Di Chúc Pháp

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

2

- Thật, cái điều tôi không hiểu, là tại làm sao bà ấy cứ muốn chôn vùi ở cái thị trấn Saranza cơ chứ. Lẽ ra bà có thể về sống ở đây, cạnh mọi người.

Suýt nữa tôi nhảy bổ khỏi chiếc ghế đẩu cạnh máy truyền hình. Là vì tôi hiểu quá rõ vì sao và lại thiết tha với cái thành phố tỉnh lẻ của bà đến vậy. Dễ giải thích bao nhiêu sự lựa chọn của bà cho đám người lớn tụ họp trong nhà bếp.

Tôi sẽ nói về cái bầu trời thảo nguyên khô ráo chưng cất quá khứ qua làn không khí trong suốt câm lặng. Tôi sẽ nói vè những con đường bụi bặm không dẫn đến đâu cả và tất cả đều đổ ra cùng một cánh đồng vô cùng tận. Vè cái thành phố nơi mà lịch sử, bằng cách cắt cụt các nhà thờ và bứt bỏ mọi “ thừa thãi kiến trúc”, đã xua đi mọi ý niệm thời gian. Cái thành phố nơi mà sống có nghĩa là không ngớt sống lại quá khứ của mình trong khi vẫn thực hiện đầy đủ như cái máy các cử chỉ thường nhật.

Tôi không nói gì cả. Tôi sợ bị trục xuất khỏi nhà bếp. Đám người lớn, như tôi đã nhận thấy ít lâu nay, dễ dàng dung thứ hơn việc tôi có mặt tái đó. Dường như với tuổi mười lăm tôi đã chiếm được quyến tham sự vào các cuộc trò chuyện khuya đêm của họ. Với điều kiện là không lộ mặt. Vui thích về sự thay đổi thái độ như vậy, tôi quan tâm đặc biệt chớ để đánh mất cái đặc quyền này đi.

Tên bà Charlotte vẫn năng trở đi trở lại trong những buổi trò chuyện đêm đông ấy như trước. Vâng, như hồi trước, cuộc đời bà ngoại tôi cung cấp cho khách khứa một đề tài trò chuyện mà không đụng chạm đến lòng tự ái một ai.

Mặt khác, người đàn bà Pháp trẻ ấy có lợi thế là tập trung trong cuộc đời mình những giai đoạn mấu chốt trong lịch sử đất nước chúng tôi. Bà đã sống dưới thời Sa hoàng và sống sót qua các vụ cải hóa, bà đã trải qua chiến tranh và chứng kiến sự sụp đổ của biết bao thần tượng. Lời bà, được vẽ phóng trên nền cái thế kỷ đẫm máu nhất của vương quốc, đạt tới một kích cỡ sử thi dưới mắt họ.

Chính bà, người phụ nữ Pháp ở đầu mút kia trái đất, đã nhìn bằng con mắt vô hồn những đụn cát nhấp nhô qua cửa sổ toa tàu (“Thế quái nào bà ấy lại cứ bám lấy cái vùng sa mạc chết tiệt kia mới được chứ?” Một hôm một ông bạn bố tôi, ông hoa tiêu lái máy bay, đã kêu lên). Cạnh bà, cũng ngồi bất động, là ông Fiodor chồng bà. Gió lùa qua toa tàu chẳng đem được tí hơi mát nào mặc dù tàu phóng nhanh. Hai người ngồi lát lâu trong khung ánh sáng và nóng ực này.. Gió cọ lên vầng trán đọng mồ hôi râm rấp nom nhấp nhánh như tờ giấy ráp. Mặt trời dọi vào mắt nẩy thành vô vàn tia chói. Nhưng hai ông bà không động đậy, cứ như thế thầm mong cái quá khứ nhọc nhặn kia sẽ xóa đi bằng sự cọ xát và cái chói chang kia. Ông bà vừa rời khỏi Boukhara.

Chính bà, người sau chuyến quay trờ về Xibêri, ngồi hàng giờ dằng dặc vô tận cạnh cửa sổ đen sạm, chốc chốc hà hơi lên lớp giá dày tạo một vòng trong nhỏ tan giá. Xuyên qua cái lỗ nhìn ươn ướt ấy, bá thấy một con đường trắng đẫm bóng đêm. Thỉnh thoảng một chiếc ô tô chạy từ từ, tới trước nhà rồi sau một lát phân vân, bỏ đi. Đồng hồ điểm ba giờ sáng và ít phút sau bà nghe tiếng giày dẫm sào sạo lên tuyết chỗ tam cấp. Bà nhắm mắt chốc lát đoạn ra mở cửa. Chồng bà bao giờ cũng trở về vào giờ này… Có những kẻ tự dưng biến mất hoặc khi đang làm việc, hoặc giữa đêm khuya tại nhà, sau khi một chiếc ô tô đen xịch tới trên đường phố đầy tuyết. Bà tin tưởng rằng chừng nào mình ngồi đợi chồng cạnh cửa sổ và thổi lên lới giá, sẽ không có gì xẩy đến cho ông chồng. Ba giờ sáng ông đứng lên, xếp lại hồ sơ trên bàn giấy, đi ra. Cũng như tất cả các viên chức khác khắp cái vương quốc mênh mông này. Họ biết rằng trong điện Kremlin, ông chủ của đất nước làm xong công việc hằng ngày lúc ba giờ. Không suy nghĩ, mọi người vội vàng bắt chước thời gian biểu của ông. Thậm chí người ta không nghĩ rằng từ Matsxcơva đến Xibêri, vượt qua nhiều múi giờ, cái “ba giờ sáng” ấy chẳng còn tương ứng với cái gì sất. Rằng Stalin thức dậy từ trên giường và mồi điếu thuốc tẩu trong ngày và tại một thành phố Xibêri, lúc đầu hôm, các thần dân trung thành của ông chống lại giấc ngủ trên ghế của mình. Từ điện Kremlin, ông chủ dường như áp đặt đơn vị đo đạc của bàn chân cho dòng thời gian thậm chí cho cả mặt trời. Khi ông đi nằm, tất cả mọi đồng hồ trên hành tinh chỉ ba giờ sáng. Ít ra thì mọi người hồi bấy giờ đều nghĩ vậy.

