Di Chúc Pháp

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

3

Nước Pháp năm ấy, bao quanh tôi trong cảnh sống đơn độc tận cùng và cần cù tìm hiểu. Cuối hè, tôi từ Saranza trở về thành phố Nga bên sông Vôn ga, như một nhà thám hiểm trẻ với ngàn lẻ một khám phá trong hành lý – từ chùm nho của Proust tới tấm biển ghi cái chết bi thảm của ông tước Orléans. Vào mùa thu và nhất là mùa đông, tôi biến mình thành một anh cuồng si học đòi trò uyên bác,một anh nhân viên lưu trữ nhặt nhạnh như điên mọi chỉ dẫn về cái đất nước mà anh ta chỉ mới năm được sơ sơ điều bí mật qua cuộc tham quan mùa hè.

Tôi tìm đọc tất cả những gì lý thú nới về nước Pháp mà thư viện nhà trường chúng tôi có. Tôi thọc sâu vào các giá sách rộng lớn hơn của thư viện thành phố. Đối lập với các câu chuyện chấm phá ấn tượng chủ nghĩa của bà Charlotte, tôi muốn xây dựng một công trình nghiên cứu có hệ thống, đi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ một vua Louis sang ông vua tiếp theo. Từ một nhà tiểu thuyết sang các đồng nghiệp của ông, đệ tử hoặc người học đòi bắt chước.

Những ngày mài miệt giữa các lối đi nhằng nhịt bụi bặm đầy sách hẳn là chúng tương ứng với một kiểu sống tu hành mọi người đều có ở cái tuổi này. Người ta tìm sự thoát ly trước khi bị cuốn vào khớp răng cửa của đời sống người lớn, người ta một mình tưởng tượng ra nhũng trò phiêu lưu tình ái sắp tới. Cảnh chờ đợi này, cảnh sống ở ẩn này, mau chóng trở thành nặng nhọc. Do đó mới có kiểu sống tập thể lúc nha lúc nhúc mang tính bộ lạc của thanh niên – tâm trạng háo hức không chờ đến tuổi mà muốn đóng ngay các kịch bản của xã hội người lơn. Hiếm có những kẻ ở tuổi mười ba mười bốn biết chống lại các trò chơi vai diễn kiểu như vậy áp đặt cho những con người thích cô đơn hoặc trầm tư, do thói tàn ác và không khoan dung của những kẻ đồng lứa hôm qua vốn là những đứa trẻ…

Chính nhờ việc chăm chú tìm hiểu nước Pháp mà tôi bảo vệ được kiểu sống cô đơn lúc đang tuổi thanh niên.

Cái xã hội thu nhỏ gồm bọn bạn học biểu lộ đối với tôi khi thì một thái độ đàn anh vẻ không thèm đếm xỉa (tôi là thằng “non choẹt”, không hút thuốc, không kể những chuyện bậy bạ lấy nhân vật chủ yếu là bộ phận sinh dục nam nữ), khi thì một hành động vào hùa khiêu khích dữ dội khiến tôi sửng sốt: tôi cảm thấy mình rất ít khác kẻ khác, mình không xứng dáng bị coi như thù địch đến vậy. Quả thật là tôi không ca ngợi hết lời những phim được cái xã hội mini này bình luận trong giờ ra chơi, tôi không phân biệt các câu lạc bộ bóng đá mà chúng là những cổ động viên hăng hái. Sự kém hiểu biết này làm chúng tức giận, coi như là thách thức. Chúng tấn công bằng chế giễu,bằng quả đấm. Chính trong mùa đông này tôi bắt đầu biện biệt ra một cái chân lý đầy hoang mang: mang trong mình cái quá khứ kia, thả hồn mình trong cái Atlantide hoang đường kia, đâu phải là vô tội. Phải, quả đúng làm một thách thức, một sự khiêu khích trước mắt những kẻ sống với hiện tại. Một hôm tức mình vì bị chúng ăn hiếp, tôi làm ra vẻ quan tâm đến tỷ số trận đấu bóng vừa rồi và chen vào câu chuyện của chúng, tôi kể tên mấy cầu thủ vừa học nhẩm tối qua. Nhưng bọn chúng đánh hơi ra trò gian lận. Cuộc tranh cãi chấm dứt. Cái xã hội mini giải tán. Tôi được hưởng vài ba ánh mắt hầu như thương hại. Và càng cảm thấy tự ti.

