bà hơn tám mươi, nhưng trí nhớ tôi không hình dung được bà trong tuổi ấy. Với tôi, bà bao giờ cũng là bà của một thời.

Chính lúc ấy giấc mơ của tôi vẽ thành hình. Chắc quầng sáng giấc mơ đã đánh thức tôi dậy. Tìm lại bà Charlotte, đưa bà về Pháp…

Tính thiếu hiện thực trong dự kiến do một kẻ lang thang vạch trên tấm đá lát một hốc khám thờ đã quá hiển nhiên nên tôi chẳng tìm cách chứng minh làm gì. Tôi tạm thời quyết định không nghĩ vào chi tiết, cứ sống mà giữ trong đáy mỗi ngày cái hi vọng phi lý ấy. Sống với cái hy vọng ấy.

Đêm ấy tôi không thể ngủ lại được nữa. Quàng áo măng tô tôi đi ra ngoài. Cái ấm áp cuối thu đã nhường chỗ cho gió bấc. Tôi đứng thững nhìn những lần mây thấp nhuốm dần màu xám nhợt.

Tôi nhớ một hôm, trong một câu nói vui chẳng có gì vui, bà Charlotte bảo là sau các cuộc hành trình xuyên qua nước Nga, đi bộ sang Pháp chẳng có gì là không thể được.

Thời kỳ đầu, trong những tháng dài lang thang cực khổ, giấc mơ điên của tôi gần giống như sự thách thức đáng buồn ấy. Tôi hình dung ra một người phụ nữ bận đồ đen, lúc tinh mơ một sáng mùa đông u ám, bước vào một thành phố nhỏ nơi biên giới. Mép tà áo lấm bem bùn, chiếc khăn quàng lớn thấm đầy sương lạnh. Bà đẩy cửa một tiệm cà phê ở góc một quảng trường nhỏ ngái ngủ, ngồi bên cửa sổ cạnh một lò sưởi điện. Bà chủ bưng ra một chén trà. Bà khách nhìn qua cửa kính những ngôi nhà trát vữa sơ sài, khẽ thầm thì: “Đây là nước Pháp… Ta đã trở về Pháp… Sau… sau cả một cuộc đời”.

à Văn Năm xuất bản: 1998 Số trang: 320 Khổ sách: 13 x 19 cm Đánh máy: Thái Thanh, Diệu Linh, Đặng Mùi, Thùy An, Ngọc Nở, Tuyết Anh Kiểm tra: Nguyễn Thanh Chế bản ebook: Thảo Đoàn Ngày thực hiện: 28/08/2011 Making Ebook Project #169 - www.Bo
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Andrei Makine

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.