Một hôm, bà Charlotte, mệt bã vì những đêm chờ đợi như thể, chợp di vài ba phút trước cái giờ của hành tinh. Lát sau giật mình tỉnh thức, bà nghe thấy bước chân ông chồng trong buồng trẻ con. Bà đi vào và thấy chồng cúi xuống giường con trai. cái anh con trai tóc đen mềm chẳng giống bất cứ ai trong gia đình...

Họ bắt ông Ficodor không phải tại bàn giấy giữa ban ngày, cũng không phải vào buổi sáng tinh mơ bằng tiếng đấm của rầm rầm đánh thức ông dậy. Không, việc đó xảy ra vào đêm giáng sinh. Ông đã khoác chiếc áo choàng đỏ ông già Nô en và gương mặt ông, không thể nhận ra dưới bộ râu dài, khiến con cái thích thú: anh con trai mười hai tuổi cũng có em gái - mẹ tôi. Bà Charlotte đang sửa lại chiếc mũ lông trên đầu chồng thì họ bước vào. Họ vào không phải đập cửa vì cửa đang mở, mọi người đang đợi khách.

Và cái cảnh bắt bớ kia, đêm nay có bối cảnh là cây thông Nô en với hai đứa trẻ đeo mặt nạ bằng bìa – anh con trai, chủ thỏ, cô con gái, chú sóc. Ở giũa cảnh trí là ông già Nô en kia, sững sờ, đoán rất rõ cái gì sẽ xảy ra và hầu như vui sướng là bọn trẻ không thấy được da mặt mình tái đi dưới bộ râu bằng bông. Bà Charlotte, bằng giọng rất bĩnh tĩnh, bảo với chú thỏ và chú sóc đang nhìn những kẻ lạ mà không bỏ mặt nạ: - Nào các con, ta sang phòng bên. Chúng mình đốt pháo bông nhé.

Bà nói bằng tiếng Pháp. Hai cảnh sát liếc nhìn nhau một cái nhìn đầy ẩn ý.

Ông Ficodor thoát hiểm nhờ cái điều mà đứng về mặt lôgich đã có thể hại ông: quốc tịch của vợ... Trước dây mấy năm, khí bao người bắt đầu biến mất, cứ từng gia đình, từng nhà một, ông đã nghĩ ngay đến điều ấy. Charlotte mang trong bản thân hai khuyết điểm nghiêm trọng thường gán cho “kẻ thù nhân dân”: gốc gác “tư sản” và quan hệ với người nước ngoài. Lấy vợ là một phần tử “tư sản”, Ông thấy mình đương nhiên mắc cái tội làm “tay sai cho đế quốc Anh Mỹ”. Công thức này với thời gian đã thành chuyện thông thường...

Nhưng ông Ficodor chẳng giấu giếm gì hết. Hộ chiếu bà Charlotte ghi rành mạch quốc tịch: Pháp. Thành phố nơi sinh, Neuilly - sur - Seine, phiên âm sang tiếng Nga, chỉ càng làm tăng thêm vẻ khác thường của nó. Các chuyến đi của bà sang Pháp, đám anh em họ “tư sản” đang luôn luôn sống ở dấy, con cái bà vừa nói tiếng Pháp vừa nói tiếng nga - mọi chuyện đều quá rõ ràng. Những lời thú nhận giả mà thông thường người ta giành giật được bằng tra khảo sau hàng tuần hỏi cung, lần này đã được tự nguyện khai ra ngay từ đầu. Bộ máy dẫm chân tại chỗ. Ông Ficodor bị giam giữ, rồi càng ngày căng thêm vướng víu đối với nhà cầm quyền, ông bị thuyên chuyển đến đầu mút kia vương quốc, trong một thành phố sáp nhập của Ba Lan.

Hai ông bà sống bên nhau một tuần. Sáu ngày di tàu xuyên qua đất nước cộng một ngày dọn nhà lâu lắc hỗn độn. Hôm sau ông Ficodor lên đường đi Matxcova để xin phục hồi đảng tịch vì ông trước dây đã bị khai trừ chóng vánh. “Vài ngày là xong”, Ông nói với vợ di tiễn ra ga. Lúc quay về, bà chợt nhận ra ông quên không mang theo cái hộp đựng thuốc lá. “Chẳng can hệ, bà nghĩ, chỉ hai ngày...” Vào cái ngày rất gần ấy (ông Ficodor sẽ bước vào nhà, thấy hộp đựng thuốc lá trên bàn và vỗ trán kêu lên: “Ngốc quá! Thế mà tôi tìm khắp...”), phải, cái buổi sáng tháng sáu ấy sẽ là ngày đầu tiên một chuỗi ngày dài chứa chan hạnh phúc.

Hai người gặp lại nhau sau bốn năm. Và ông Ficodor sẽ chẳng hao giờ tìm thấy lại cái hộp đựng thuốc lá. Giữa những ngày chiến tranh, bà Charlotte đã đánh đổi lấy chiếc bánh mì đen.

Đám người lớn chuyện trò. Đài truyền hình với các tin thời sự tươi vui, tường thuật thành tựu mới nhất nền công nghiệp quốc gia, buổi hòa nhạc ở rạp Bol-choi, tạo thành một cái nền âm thanh êm ả. Rượu vốt ca pha dịu nỗi đắng cay quá khứ. Và tôi cảm thấy là đám khách khứa, cả đến những ông khách mới tất cả đều yêu mến người đàn bà Pháp đã từng thản nhiên chấp nhận số phận đất nước họ.