Sau cái trò thử thảm hại ấy, tôi càng lún sâu vào công việc tìm kiếm và đọc sách. Những ánh hồi quang thấp tha thấp thoang miền đất Atlantide trong dòng thời gian chẳng còn làm tôi thỏa mãn. Từ nay, tôi thiết tha muốn biết chiều sâu tâm tư lịch sử của nó. Đi lang thang trong những hang động của thư viện cổ thành phố, tôi cố tìm hiểu tại sao lại có cuộc hôn nhân kỳ cục giữa vua Henri đệ nhất và công chúa Nga AnnaTôi muốn biết bố cô ta, ông Jaroslav hiền minh nổi tiếng đã cho cô bao nhiêu làm của hồi môn. Và cách thế nào mà ông đưa được từ Kiev những đàn ngựa cho anh con rể Pháo bị bọn thù địch tấn công. Và Anna Jaroslavna hằng ngày tiêu khiển cho qua thì giờ như thế nào trong tòa lâu đầu âm u kiểu Trung cổ nơi cô ta luyến nhớ biết bao những nhà tắm Nga… Tôi không còn thỏa mãn với câu chuyện bi thảm miêu tả cái chết của công tước Orléans dưới cửa sổ người đẹp Isabeau. Không, giờ đây tôi lao mình đuổi theo kẻ sát nhân, cái anh chàng Jean sans Peur mà tôi phải lần tìm lên dòng dõi, kiểm chứng lại mọi chiến công, phục hồi lại trang phục và vũ khí, soát lại vị trí các mảnh đất phong … Tôi nghiên cứu tại làm sao các sư đoàn tướng Grouchy đến chậm, vài giờ thôi mà gây nguy hại chết người cho Napoléon ở Waterlo…

Dĩ nhiên thư viện thành phố, bị ý thức hệ chỉ phối, gồm những loại sách phân định rất không đồng đều: tôi chỉ tìm thấy một cuốn về thời vua Louis Mười Bốn, trong khi ở tủ bên cạnh có tới vài chục cuốn dành cho Công xã Paris và mười hai cuốn cho sự thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Thế nhưng, vốn ham hiểu biết, tôi biết cách làm thất bại cái thủ thuật lịch sử kia. Tôi hương sang văn học. Các nhà cổ điển lớn của Pháp có mặt ở đó và ngoài vài ba vị đày biệt xứ như Restif de La Bretonne, Sade hoặc Gide, nói chung họ thoát được vòng kiểm duyệt.

Tuổi trẻ kèm với sự thiếu kinh nghiệm biến tôi thành một kè bái vật giáo: tôi sưu tập hơn là đi sâu tìm hiểu gương mặt thời gian lịch sử. Tôi lục tìm chủ yếu những mẩu chuyện vặt giống như các mẩu chuyện người hướng dẫn kể cho khách du lịch trước các công trình nghệ thuật hoặc phong cảnh. Trong sưu tập của tôi có chiếc gi lê đỏ Thesophile Gautier mặc hôm biểu diễn đầu Hernani, những chiếc gậy của Balzac, chiếc điếu ông của George Sand và cảnh bà bày phụ bạc Musset trong vòng tay ông thầy thuốc coi như đang chữa bệnh cho nhà thơ. Tôi thán phục thái độc lịch sự của bà khi bà tặng cho người tình đề tài vở Lorenzac – cio. Tôi không chán mắt đọc đi đọc lại các trường đoạn đầy hình ảnh mà trí nhớ tôi quả rất lộn xộn ghi lại.

Chẳng hạn cảnh Victor Hugo, vị lão trưởng tóc ngà hoa râm và nét mặt u sầu, gặp Leconte de Lisle dưới vòm lá trong một khu vườn. “Ông biết tôi đang nghĩ gì không?” Lão trưởng hỏi. Và trước vẻ lúng túng của người đối thoại, ông tiếp, giọng khoa trương: “Tôi nghĩ sẽ nói gì với Chúa khi tôi về với nước Chúa, có thể là cũng chẳng bao lâu nữa đâu…” Và Leconte de Lisle, vẻ vừa châm biến vừa tôn kính, bèn đáp giọng tin tưởng: “Vâng, cụ sẽ nói: Bạn đồng nghiệp thân mến...”)

Điều ngược đời, chính một thằng cha chẳng biết gì về nước Pháp, chưa hề đọc cuốn sách nào của nhà văn Pháp, một thằng cha học dốt, không biết chỉ vị trí nước này trên bản đồ, tôi chắc vậy, vâng, chính hắn đã vô tình giúp tôi thoát khỏi thói sưu tập mẩu chuyện bằng cách hướng sự tìm tòi của tôi sang một ngả hoàn toàn mới. Tên hắn là Pachka. Cái xã hội mini lớp chúng tôi tỏ ra coi thường hắn cũng bằng như coi thường tôi, nhưng vì những lý do khác hẳn. Chúng ghét hắn vì hắn phản chiếu lại cho chúng một hình ảnh rất phiền chán về người lớn. Hơn chúng tôi hai tuổi, tức là ở giữa cái tuổi mà bọn học sinh nhấm nháp trước các thứ tự do, thằng bạn lười học của tôi cũng chẳng hề biết lợi dụng điều đó. Thằng Pachka sống lối sống của những anh mu gich kỳ quặc vẫn giữ trong mình một phần trẻ nít cho đến khi chết, điều hết sức tương phản với cái vẻ ngoài man rợ và trai tráng của chúng. Chúng khăng khăng trốn bỏ thành phố xã hội, tiện nghi, hòa tan vào núi rừng và hoặc làm thợ săn hoặc đi lang thang, thường kết thúc cuộc đời luôn trong đó. Thằng Pachka mang theo vào lớp mùi cá, mùi tuyết và lúc thời tiết ấm lại, mùi đất chó. Suốt ngày hắn lội bì bõm dọc sông Vôn ga. Và nếu hắn đến trường là để mẹ hắn khỏi phiền lòng. Bao giờ cũng đến muộn, chẳng thèm để ý những ánh mắt khinh khi của bọn bạn sắp thành người lớn, hắn đi ngang qua lớp học và luồn vào sau bàn học tận cuối lớp. Bọn học trò cố ý khịt khịt mũi ầm ĩ khi hắn đi qua, cô giáo thở dài ngước mắt lên trời. Mùi tuyết và mùi đất thó dần dà tỏa đầu phòng học. Lâu dần cái cương vị chung là hạng tiện dân trong quần thể lớp học gắn bó hai đứa chúng tôi với nhau. Chẳng hề là bạn thân theo đúng nghĩa, chúng tôi chú ý đến cảnh cô đơn của nhau, thấy ở đó như một dấu hiệu để nhận ra nhau. Từ đó tôi thường hay đánh bạn với Pachka trong các cuộc xuất hành đi câu cá. Hắn dùng một cái khoan quay tay thật khỏe khoan trong tảng băng, thả dây câu vào và đứng lặng phắc trên cái lỗ hổng tròn qua đó nom thấy được chiều dày tảng băng màu xanh nhạt. Tôi hình dung con cá phía dưới cái đường hầm hẹp có khi dài một mét, mon men đến bên chiếc mồi … Những chú mang giổ lưng vằn, những chú cá măng có chấm, những chú cá gạc đuôi đỏ thắm vụt xuất hiện từ lỗ khoan và được gỡ khỏi lưỡi câu, vứt trên tuyết. Sau ít cái cựa quậy, thân chúng cứng đờ, lạnh cóng trong giá buốt, vây sườn của chúng phủ đầy tinh thể nom như những viên ngọc lung linh trên mũ miện. Chúng tôi ít trò chuyện. Cảnh yên bình mênh mông trên những cánh đồng phủ tuyết, giấc ngủ sâu của dòng sông lớn khiến mọi lời nói là thừa.