Các câu chuyện ấy giúp tôi hiểu rất nhiều điều. Giờ đây tôi hiểu vì sao những ngày lễ đầu năm trong gia đình đượm chút lo lắng mơ hồ giống như một làn gió lén giập cửa ngôi nhà hoang lúc hoàng hôn. Mặc dù về mặt vui tươi của bố, mặc dù mọi quà cáp, tiếng pháo nổ hoặc giấy trang kim lấp lánh trên cây thông, niềm bất ổn vẫn cứ có đấy. Cứ như thể giữa những cuộc nâng cốc, những tiếng nút chai nổ và tiếng cười, người ta chờ đợi một ai đấy đến. Thậm chí tôi còn nghĩ là những người thân tín, không hề tự thú, đón chào cái yên bình tuyết phủ thường nhật những ngày ra giêng với một tâm trạng nhẹ nhõm nào đấy. Dù sao mặc lòng, đúng là cái thời điểm sau lễ tết ấy chị em tôi thích hơn là bản thân ngày tết.

Những ngày Nga của bà tôi - những ngày một lúc nào đó đơn giản trở thành cuộc đời bà chứ không phải một “giai đoạn Nga” trước khi quay về Pháp - đối với tôi có một sắc điệu kín đáo mà người khác không thể nhận thấy. Ðó là một thứ vầng sáng vô hình bao quanh bà Charlotte xuyên qua cái quá khứ đang trỗi dậy trong nhà bếp ám khói. Tôi vừa kinh ngạc vừa thán phục tự hỏi: “Người đàn bà đã từng đợi hàng tháng hàng tháng cái thời điểm trứ danh ba giờ sáng trước cửa sổ phủ đầy băng, cũng lại là người vừa bí ẩn vừa gần gũi xiết bao đã từng một hôm trông thấy những chiếc vỏ ốc bịt bạc trong một tiệm cà phê ở Neuilly!

Khi nói về bà Charlotte, không bao giờ họ quên nhắc đến cái buổi sáng nọ.

Chính anh con trai bà đã đột nhiên thức giấc lúc nửa đêm. Anh nhảy ra khỏi giường xếp và chân trần tay huơ huơ ra trước, đi tới phía cửa sổ. Khi đi ngang phòng trong bóng tối, anh vấp phải giường cô em. Bà Charlotte cũng chưa ngủ. Bà đang nằm chong mắt trong đêm tối, cố đoán xem từ đâu mà có cái tiếng ầm ĩ nằng nặng đơn điệu khiến tưởng vách rung lên. Bà cảm thấy cả thân mình, đầu mình cũng rung bần bật trong cái tiếng động ri rì quánh đặc. Hai người con thức giấc chạy ra cửa sổ. Charlotte nghe tiếng con gái ngạc nhiên kêu lên:

- A! Bao nhiêu là sao!? Nhưng hình như chúng di chuyển...

Không bật đèn. Charlotte tới cạnh các con. Trên lối đi bà thấy trên bàn một ánh mờ mờ kim loại: Hộp đựng thuốc lá của ông Ficodor. Chồng bà đi Mạc tư khoa sáng mai là về. Bà thấy hàng dãy chấm sáng đang từ từ trôi trong bầu trời đêm.

- Máy bay đấy, anh con trai nói bằng giọng bình tĩnh không hề thay đổi. Từng phi đội một.

- Nhưng chúng bay đi đâu thế nhỉ? Cô em thì thào, cố mở to mắt ngái ngủ.

Bà Charlotte nắm vai các con.

- Các con đi ngủ đi! Chắc bộ đội mình tập trận đấy. Biên giới rất gần đây. Họ tập trận hoặc là tập thao diễn không quân...

Anh con trai húng hắng ho và nói khẽ khàng, vẫn như nói với mình và vẫn cái giọng buồn buồn bình thản nghe thật lạ tai ở người thanh niên ấy:

- Hoặc giả là đánh nhau chăng...

- Serguei, không được nói linh tinh, bà Charlotte mắng.

Thôi đi ngủ đi. Mai ra ga đón bố.

Bật ngọn đền giường, bà nhìn đồng hồ quả quýt: Hai giờ rưỡi sáng. Thế là sang ngày hôm nay rồi đấy...”

Mấy mẹ con không kịp ngủ lại. Những quả bom đầu tiên xé màn đêm. Các phi dội bay qua thành phố đã hơn một tiếng đồng hồ, hướng tới mục tiêu là những vùng xa hơn, sâu trong nội địa, nơi cuộc tấn công của chúng giống như một trận động đất. Chỉ đến ba giờ rưỡi sáng bọn Đức mới bắt đầu đánh bom ngay vùng giới tuyển để dọn đường cho bộ binh. Và cô thiếu nữ ngái ngủ, tức là mẹ tôi, mê man đi trước cảnh tượng những chùm sao di chuyển vô cùng trật tự, trên thực tế thấy mình đang ở trong cái vòng ngoặc nhói đau giữa hòa bình và chiến tranh.

Hầu như không thể nào đi ra khỏi nhà. Mặt đất bồng bềnh, ngói thì nhau rớt từ mái hàng loạt vỡ răng rắc trên bậc tam cấp. Tiếng nổ bao bọc các cử chỉ lời nói trong cái điếc đặc.

Bà Charlotte cuối cùng lùa được các con ra ngoài, bà cũng chạy ra xách theo chiếc va ly to nặng chịch. Các tòa nhà trước mặt đã bay mất kính. Một tấm rèm cửa uốn lượn dưới làn gió vừa mới dậy lên. Tấm vải màu sáng vẫn còn giữ vẻ phất phơ êm ả những buổi sớm thanh bình.

Con đường ra ga rải đầy mảnh kính, cành cây gãy. Đôi chỗ một thân cây đổ ngang chặn mất lối. Ở nơi nào đó họ phải đi vòng quanh một hố bom to tướng.

Chính ở đây người chạy loạn dồn lại đông đặc hơn. Tránh xa cái hố, đám người đeo túi xách bị xô đẩy nhau, và bỗng nhận ra nhau. Họ cố hỏi chuyện, nhưng hơi bom chạy quanh các ngôi nhà đột nhiên phụt tới và tiếng nổ điếc tai khiến mọi người im thít. Họ khua tay bất lục, lại bỏ chạy.