Đôi khi thằng Pachka, để tìm nơi nhiều cá hơn, mạo hiểm đến gần những tảng băng dài màu sẫm, ướt át, bị dòng nước xói … Nghe tiếng vỡ răng rắc tôi quay lại thấy thằng bạn đang vẫy vùng trong nước, tay xòe rộng cố bíu vào mặt tuyết lổn nhổn. Tôi liền chạy tới cách cái đoạn nứt rạn vài mét và nằm bẹp xuống ném cho hắn múi khăn quàng. Thường thì Packa thoát mà không cần tôi giúp đỡ. Như con cá heo, hắn cố vọt khỏi mắt nước và ngã xuống, ngực đập lên tuyết, bò bò vẽ một vệt dài ướt sũng. Nhưng đôi khi, hắn cốt làm tôi vui long, hắn túm lấy khăn để tôi lôi lên.

Sau một phen giầm nước như thế, hai chúng tôi đi về phía một trong những cái sườn thuyền nát mà người ta thấy nằm chơ chỏng giữa những đống tuyết bị gió đồn. Chúng tôi nấp trong lòng thuyền cháy đen chụm một đống lửa lớn. Pachka lột đôi ủng nỉ to kềnh, chiếc quần lót bông, đặt cạnh lửa rồi gác chân trần trên tấm ván, hắn bắt đầu nướng cá.

Ngồi quanh ngọn lửa củi kia chúng tôi chuyện trò rôm rả hơn. Hắn kể tôi nghe những chuyến đi câu đáng ghi nhớ (con cá quá to không lọt qua được cái lỗ do cần quay tay đục!) những vụ tan băng khủng khiếp, bao nhiên tảng băng vỡ ầm ầm vừa trôi vừa kéo theo nào thuyền, nào cây đổ và thậm chí cả những căn nhà gỗ có con mèo bám trên mái… Tôi thì kể với hắn về những trò phi ngựa thi đấu thương (tôi vừa biết rằng các hiệp sĩ ngày xưa, thi xong cất mũ dấu, mặt mày chảy ròng ròng những vết gỉ: sắt trộn với mồ hôi; không hiểu tại sao những tình tiết này khiên tôi khoái chí hơn cả trò thi đấu…), phải, tôi nói với hắn về những nét hùng tráng kia tô đậm thêm bởi những dòng mồ hôi nâu, và về chàng dũng sĩ trẻ thổi tù và ba lần gọi quân cứu viện. Tôi biết thằng Pachka đông cũng như hè thường tung tẩy ngang dọc bờ sông Vôn ga, bụng thầm mơ về những miền khơi xa. Tôi sung sướng tìm được cho hắn trong bộ sưu tập miêu tả cảnh vật lộn xộn ghê gớm giữa một anh dân chài và con bạch tuộc khổng lồ. Và vì kho uyên bác của tôi chủ yếu nuôi dưỡng bằng mẩu chuyện, tôi kể cho hắn nghe một chuyện rất phù hợp với thú mê say của hắn cũng như với cảnh hai đứa đang trú đậu trong sườn chiếc thuyền nát. Ngày xưa ở một quãng biển nguy hiểm, một thuyền chiến Anh gặp một tàu Pháp và trước khi lao vào cuộc quyết chiên, viên thuyền trưởng Anh bắc tay làm loa gọi sang phía những kẻ thù truyền kiếp: “Các ông, người Pháp, các ông chiến đấu vì tiền. Còn chúng tôi, thần dân của Hoàng hậu, chúng tôi chiến đấu vì danh dự!” Thế rồi, từ phía tàu Pháp, người ta nghe lẫn trong hơi gió mặn tiếng thốt lên vui vẻ của thuyền trưởng: “Đúng thế. Mỗi người chiến đấu vì cái mà anh ta không có, thưa ngài!”