Khi tới đầu phố bà Charlotte nhận ra nhà ga, bà liền cảm thấy trong từng đường gân thớ thịt là cuộc đời hôm qua của mình đang rơi tõm mãi mãi vào dĩ vãng. Chỉ có lúc tưởng mặt nhà ga còn đứng vững và qua các hốc mắt cửa sổ trống rỗng có thể nom thấy bầu trời mai nhợt nhạt.

Cái tin tức được hàng trăm miệng nhắc lại rốt cuộc vượt lên được tiếng bom. Chuyến tàu cuối cùng đi về phía đông vừa chạy, tuân thủ một cách phi lý giờ giấc thông thường. Đám đông húc phải đống đổ nát nhà ga. đứng lại bất động, rồi bị tiếng máy bay rú rít đè nát, họ tàn mát ra các ngả phố chung quanh hoặc dưới các gốc cây một công viên.

Bà Charlotte ngẩn ngơ nhìn quanh. Một tấm biển lê la dưới chân: “Không đi qua đường tàu! Nguy hiểm!”. Nhưng đường tàu bị bom quật, chỉ còn là những mẩu đường ray hỗn độn dựng cong cong cứng ngắc lên bệ bê tông chiếc cầu cạn. Chúng chồng lên trời và chuỗi tà vẹt tựa hồ như một chiếc thang kỳ quặc bắc thẳng lên mây.

“Mới có một chuyến tàu hàng sắp chạy kia kìa”, bà Charlotte chợt nghe con trai thì thầm bằng giọng bình thản và như thể chán chường.

Phía xa bà nom thấy một đoàn toa lớn sơn nâu chung quanh có bóng người láo nháo. Charlotte liền tóm quai va ly, hai con cũng xách túi chạy tới.

Khi ba người đến trước toa cuối cùng, tàu đang chuyển bánh và người ta nghe tiếng thở dài mừng vui lẫn hồi hộp chào đón cuộc khởi hành. Một đám người đông đặc hốt hoảng bám vào các của sổ toa. Thấy mình chậm chạp quá chừng đến tuyệt vọng, bà Charlotte đẩy hai con qua cái của sổ đang từ từ di chuyển. Anh con trai leo lên, túm lấy chiếc vali. Cô em phải chạy nhanh theo để năm lấy bàn tay anh mình đang với xuống. Charlotte ôm xốc con bé nâng lên, cho nó bám được vào thành chiếc toa chật ních, còn bà thì cũng chạy theo cố túm chặt cái thanh sắt ngang. Sự việc xảy ra chỉ một giây đồng hồ nhưng bà còn kịp nhận thấy gương mặt im lìm những người thoát nạn, giọt nước mắt con gái và rõ nét một cách lạ lùng cái vết nứt ở thành toa tàu...

Bà lảo đảo ngã quỵ. Điều xảy ra sau đó quá nhanh đến múc bà tưởng không chạm chân được lên lớp đá trắng đắp nền. Có hai bàn tay túm chặt hông bà nhấc bổng, bầu trời bỗng nhúi nghiêng, bà cảm thấy được phóng vào trong toa. Và trong một ánh chớp sáng lòa, bà thoắt nhận ra một chiếc mũ cát két công nhân xe lửa, một hình người trong thoáng giây in sấp bóng giữa khe nứt thành toa...

Trưa, tàu đi qua Minsk. Trong làn khói đặc, mặt trời cháy đỏ lên như của một hành tinh khác. Và những chiếc bướm đen tang tóc kỳ lạ - những cái chuông lớn bằng tro - bay chấp chới trong không trung. Chẳng ai có thể hiểu chỉ trong vài giờ chiến tranh, làm sao thành phố này đã biến thành một dãy bộ khung đen sì đến vậy.

Con tàu tiến từ từ như đang mò mẫm trong hoàng hôn đen kịt màu than, dưới một mặt trời không còn chói mắt. Họ đã quen với kiểu con tàu chạy ngập ngà ngập ngừng, với bầu trời đầy tiếng máy bay rú rít. Và cả với tiếng huýt chói tai phía trên toa tàu tiếp theo loạt đạn xia xuống nóc toa.

Trong khi rời thành phố cháy thành than, họ hắt gặp đống hài cốt một đoàn tàu bị bom đánh vỡ toác. Nhiều toa đổ nghiêng trên nền đường, các toa khác đâm lồng vào nhau dữ dội, nằm ngổn ngang trên đường sắt. Mấy cô y tá, mụ mị đi vì cảm thấy bất lực trước số nạn nhân quá lớn, đi men dọc đoàn tàu. Phía trong các toa tối đen thấy loáng thoáng những hình người, đôi khi một cánh tay lủng lẳng bên cửa sổ vỡ. Mặt đất phủ đầy hành lý rải rác. Lạ lùng nhất là có hàng mớ búp bê nằm lăn lóc trên tà vẹt và trong cỏ... Một trong các to vẫn đứng trên đường ray mang chiếc biển tráng men ghi nơi đến. Bàng hoàng bà Charlotte nhận ra chính là đoàn tàu mấy mẹ con bị nhỡ hồi sáng. Phải rồi, cái chuyến tàu cuối cùng đi về phía Ðông, đã khởi hành đúng theo giờ giấc trước thời chiến.

Lúc đêm sắp buông xuống, tàu lao nhanh hơn. Bà Charlotte cảm thấy con gái ép sát vào vai mình run rẩy. Bà liền đứng dậy để lôi chiếc va ly to đang lót ngồi. Phải chuẩn bị cho ban đêm, lẩy quần áo ấm và hai túi bánh quy ra. Bà mở nắp, khuơ tay vào va ly chợt sửng sốt, không kìm được tiếng kêu khiến chung quanh tỉnh thức.

Va ly chứa đây báo cũ! Trong cơn hoảng hốt sáng nay, bà đã xách nhầm chiếc va ly Xibêri.

Như không tin ở mắt mình, bà rút ra một tờ giấy ố vàng và trong ánh sáng hoàng hôn mờ xám, đọc thấy: “Các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ không phân biệt chính kiến đã sốt sắng đáp lời triệu tập của ông Loubet và ông Brisson... Các vị đại diện thuộc các viện lớn Quốc gia tụ hội trong phòng lớn Murat...”

Như kẻ mộng du, bà Charlotte đậy va ly, ngồi xuống vừa nhìn chung quanh vừa khẽ cựa quậy đầu như muốn gạt bỏ một sự hiển nhiên.

- Con có chiếc áo khoác cũ trong túi của con ấy…Với lại lúc đi con có nhặt thêm cái bành mì trong nhà bếp...

Bà nhận ra tiếng con trai. Chắc nó đã đoán được bà đang hoang mang.

Đêm, bà Charlotte thiếp đi chốc lát, vừa đủ mơ một giấc mơ ngắn, trộn lộn những âm thanh sắc màu xưa cũ… Ai đó trong lúc lẻn đi ra, làm bà thức giấc. Tàu đã đứng dừng ở giữa một cánh đồng. Không khí ban đêm ở đây không đến nồi dặc đen như trong thành phố nơi họ vừa trốn chạy. Cánh đồng trải rộng phía ngoài khung chữ nhật mờ mờ chiếc cửa ra vào để mở, nom vẫn giữ cái màu xám tro những đêm phương Bắc. Khi mắt đã quen bóng tối, bà nom thấy bên đường tàu, dưới lùm cây, hình bóng một ngôi nhà isba đang yên giấc. Và phía trước, trong bãi có chạy dọc đường tàu, bà thấy một con ngựa. Tất cả đều im ắng đến nỗi nghe rõ tiếng có bị rựt roàn roạt và tiếng vó ngựa dẫm êm êm trên đất ẩm. Với một tâm trạng thanh thản pha chút chua chát khiến chính mình cũng ngạc nhiên, bà Charlotte nghe một ý nghĩ rõ rệt nẩy sinh và vang lên trong óc: “Đã có cái cảnh địa ngục các thành phố bốc cháy và vài tiếng đồng hồ sau - là con ngựa đang ăn cỏ đẫm sương này, trong hơi mát ban đêm. Đất nước này ta rộng vô cùng, chúng nó chẳng thể thắng nổi đâu. Cái vắng lặng cánh đồng vô tận này sẽ kháng cự lại được với bom đạn của chúng…”

Chưa bao giờ bà cảm thấy gần gũi với mảnh đất này đến vậy.

Những tháng chiến tranh đầu tiên, giấc ngủ bà luôn bị xuyên qua bởi cuộc diễu hành dài dằng dặc những thân thể què cụt do bà chăm sóc mười bốn tiếng mỗi ngày. Trong thành phố này, cách xa mặt trận một trăm cây số, người ta chở từng đoàn xe đầy ắp thương binh về. Bà Charlotte thường theo bác sĩ ra ga đón các chuyến tàu chở những khối thịt da bầm giập. Bà lại có dịp nom thấy, trên đường tàu chạy song song, một chuyến tàu khác đầy tân binh mới vừa được động viên đang tiến về phía ngược lại, ra mật trận.

Ðiệu quay tròn các thân thể què cụt vẫn không ngừng ngay cả trong giấc ngủ. Chúng xuyên qua các giấc mơ, tụ hội nhau nơi biên giới hằng đêm của bà và chờ đợi bà: anh lính bộ binh trẻ kia hàm dưới vỡ nát và lưỡi thè trong mớ bông băng bẩn thỉu, anh khác - không mắt, không mặt mũi... Nhưng nhất là cái đám thương binh ngày càng đông mất tay chân - những thân mình khủng khiếp không có các chi, ánh mắt như mờ mịt vì đau đớn và tuyệt vọng.

Vâng, nhất là những con mắt kia đã xé toang bức màn mỏng mảnh giấc mơ của bà. Chúng làm thành những ngôi sao lóng lánh trong bóng tối, theo bà khắp nơi, lặng lẽ trò chuyện với bà.

Một đêm (những đoàn xe tăng dài vô tận đi qua thành phố) giấc ngủ của bà chập chờn hơn bao giờ hết - một loạt quãng thiêm thiếp ngắn rồi giật mình tỉnh thức giữa tiếng bánh xích nghiến răng rắc nghe như tiếng cười. Chính là trên cái phông nhợt nhạt một trong những giấc mơ như vậy mà bà Charlotte bắt đầu nhận ra những chùm con mắt kia. Ðúng, bà đã thấy chúng một ngày nào đó trong một thành phố khác. Trong một cuộc đời khác. Bà thức giấc, ngạc nhiên chẳng nghe thấy một tiếng ồn nào. Ðoàn tăng đã đi khỏi phố. Cái im lặng khiến ù ù đinh tai. Và trong bóng tối dày đặc câm lặng, bà nom thấy lại mắt những người bị thương hồi Ðại Chiến. Cái thời ở bệnh viện Neuilly bỗng nhiên xích gần lại. “Cứ như mới hôm qua”, Charlotte nghĩ.

Bà đứng dậy đi ra cửa số để khép một lá cửa con. Tay bà dừng lại nửa chừng. Cơn bão trắng (trận tuyết rơi đầu tiên của cái năm chiến tranh đầu tiên này) bay từng luồng lớn phủ lên mặt đất vẫn còn đen sẫm. Bầu trời bị nhào trộn trong những làn sóng tuyết thu hút tầm nhìn vào những cõi sâu náo động. Bà nghĩ đến cuộc sống những con người. Ðến cái chết của họ. Đến sự hiện diện nơi nào đó dưới bầu trời hỗn độn này của những sinh vật không tay không chân, đến cặp mắt họ mò trừng trừng trong đêm tối.