Một hôm thằng Pachka suýt chết đuối thật sự. Cả một tảng nước đá to tướng lật úp dưới bước chân – bấy giờ thời tiết đang ấm lại. Chỉ còn cái đầu lòi khỏi mặt, rồi đến một cánh tay chới với tìm chỗ bíu không hề có. Hắn vùng lên rất dữ, trườn được ngực lên tảng băng nhưng mặt băng xốp liền vỡ ra dưới sức nặng cả người hắn. Dòng nước đã cuốn hai cẳng chân hắn mang ủng sũng đầy nước. Không còn kịp cởi khăn quàng cổ, tôi nằm bẹp xuống tuyết, trườn tới, giơ tay với. Chính lúc ấy tôi thấy trong mắt hắn thoáng một ánh kinh hoàng… Tôi cứ tưởng hắn sẽ thoát mà không cần tôi giúp, hắn dày dặn quá rồi, quá gắn liền với mọi sức mạnh của thiên nhiên nên đâu có chịu để chúng khuất phục. Thế nhưng lần này hắn chấp nhận bàn tay tôi mà không có cái mỉm cười thường lệ.

Mấy phút sau, lửa bùng lên và Pachka, hai cẳng chân trần, người bận độc chiếc pun đài tôi cho mượn chờ quần áo hắn khô, nhảy nhót loăng quăng trên tấm ván bị ngọn lửa liếm. Bằng những ngón tay đỏ bầm sây sướt, hắn nhào cục đất thó rồi bọc con cá vào trước khi đặt lên than hồng… Chung quanh chúng tôi là giải sa mạc trắng xóa sông Vôn ga đóng băng, những cây liễu cành lá thanh mảnh run rẩy làm thành một dãy bờ bụi loáng thoáng dọc bờ, và chiếc thuyền cũ nát vùi trong tuyết mà chúng tôi gỡ ít thanh làm củi cho đống lửa hoang dã. Ánh lửa bập bùng dường như khiến cho hoàng hôn dày đặc hơn, cảm giác về cái tiện nghi chốc lát thêm thấm thía.

Vì sao hôm ấy tôi lại kể hắn nghe cái chuyện này chứ không phải chuyện khác? Hắn có một lý do gì đó, một đầu mối trò chuyện đã gợi cho tôi cái đề tài này… Đó là một chuyện tóm lược, rất ngắn thôi, về một bài thơ của Hugo do bà Charlotte kể cho tôi, thậm chí tôi cũng chẳng còn nhớ đầu đề… Ở một nơi nào đó cạnh những hàng rào chướng ngại dựng trên đường phố bị phá hủy, bọn lính xử bắn đám người khởi nghĩa, trong lòng thành phố Paris bất khuất, nơi phiến đã lát đường có cái khả năng kỳ lạ đột nhiên dựng thành chiến lũy. Một cuộc hành hình theo lề thói quen thuộc, tàn bạo, không thương tiếc. Đám nào người khởi nghĩa đứng áp lưng vào tường, nhìn thẳng một lát những nòng súng đang chĩa vào ngực họ, rồi ngước nhìn những đám mây bay lơ lửng trên trời. Và họ ngã xuống. Các bạn bè lại đứng thay vào đối mặt với bọn lính… Trong đám có một chú bé kiểu như Gavroche tuổi còn rất non trẻ, lẽ ra chúng phải khoan hồng mới phải. Không, than ôi! Viên sĩ quan ra lệnh cho nó đứng vào hàng những người đang đợi chết, trẻ con cũng có quyền chết như người lớn. “Chúng tao cũng sẽ bắn bỏ mày!” tên đao phủ chỉ huy lầu bầu. Nhưng một lát trước khi đến đứng vào tường, chú bé chạy tới viên sĩ quan và van vỉ: “Xin ông cho phép tôi mang cái đồng hồ quả quýt này về cho mẹ tôi. Mẹ tôi ở rất gần đây thôi, chỗ máy nước ấy. Tôi sẽ quay về, xin thề!” Cái trò lừa trẻ nít ấy cũng làm xúc động trái tim man rợ bọn lính. Chúng phá lên cười: “Ừ” chạy đi. Vù luôn đi, thằng nhãi ranh!” Bọn chúng vẫn còn cười trong khi lên đạn. Đột nhiên chúng im bặt. Chú bé hiện ra và đứng trước bức tường, cạnh những người lớn, ném một câu: “Có tôi đây!”

Suốt lúc tôi kể chuyện, Pachka vẻ như chẳng lắng nghe gì lắm. Hắn ngồi bất động, người cúi về phía lửa… Mặt hắn lấp dưới vành lưỡi trai bẻ sụp của chiếc mũ lông xùm xòa. Nhưng lúc tôi kể đến cảnh cuối, - chú bé quay lại, nét mặt xanh nhợt nghiêm trang, đứng thẳng người trước bọn lính – vâng, lúc tôi thuật lại lời cuối chú bé: “Có tôi đây!” Pachka giật thột, ngồi thẳng dậy… Và chuyện khó tin đã xảy ra, hắn nhảy lao qua mạn thuyền cứ thế chân trần lội trong tuyết. Tôi nghe một tiếng rên rỉ cố nén bị làn gió ẩm ướt thổi bạt đi nhanh chóng trên cánh đồng trắng xóa.

Hắn bước ít bước rồi đứng dừng lại, lún đến tận đầu gối trong một đống tuyết đồn. Ngạc nhiên quá, tôi đứng lặng một phút bất động trong chiếc thuyền nhìn theo gã thanh niên to lớn bận chiếc áo pun giãn dài gió thổi phồng như một áo vét len ngắn. Các mảnh che tai chiếc mũ lông khẽ phất phơ trong gió rét. Hai cẳng chân trần Pachka vùi trong tuyết khiến tôi nhìn cứ như mê đi. Chẳng còn hiểu gì hết, tôi nhảy ra khỏi thuyền đến gần hắn. Nghe tiếng chân tôi chạy trong tuyết hắn quay phắt lại. Mặt hắn nhăn nhúm khổ sở. Ngọn lửa nhóm trong thuyền hắt ánh vào cặp mắt hắn long lanh lên lạ thường. Hắn vội đưa ông tay áo dịu mắt. “Ái dà, khói quá!” hắn hấp háy mắt càu nhàu và không nhìn tôi, quay trở về thuyền.

Ở trong thuyền hắn vừa duỗi chân tê cóng về phía lửa vừa hỏi, giọng năn nỉ giận dữ:

- Rồi sau thế nào? Chúng nó giết thằng bé, đúng không?

Bị bất ngờ và không tim thất trong trí nhớ một điểm nào làm sáng rõ chuyện này, tôi ấp úng:

- Hơ… Tớ cũng không nhớ rõ …

- Thế nào, không biết hả? Nhưng cậu đã kể lại tất cả cơ mà!

- Ừ, nhưng mà trong bài thơ …

- Kệ mẹ cái bài thơ! Trong cuộc sống thực, chúng giết nó hay là không?