Cuộc sống hiện ra như một chuỗi đơn điệu những cuộc chiến tranh, một công việc băng bó liên miên vô tận những vết thương luôn luôn mở hoác. Và tiếng ầm ầm sắt thép trên mặt đường... Bà cảm thấy một bông tuyết bám trên cánh tay. Vâng, những cuộc chiến không dứt, những vết thương, và giữa mọi cái đó. Trong niềm chờ đợi âm thầm, cái khoảnh khắc tuyết rơi đầu tiên này.

Ánh mắt những thương binh trong giấc mơ của bà chỉ xóa mờ đi hai lần trong thời chiến tranh. Trước hết là lần cô con gái mắc bệnh, với chấy rận và phải kiếm cho được bằng bất cứ giá nào bánh mì và sữa (cả nhà mấy tháng nay ăn toàn vỏ khoai). Lần thứ hai, khi bà nhận được giấy báo tử... Sáng đến bệnh viện, bà ở lại đấy suốt đêm, hy vọng mệt nhoài làm cho mê đi, vì sợ phải về nhà, gặp các con, nói chuyện với chúng. Cuối cùng khoảng nửa đêm bà đến ngồi cạnh lò sưởi, đầu tựa vào tường, nhắm mắt và ngay tức khắc đi vào một đường phố... Bà nghe cái vang động buổi sáng trên vệ hè, thở làn không khí soi rọi bằng một mặt trời nghiêng nghiêng nhợt nhạt. Đi trong cái thành phố còn đang mê ngủ này, cứ mỗi bước bà nhận ra cái địa hình quen thuộc của nó: tiệm cà phê nhà ga, nhà thờ, quảng trường chợ... Bà cảm thấy một niềm vui kỳ lạ đọc các tên phố, nhìn ánh phản chiếu các cửa sổ, tán lá trong công viên nhỏ sau nhà ga. Một người đi cạnh yêu cầu bà dịch hộ một tên phố. Lúc bấy giờ bà đoán ra cái gì đã khiến bà vui sướng đến vậy trong cuộc đi dạo trong thành phố lúc sáng sớm...

Bà Charlotte ra khỏi giấc ngủ trên môi còn giữ cái mấp máy những lời cuối vừa nói ở nơi ấy. Và khi chợt hiểu ra điều khó tin của giấc mơ - bà cùng Ông Fiodor đi trong một thành phố Pháp vào một sớm thu trong trẻo, khi bà thấm thía tính hư ảo tuyệt đối của cuộc đi dạo này (kể ra cũng đơn giản biết bao), bà rút từ túi ra một mảnh giấy nhỏ hình chữ nhật và đọc lại lần thứ một trăm cái chết in bằng chữ mơ mờ và tên ông chồng viết hằng mực tím. Có ai lại đã gọi bà từ đầu kia hành lang. Đoàn xe nữa chở thương binh sắp về.

Đám khách khứa nói về chuyện ấy với một vẻ bất cần kỳ cục, vừa đùa cợt vừa xen chua chát.

Kể lại cuộc đời bà Charlotte với họ cũng là một cách tránh giãi bày những vết thương, những khổ đau của chính họ. Nhất là vì bệnh viện của bà, trong khi giải quyết cho hàng trăm binh sĩ đến từ mọi mặt trận, đã cô đọng lại biết bao số phận nhiều không kể xiết, dồn tụ lại biết bao câu chuyện riêng tư.

Chẳng hạn người lính nọ, khiến tôi luôn luôn bị ấn tượng bởi cái cẳng chân nhồi... gỗ của anh ta. Một mảnh đạn cắm vào đuôi đầu gối đã đập vô chiếc thìa gỗ anh vốn đắt trong ống giày ủng. Vết thương không có gì trầm trọng nhưng phải gắp bằng hết các mảnh ra. “Bằng hết các giằm”, như bà Charlotte nói.

Một thương binh khác suốt ngày rên rẩm là cẳng chân bó bột ngứa “cứ như bị rút từng khúc ruột”. Anh ta quằn quại gãi vào cái mai rùa trắng cứ như móng tay có thể cào vào tận vết thương, van vỉ: “Bóc ra cho tôi. Như tra tấn ấy không chịu nổi! Bóc ra, không có tôi lấy dao đập vỡ cho mà xem!” Ông bác sĩ trưởng bận cầm dao mổ suốt mười hai giờ một ngày chẳng chịu để lọt tại, cho là một thằng cha tính hay ca cẩm. Chính bà Charlotte đã thuyết phục được ông thử rạch một khe be bé trong lần thạch cao. Thế rồi cũng chính bà dùng cái cặp nhỏ gắp ra từ lớp thịt máu me những con dòi, và rửa vết thương.

Nghe kể vậy, mọi chuyện đều khiến tôi phẫn nộ. Người tôi rùng mình kinh tởm trước hình ảnh sự tan rã kia. Tôi cảm thấy rất cụ thể trên làn da mình cái chết đang sờ tay vào.

Mắt mở to, tôi quan sát đám người lớn mà các mẩu chuyện kia, theo họ tất cả đều giống hệt như nhau thôi, khiến họ vui vui: những mảnh gỗ trong vết thương, những con dòi...

Thế rồi lại có cái vết thương không chịu khép miệng. Thật ra nó đã đóng sẹo người lính vẻ bình tĩnh nghiêm túc, nằm yên trên giường, khác với các thương binh khác vừa mổ xong đã lê la khắp các hành lang. Ông bác sĩ cúi nhìn cẳng chân anh ta và lắc đầu. Dưới lần bông băng, cái vết thương hôm qua đã mọc da non lại cháy máu, hai mép sẫm bầm nom giống như mảnh đăng ten bị rách. “Kỳ quặc!” ông bác sĩ kêu lên, nhưng ông không thể dùng lại xem xét lâu hơn. “Thay lại băng đi!” ông vừa nói với bà y tá trực vừa len lói giữa các giường sát cạnh nhau... Chính đêm sau bà Charlotte vô tình bắt được quả tang anh thương binh. Các nữ y tá đều đi giày gót da gõ lên sàn tiếng cành cạnh vồi vội. Riêng bà Charlotte trong đôi giày khâu bằng nỉ di lại không tiếng động. Anh ta không nghe bà bước vào. Bà đi vào căn phòng tối, dừng ở cửa. Bóng người lính ngồi trên giường in rõ lên các ô kính sáng mờ mờ do có tuyết. Phải ít giây sau bà Charlotte mới đoán ra: anh lính đang dùng một miếng bọt biển cọ lên vết thương. Trên gối thấy cuộn bông băng anh vừa gỡ ra... Sáng bà kể lại chuyện với bác sĩ trưởng. Ông này, sau một đêm không chợp mắt, nhìn bà như qua làn sương mù, không hiểu. Rồi rũ cơn đờ đẫn, ném bằng giọng khàn khàn:

- Thế thì làm gì bây giờ mới được chứ? Tôi sẽ gọi điện thoại để đưa hắn đi. Đây là tội tự cắt cụt.

- Anh ta sẽ bị đưa ra tòa án quân sự …

- Thì sao? Hắn có đáng tội không, hả? Trong lúc bao người khác đang ngắc ngoải trong các hầm hào. Hắn... thằng đào binh!

Có một lát im lặng. Ông thầy thuốc ngồi xuống, xoa xoa mặt với hai bàn tay đầy thuốc đỏ.

- Hay là bó bột cho anh ta? Charlotte nói.

Gương mặt ông thầy thuốc hiện ra sau bàn tay trong một cái nhăn nhúm giận dữ. Ông đã mấp máy miệng. chợt nghĩ lại. Cặp mắt đỏ ngầu linh hoạt nhìn, ông mỉm cười.

- Vẫn lại cái chuyện bó bột của cô. Người này thì đập bột đi vì ngứa ngáy muốn kỳ cọ, người khác lại đắp hột vào để khỏi kỳ cọ ngứa ngáy. Cô thật là kỳ khôi có một, cô Charlota Norbertina ạ!

Trong giờ khám, ông xem xét lại vết thương và bằng giọng hết sức tự nhiên bảo cô y tá:

- Phải bó bột cho anh ta. Một lượt mỏng thôi. Giao cho có Charlota làm việc này trước khi về.

Hy vọng tại trở lại khi một năm rưỡi sau lần nhận giấy báo tử đầu tiên, bà nhận được giấy thứ hai. Ông Fiodor không thể bị giết hai lần, bà nghĩ, thế thì có lẽ ông còn sống. Cái chết kép kia trở thành một hứa hẹn sống sót. Bà Charlotte, không nói gì với ai, lại bắt đầu mong đợi.

Ông chồng trở về, không phải từ phía Tây vào đầu mùa hè như phần đông binh sĩ, mà từ Viễn Đông, vào tháng chín, sau khi Nhật Bản bại trận...

Saranza, từ là một thành phố kề mặt trận, lại biến thành nơ êm ả, trở về với giấc ngủ thảo nguyên, phía sau sông Vôn ga. Bà Charlotte sống ở đây một mình: anh con trai (cậu Serguei tôi) đã vào một trường học quân sự, chị em gái (mẹ tôi) – thì đi sang thành phố bên, cũng như các học sinh muốn tiếp tục việc học tập.

Vào một buổi chiều tháng chín ấm áp, bà ra khỏi nhà bước trong một đường phố vắng. Bà tính chuyện nhân trờ còn sáng hái ở phía rìa thảo nguyên ít ngọn thì là để muối. Lúc quay về bà nom thấy ông. Bà đang ôm một bó thì là dài đầu điểm những tán hoa vàng. Áo váy, thân thể bà đượm đầy vẻ thanh khiết của những cánh đồng vắng lặng và của làn ánh sáng óng ả buổi chiều tà. Ngón tay còn thơm mùi thì là và cỏ khô. Bà từng hiểu là cuộc sống này, mặc dầu bao nhiêu đau khổ, vẫn có thể sống được, và phải thong thả bước xuyên qua cuộc sống ấy bằng cách đi từ cảnh mặt trời tà này đến mùi vị thấm thía loài cây cỏ, từ vè bình lặng vô cùng của cánh đồng đến tiếng ríu rít một cánh chim đang hòa lẫn vào bầu trời, đúng vậy, bằng cách đi từ bầu trời này đến cái ánh phản chiếu sâu xa của nó mà bà cảm nhận trong lồng ngực như một sự hiện diện ân cần và sinh động. Vâng, quan tâm cả đến cái hơi nồng ấm của làn bụi con đường nhỏ dẫn đến Saranza...

Bà ngừng nhìn và nom thấy ông. Ông bước tới phía bà, ông vẫn còn ở xa, tận đầu góc phố. Giá như bà Charlotte đón ông nơi ngưỡng cửa, giá như ông đẩy cửa đi vào, như bà đã hình dung điều này từ bao lâu, như tất thảy các người lính đều làm khi từ chiến tranh trở về, trong đời sống thực hoặc như trong phim. Hẳn bà đã kêu lên một tiếng, lao tới bíu vào dây đeo súng ở ngực ông và khóc òa.

Nhưng ông hiện ra rất xa, để được nhận ra dần dần. Để cho vợ có thời gian tập làm quen với con đường lúc này đã thành không thể nhận ra do có bóng dáng một người đàn ông mà bà chú ý thấy nụ cười mập mờ lưỡng lự làm sao ấy. Hai người không chạy tới, không trao đổi lấy một lời, không ôm hôn nhau. Họ tưởng như đã bước tới nhau từ vạn cổ. Đường vắng, nắng chiều dát ánh vàng lên cành lá - nom trong veo không thực. Ðứng dừng cạnh ông, bà vợ khẽ huơ huơ bó cây. Ông gật gù như muốn nói: “Vâng vâng, tôi hiểu”. Vai ông không khoác quai súng, ngang người chỉ thắt chiếc thắt lưng da với cái vòng bằng đồng màu xỉn. Ðôi ủng đỏ quạch bụi đường.