Mắt hắn nhìn tôi chằm chằm qua phía trên ngọn lửa, long lên sòng sọc. Giọng vừa gắt gỏng vừa van vỉ. Tôi thở dài, như thể xin lỗi ông Hugo và bằng giọng quả quyết, rành rọt, tôi nói:

- Không, chúng nó không bắn chú bé. Một viên đội trong đám nhớ đến thằng con mình ở lại làng. Hắn quát: “Đứa nào chạm đến thằng bé này ta sẽ cho biết tay!” Và tên sĩ quan đã phải thả thằng bé…

Pachka cúi mặt và cầm một cành cây mớ than đỏ để lấy con cá bọc đất ra. Chúng tôi lặng lẽ bóc cái vở đất nung cho bong ra cùng với vảy và chén món thịt cá mềm nóng sốt chấm với muối hạt.

Hai đứa cũng lặng lẽ như vậy lúc trời tối quay về thành phố. Tôi vẫn đang mang ấn tượng về cái điều thần diệu vừa xảy raCái phép lạ nó vừa chứng minh quyền lực tuyệt vời của ngôn ngữ thi ca. Tôi đoán đây chẳng hề là mưu mẹo ngôn từ hoặc là chuyện lắp ghép khéo léo từ ngữ. Không! Vì những từ ngữ của Hugo trước hết bị biến dạng qua chuyện kể từ lâu của bà Charlotte rồi lại qua bản tóm lược của tôi. Nghĩa là hai lần bị phản… Thế mà, câu chuyện này thực ra đơn giản biết bao, được kể lại cách xa hàng nghìn cây số nơi nó sinh ra, đã gây xúc động đến chảy nước mắt cho một anh chàng man rợ và đẩy anh ta trần truồng nhảy ra bãi tuyết. Trong thâm tâm tôi tự hào vì đã làm lóe lên một tia của cái ánh sáng tỏa rạng từ quê hương bà Charlotte.

Với lại, đêm nay, tôi chợt hiểu ra rằng chẳng phải nên sưu tầm các mẩu chuyện qua sách vở. Mà là một cái gì sâu xa hơn, và đồng thời, bội phần tự nhiên hơn: một sự hài hòa thông tuệ về cái hữu hình mà một khi được nhà thơ phát hiện, nó biến thành vĩnh cửu. Chưa biết cái đó gọi tên là gì, chính nó là cáu mà từ nay tôi sẽ đeo đuổi từ cuốn sách này đến cuốn sách khác. Về sau tôi sẽ biết tên nó: Văn phong. Và tôi sẽ chẳng bao giờ có thể chấp nhận dưới cái tên kia những trò tung hứng chữ nghĩa phù phiếm. Vì tôi sẽ thấy vụt hiện ra trước mắt cẳng chân tím ngắt của Pachka cắm trong đống tuyết, bến bờ sông Vôn ga, và những ánh long lanh phản chiếu ngọn lửa trong mắt hắn… Đúng thế, hắn đã xúc động về số phận của chú bé nổi loạn hơn là chuyện bản thân hắn suýt chết đuối trước đấy một giờ đồng hồ!

Khi từ biệt tôi ở một ngã tư ngoại ô nơi hắn ở, Pachka chìa phần cá cho tôi: mấy cái mai đất thó dài. Rồi giọng cụt ngủn, tránh nhìn vào mắt tôi, hắn hỏi:

- Thế cái bài thơ về những người bị xử bắn, có thể tìm ở đâu?

- Mai đến trường tớ sẽ đem cho cậu, chắc tớ có bản chép ở nhà.

Tôi nói liền một hơi, khó giấu nổi niềm vui. Hôm này là ngày hạnh phúc nhất tuổi thanh niên của tôi.

à Văn Năm xuất bản: 1998 Số trang: 320 Khổ sách: 13 x 19 cm Đánh máy: Thái Thanh, Diệu Linh, Đặng Mùi, Thùy An, Ngọc Nở, Tuyết Anh Kiểm tra: Nguyễn Thanh Chế bản ebook: Thảo Đoàn Ngày thực hiện: 28/08/2011 Making Ebook Project #169 - www.Bo
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Andrei Makine

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.