Charlotte ở tầng trệt một ngôi nhà gỗ cũ kỹ. Năm này qua năm khác, từ một thể kỷ nay, mặt đất bồi lên từng ly một, nhà thì lún xuống, hóa nên của số chỉ cao hơn vỉa hè chút ít. Hai người lặng lẽ bước vào. Fiodor đặt cái túi trên ghế đẩu, muốn nói, nhưng không thốt lời nào, chỉ húng hắng ho, đưa tay lên che miệng. Bà Charlotte liền đi lo bữa ăn.

Bà bất chợt thấy mình đang trả lời những điều ông hỏi, trả lời mà không hề nghĩ (hai người nói chuyện bánh mì, phiếu phân phối, đời sống ở Saranza), đang hỏi ông có uống trà không, đang mỉm cười khi nghe ông nói phải mài lại tất cả mọi con dao trong nhà. Nhưng trong lúc tham gia câu chuyện đầu tiên còn ngập ngà ngập ngừng này, bà đang ở nơi khác. Ở một miền xa vắng mênh mông nơi vang lên những lời lẽ khác hẳn: “Người đàn ông tóc ngắn và như rắc phấn này là chồng ta. Ta không giáp mặt anh ấy đã bốn năm. Người ta đã chôn anh ấy hai lần - lần đầu trong trận chiến Mạc tư khoa rồi sau ở Ukren. Anh ấy đang đứng đó, anh ấy đã trở về. Ta phải khóc lên vì vui mừng mới phải. Ta phải... Tóc anh ấy đã hoa râm...” Bà đoán là cả ông nữa cũng đang ở cách xa cái câu chuyện tem phân phối. Ông trở về lúc pháo hoa mừng chiến thắng đã tắt từ lâu. Cuộc sống chảy theo dòng chảy hằng ngày của nó. Anh ấy về quá muộn. Như một người đãng trí được mời dự cơm trưa lại đến vào giờ ăn tối, bắt gặp bà chủ nhà đang chào từ biệt các khách khứa ra về muộn. “Chắc là anh ấy thấy mình già lắm”, đột nhiên bà nghĩ, nhưng cả đến ý nghĩ này cũng không phá vỡ được tâm trạng thiếu xúc động trong tim bà, nỗi dửng dưng khiến bà phân vân bối rối.

Bà chỉ khóc lúc nhìn thấy thân thể chồng. Sau bữa cơm bà đun nước, bê vào một chậu thiếc, cái chậu tắm của trẻ con đặt giữa phòng. Ông Fiodor co rúm trong cái chậu màu xám đáy bị thủng vỡ răng rắc dưới chân. Và trong khi rót dòng nước nóng lên người ông chồng đang vụng về kỳ cọ vai ngực, bà Charlotte bật khóc. Nước mắt chảy ròng ròng trên khuôn mặt bà bất động và rơi xuống hòa lẫn với nước xà phòng trong chậu.

Thân hình ấy là thân hình một người đàn ông mà bà không hề biết. Một thân hình chi chít những vết sẹo, vết rạch dài - có chỗ rất, mép đùn thịt nom như cặp môi dày hám ăn, chỗ thì nhẵn bóng như vệt bò con ốc sên. Ở một bên xương bả vai, có một khoang hõm xuống – bà Charlotte hiểu là các mảnh nhỏ lăm nhăm đã gây nên vết cào cấu như vậy. Những vết khâu chỉ màu hồng bọc quanh một bên bả vai, khuất dần trên ngực...

Qua nước mắt bà nhìn căn phòng như mới thấy lần đầu: chiếc cửa sổ ngang sè: mặt đất, bó thì là tưởng như đến từ một thời kỳ khác của đời mình, chiếc ba lô lính trên ghế đẩu cạnh cửa ra vào, cặp ủng to đầy bụi màu đỏ. Và dưới chiếc bóng điện trần trụi mờ xỉn, giữa cái căn phòng một nửa vùi trong đất - cái thân hình khó nhận ra này, cứ như thể bị nghiền trong bánh răng cưa cỗ máy. Có những tiếng đượm ngạc nhiên hiện ra trong đầu mà bà không hay. “Ta, Charlotte Lemonnier, ta đang ở đây, trong cái nhà gỗ vùi lấp trong đám cỏ thảo nguyên, với người đàn ông này, cha những đứa con ta, người đàn ông mà ta yêu thương xiết bao... Ta, Charlotte Lemonnier …”.

Một bên lông mày Ông Fiodor mang một vết chém. rộng màu trắng bệch, vết chém nhạt đầu, chắn ngang trán. Luồng nhìn của ông do đó vẻ như luôn luôn ngạc nhiên. Cứ như ông không thể quen được với cảnh sống thời hậu chiến.

Ông sống không đầy một năm... Sang mùa đông, hai ông bà dọn đến một căn phòng nơi mà thời còn bé chúng tôi về ở với bà Charlotte mỗi mùa hè. Ông bà cũng không kịp sắm xoong nồi mới và bát đĩa. Ông Fiodor cắt hành với con dao mang từ mặt trận về - làm bằng chiếc lưỡi lê mài lại...

Nghe chuyện người lớn kế, tôi hình dung cảnh ông chúng tôi trong thời gian trở về gặp lại gia đình ngắn ngủi lạ thường ấy như thế này: một người lính bước lên tam cấp ngôi nhà gỗ, ánh mắt anh đắm chìm trong ánh mắt vợ, và anh chỉ còn kịp nói: “Anh đã về, em thấy đấy...”, trước khi ngã xuống và qua đời do các vết thương.

à Văn Năm xuất bản: 1998 Số trang: 320 Khổ sách: 13 x 19 cm Đánh máy: Thái Thanh, Diệu Linh, Đặng Mùi, Thùy An, Ngọc Nở, Tuyết Anh Kiểm tra: Nguyễn Thanh Chế bản ebook: Thảo Đoàn Ngày thực hiện: 28/08/2011 Making Ebook Project #169 - www.Bo
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Andrei Makine

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.